Hôm nay,  

Tình Yêu Muôn Thuở

07/01/202216:25:00(Xem: 5466)

Tản mạn
pcd

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi
-- TCS

Những ngày cuối năm nhiều kỷ niệm quá khứ vui buồn hiện về.  Tuy sức khỏe yếu kém tôi muốn viết để cảm tạ những người đã đi cùng tôi và Anh Phạm Cao Dương trong một đoạn đường đời, những người đã có ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời chúng tôi.


Cảm tạ Anh Lâm Thanh Liêm, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Đôn Phong, Phạm Đình Tiếu bạn học cùng lớp với Nhà Tôi tại Đại Học Sư Phạm Saigon. Anh Liêm, Anh Ngữ, Anh Tiếu, ba Nhà Giáo có công rất lớn với hai môn Sử Địa của Miền Nam Việt Nam đều đã ra đi vào miền viên miễn. Anh Ngữ và Anh Tiếu hai người bạn thuở sinh thời luôn luôn che chở chăm sóc chúng tôi như anh em trong nhà. Viết những dòng này tôi không dằn được nước mắt nghĩ tới hai Anh Tiếu và Anh Ngữ, hai người bạn thân thương của chúng tôi. Định mệnh khắc nghiệt đã khiến hai Anh bỏ chúng tôi ra đi rất sớm, ba thập niên rồi, năm 1992, Anh Tiếu ra đi bên Paris, Pháp, mấy tháng sau Anh Ngữ ra đi ở Montréal, Canada. 

Tôi xin cảm tạ những người đã ngồi chung với Nhà Tôi trong các lớp học, trong các giảng đường của Trường Võ Trường Toản, Trường Đại Học Sư Phạm , Trường Đại Học Văn Khoa, Trường Đại Học Vạn Hạnh Saigon cũng như tại Viện Đại Học Đà Lạt, Đại Học Huế. 


Các bạn của Anh Dương rất thương Anh nên cũng rất thân với tôi. Tôi nhớ những buổi chiều ba mươi Tết, chúng tôi thường tụ họp ở toà báo Trình Bày nơi mà Anh Ngữ, Sử Gia Nguyễn Khắc Ngữ, người đưa Nhà Tôi vào con đường viết lách, thường hay lui tới. 


Trước Biến Cố 30/4/ 1975 hai môn Sử Địa được phát triển mạnh ở Miền Nam Việt Nam do đó Nhà Tôi hằng tháng bay ra thỉnh giảng ở Đại Học Huế. Thường các giáo sư ra Huế thỉnh giảng thường ở lại ít nhất một ngày trước khi bay về lại Saigon nhưng Nhà Tôi thường bay về ngay có lẽ cũng chính vì vậy mà Anh không bị kẹt ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Sau này khi ra Huế dạy lại, Anh kể là chỉ có Anh và Cha Hoàng Quốc Trương ở trong khách sạn rộng lớn Morin, mỗi người một dẫy. Theo thời biểu Cha Trương dạy xong về trước, riêng Nhà Tôi còn lại một mình trong khách sạn cảm thấy rất lạnh lẽo,  ghê rợn với mấy ngôi mộ mới ngoài sân.  


Những đau khổ, oan khiên trong cuộc chiến Ba Mươi Năm 1945-1975 trên đất nước tôi, bao máu và bao nước mắt đã đổ, tiếp theo là cuộc di cư tị nạn đầy chết chóc đau thương sau biến cố 30 Tháng Tư 1975 với hơn nửa triệu bộ nhân, thuyền nhân  vùi thây trong rừng rậm, trong biển cả. Cũng như những cô giáo tị nạn khác tôi bị bứng ra khỏi cuộc đời công chức êm đềm tại miền Nam, bận rộn suốt năm tháng phải tự lập làm lại cuộc đời trên quê hương thứ hai mà cũng sẽ là nơi cuối cùng trước khi vĩnh viễn rời cõi tạm này. Được may mắn trở lại với phấn trắng bảng đen, mấy năm đầu thập niên 80, mỗi thứ Bảy tôi lại xin bà hiệu trưởng  cho mượn một phòng học để dạy tiếng Việt cho các em vì nhớ trước khi rời bỏ Học Khu Thống Nhất Oakland USD dọn xuống miền Nam California tôi từ giã một người supervisor, bà có ngậm ngùi nhắn nhủ tôi là tôi còn có thể may mắn trở về quê xưa vì còn nói được tiếng Việt, chứ bà ấy là người xa lạ nếu về nơi gốc xuất xứ vì không còn nói không hiểu được tiếng gốc của mình nữa!. Các con tôi lúc ấy còn rất nhỏ, nhưng Bố Mẹ thì ngoài thì giờ kiếm sống lại làm những việc gọi nôm na là “vác ngà voi” vì trong lòng, trong tâm tư chỉ nghĩ là tị nạn là tạm cư...  Bây giờ nhìn lại nhớ lại tình yêu thương được Ông Bà Cha Mẹ cho đôi khi tôi thấy mình thật là khiếm khuyết.  


Viết miên man về tình yêu, tình yêu muôn thuở nhưng có lẽ tình yêu quan trọng nhất trong đời người là Tình Cha, Tình Mẹ. Tôi vẫn nhớ mãi tấm thiệp được đọc “Thanks for The Gift of LIFE” mang bao ý nghĩa của ngày Mother’s Day – Ngày Của Mẹ...Ngày mà khi điện thoại viễn liên còn phải trả tiền là ngày các công ty điện thoại kiếm được nhiều tiền nhất trong năm vì ai mà không có MẸ!. Tưởng nhớ lại những lời yêu thương khi nằm trên giường bệnh, Mẹ tôi còn thiết tha thều thào nói với tôi, con gái nhỏ yếu đầu lòng mà Mẹ rất nuông chiều từ thuở mới sinh; “Vân ơi, Mẹ mong chết sớm để con khỏi khổ...”, viết đến đây tôi lại khóc, khóc vì nghĩ đã không làm tròn bổn phận săn sóc Mẹ. 

Ngày 31 tháng 12 năm 2021 Quý Anh Cựu Hội Trưởng Trần Bình Chánh và cũng là Cựu sinh viên Đại Học Vạn Hạnh  đại diện Trường Trung Học Võ Trường Toản Saigon đến tặng cho Thày Giáo Già Phạm Cao Dương tấm plaque thật nhiều ý nghĩa, 60 năm 1961-2021.  Võ Trường Toản là nhiệm sở toàn thời gian  đầu tiên của Ông Dương và Đại Học Sư Phạm Saigon là nhiệm sở toàn thời gian cuối cùng trước Biến Cố 30/4/1975. Sáu thập niên đã qua nhưng tôi biết trong tâm tư của Nhà Tôi lúc nào cũng hết lòng trân quý các kỷ niệm ở Trường Võ Trường Toản "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy"... bao kỷ niệm khi tóc còn xanh, nghị lực còn tràn đầy... viết đến đây tôi thật xúc động không cầm được nước mắt. Ân tình này chúng tôi xin mãi mãi ghi sâu trong tâm.


blank


Nhìn mái tóc bạc phơ của Nhà Tôi, tôi thương cảm người bạn đời, tuổi chỉ gần thập niên cách biệt nhưng với Anh, Nhà Tôi luôn coi tôi như cô em nhỏ vì có lẽ Anh không có em gái. Khi trẻ Anh hay huýt sáo, hay đọc thơ kim cổ cho tôi nghe vì Anh rất thuộc thơ, có lẽ còn thuộc  hơn nhiều người dạy Việt Văn nữa. Anh thường trầm ngâm kể cho tôi nghe về dĩ vãng về tuổi thơ tuổi trẻ cực nhọc, luôn luôn phải sống còn, phải ngoi lên. Anh kể về thời tản cư, bốn năm thất học, về lần cuối cùng Anh được gặp “Thày” khi đó Anh chưa tới tuổi lên mười. “Thày” Anh, vốn là một nhà giáo, một Đại Biểu Quốc Hội 1946 đã bị Việt Minh bắt và bị thủ tiêu không biết ngày nào và ở đâu. Anh không  bao giờ có một ngày giỗ cha! 


Những ngày mới gặp nhau Anh thường cho tôi đi uống nước dừa tươi bán trên các xe lưu động trên Đại Lộ Thống Nhất, 60 năm đã qua nhưng vị ngọt mát của nước dừa vẫn sống động như mới được uống. Tôi nâng niu các bông hoa  pensée mà Anh đi Đà Lạt du khảo với các sinh viên tặng cho tôi, cũng như những lá thư tình viết bằng mực tím vì người yêu của Anh rất yêu màu tím. Biết tôi rất thích đọc nên Anh thường viết những lá thư rất dài cho vợ dù rằng đã hơn nửa thế kỷ trôi nổi cùng nhau. 


Chúng tôi có một cháu ngoại mà Nhà Tôi gọi là “cục cưng của Ông Ngoại”. Cháu rất thương Nhà Tôi vì Nhà Tôi rất thân với cháu. Ba Mẹ sinh cháu ở nhà thương đại học Yale, miền Đông nước Mỹ, không có người trông nom nên từ nhỏ mới hơn tháng tuổi cháu ở với chúng tôi cho tới khi một tuổi mới về nhà. Ông Ngoại mua cho cháu con gấu nhỏ ở chợ Nhật có một đồng đô la mà bao năm cháu vẫn luôn giữ trong ví sách của cháu. Tuần trước cháu bay về California thăm nhà sau hơn một năm không được về vì Covid.  Khi về cháu mang biếu Ông Ngoại cuốn kỷ yếu của trường y khoa mà cháu là Literary Arts Chair có bài thơ cháu viết về những kỷ niệm với Ông Ngoại khi còn rất nhỏ:  


Dear You (you know who you are),


This is a chance for me to thank you.

Perhaps one day, you'll open this book

and find these words addressed to you 

Perhaps you'll know, perhaps you won't. 

But somehow, you always know.

Here, I celebrate you.

Who you are, what you're made of, 

your pride, your shame,

your regret, your laughter. 

Your life just being you.

You, who taught me what life was

at the beach, with all those shells. 

With seagulls and storks and fish around 

you pointed to the water and I ran 

laughing loud, proud, and bright.

You, who taught me what death was. 

When you whispered about saying goodbye 

to your friends, your youth, your heart 

yet still you held me

with joy.

You, who taught me what love was 

over a bowl of steaming phở. 

It's an open book, a tiny door, 

and a trip to the wetlands at sunset.

You, who taught me what medicine is. 

It is life and death and love.

It is holding on and letting go 

and

You, who I celebrate.

For your love, your touch, your mind. 

For what you've done, and what you gave 

and all you're giving still.

You, who rose on painted wings

and carved your path with history. 

When my wings came, you opened your arms 

and taught me how to fly.

With all my love, 

-- Cục cưng của Ông Ngoại

         

Nhà cháu ở xa nhưng ngày nào cũng lái xe xuống thăm Ông Ngoại mỗi khi ra về đều khóc nức nở vì thấy Ông Ngoại già yếu mà đường đi học của cháu còn rất dài.. Hôm kia, trước khi về, cháu nói với Ông Ngoại : “ Ông Ngoại chờ baby của cháu nhé”... Cháu muốn ông Ngoại cũng sẽ bế ẵm baby của cháu như Ông Ngoại đã bế cháu!


Che giấu Nhà Tôi, nước mắt tôi bao lần đã nhạt nhòe khi nghĩ tới những lời của Dược Sĩ Bùi Khiết viết trên Diễn Đàn Thế Kỷ,  bình luận tác phẩm
Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới, Bảo Đại Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam của Phạm Cao Dương: “Tác giả Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, đã mất năm 1953. Tác phẩm lịch sử của Ông ra đời từ năm 1920 mà vẫn được tồn tại và tồn tại mãi mãi. Vì tính minh bạch, khoa học, tác phẩm của Phạm Cao Dương cũng sẽ được tồn tại. Trong Thế Kỷ 21 này sẽ có nhiều sử gia Việt Nam chân chính chiêm nghiệm về công trình của Phạm Cao Dương. Đó là một may mắn quý giá. Nhìn cuốn khảo cứu quá dầy, nghĩ tới tuổi đời quá cao, đã trên 80 tưổi của tác giả. Nghĩ tới căn bệnh tim hiểm nghèo vẫn còn lơ lửng treo trên sinh mệnh của Giáo Sư Phạm Cao Dương. Nghĩ tới và nghĩ tới. Vừa cảm phục vừa thương mến một con người đã chấp nhận định mệnh trên con đường tìm sự thực lịch sử mà ông đã lựa chọn và trung thành với nó".

Bao giờ Phạm Cao Dương mới trả hết nợ ân tình!            


-- Khánh Vân

(Tháng Giêng 2022)


blank

 

 

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.