Dòng Thơ Lưu Diệu Vân

1/28/202210:28:00(View: 4452)
Luu Thi Dieu Van
Các nhà thơ nữ Việt Nam đầu thế kỷ 21 đã góp phần tạo nên sự sinh động, thay đổi diện mạo thi ca Việt Nam. Thế giới ngày nay như một tảng băng đang trôi dần về vực lửa, nơi đó ranh giới của thiện ác phải trái trở nên mù mờ, lòng người bị phân chia bởi trăm ngàn biên giới, mọi niềm tin thành nghi hoặc. Trên tảng băng đang tan ấy, thi ca của lớp nhà thơ nữ này như một bến bờ để neo lại những phân rã, để hiệu đính lại những phù phiếm, sai lầm của định kiến, bằng cái nhìn sắc xảo, thực tế, táo bạo, thách thức. Thi pháp hiện đại, được thể hiện qua ngôn từ mới mẻ và hình ảnh đầy sáng tạo. Sức thuyết phục của họ dường như nằm ở then chốt Cảm Xúc Thi Ca, một thứ cảm xúc dịu dàng của nhân ái, tràn trề của tự do, kiêu hãnh của độc lập, ngang tàng của bức phá, cho người đọc thấy được một cái Tôi-Nữ-Tính đầy tự tin, lấp lánh nữ quyền. Nói có vẻ nghịch lý, nhưng, chính niềm tự tin, phóng khoáng ấy lại khiến thơ của họ mang chất thơ ngây và gợi cảm.
 
Một trong số tiếng thơ ấy là Lưu Diệu Vân. Cô thuộc thế hệ những nhà thơ nữ sinh sau biến cố 1975, nhưng không vì vậy mà đặt mình đứng ngoài những hệ lụy của chiến tranh, của vấn đề ý thức hệ, của thống khổ dân tộc. Và, rực rỡ nhất trong thơ cô là thơ ca ngợi Tình Yêu, cô đã nói, nghe như là chân lý, rằng: “Tình yêu giá trị hơn tất cả tinh túy hoang sơ của đất trời” (Sa Thạch), những trích đoạn sau đây của Lưu Diệu Vân được trích ở tập thơ:  7 giờ 47 phút (xuất bản 2010)
 
Khi em buồn
Em chỉ muốn nghe anh dịu dàng nhắc nhở bằng giọng điệu đẫm hơi ấm rằng chuyện vui buồn của em và cảm hứng nguồn sống anh là một,
rằng dù anh là người đàn ông cận đại nhưng anh biết yêu thương em bằng tất cả sức lực của phần đời còn lại,
rằng nơi chốn yên bình nhất để em hóa giải u uất là bên trong lồng ngực anh
rằng trên đời này không còn gì quan trọng hơn những môi hôn chân ái trễ muộn
rằng nỗi buồn là nơi khởi đầu hạnh phúc giao hòa tâm hồn hai chúng ta. “
(Những điều giản dị)
 
mùa hè mắc võng nơi hai đầu ngọn sóng
ru khe khẽ lọn tóc nắng
màu hạt dẻ
hạnh phúc thường hằng căng tràn chuyện dài chuyện ngắn
đêm cắn vỡ mặt trời rơi
đêm phát sinh hai vì sao mới
chúng ta chơi trò ráp nối
nơi vị trí em vừa vặn
mỗi mình anh
dấu lệ trên má em và lòng bàn tay nóng anh
vết son hồng em và ánh cười nồng anh
vân hoa ngực em và vầng trán hiền anh
đêm chứng minh mọi muộn phiền nghi ngại sẽ thôi còn tồn tại
đôi môi tiếp nối nơi bàn tay khởi đầu
mình âu yếm nhau nồng nàn
ngàn ngàn vạn vạn ngày đổi lần này
mùa hè vé một chiều về giữa biển rộng chăn gối thơm
yêu
một đời.
(Mùa hè vé khứ hồi)
 
họ đang cố gắng tranh thủ
thách thức lý luận phiến diện
không bằng những đôi môi khập khiễng
mà bằng thể chất tráng kiện
có sừng
có sức lực
của những người đàn bà đang biết mình muốn gì
sau hai ngàn năm đần độn
cái thuyết chính chuyên
xã hội chuyên chính
bị bịt miệng bằng mảnh khăn trắng
không lốm đốm những giọt máu hồng
(Khắt khe)
 
Và đây là hai bài thơ trích trong tập thơ mới nhất của Lưu Diệu Vân, Thế Kỷ Của Những Vật Tế (Văn Học Press xuất bản 2021)
 
Thế kỷ của những vật tế
 
chúng ta cứ chảy ngả ngớn về phía trước như thế
nơi đàn ngỗng chẻ sóng xôn xao về vị tổng thống trò hề
cùng cô ca nhạc sĩ hoa-hồng chơi ngông áo cộc không váy
kết hợp với tiếng tăm tráo trở được lộng kiếng
người đàn ông bên kia rào tìm cách thu thập tin tức từ mặt nước mà không cần phải rót mật vào tai không khí
cô bé da trắng thả tay mẹ trượt vội xuống mũi giày sờn đã cưu mang hơn 10,300 em bé da vàng mà tiếng chào của anh vẫn chưa vọng đến cuối cuộc chiến
trong chiếc cầu mũ viền lông tơ hơi thở chúng ta tranh chức giáo đầu
ngoài kia những bức tường biên giới đang được xây bằng lời bào mòn cờ hoa bị thóa mạ
vẫn trong trạng thái hành trang hơn hai thế kỷ nặng nề sự tử tế
anh gỡ chiếc vỏ bảo hộ những bạo lực ấu thơ
những vết bầm ẩn dụ kén khổ chủ
trước và sau hàng cúc áo
liếm môi em như một lá thư sắp cháy cong
lịch sử chỉ là một tiếng rên phản kháng giữa đám đông cả tin nay đã sờn trí nhớ
em dũng cảm nhất trong xiềng xích vòng tay anh chai sạm…
Xong giao dịch thịt da, em đưa tờ năm mươi đồng trả công
Anh thối lại một buổi chiều nắng đầy sỏi huyết dụ
lồng bên trong những viên tuyết tầm nhiệt
và trong cơn lốc nước ta nghe thoang thoảng con người đã biết
biến cái lạnh thành vũ khí đấu tranh
cho nhân quyền/ nhân cách/ nhân nghĩa
và nhân tình là vật tế hy sinh
 
Những kẻ săn mây
 
tư sản lẫn vô sản
những nạn nhân mê ảo giác dị giải
người Việt nhìn ra tiên rồng
người Trung Quốc nhìn ra điềm dữ
người Âu nhìn ra bờ Địa Trung Hải
người Tây thấy Chúa múa quanh Đức Mẹ
trẻ nhỏ thấy thuyền buồm, mũ trùm, chó con, chiếc bánh…
người lớn nhận diện chiếc dù mù khói
nhắc nhở kéo cửa kính xe chắn quá khứ
 
là kẻ săn mây chuyên nghiệp được tín nhiệm
tôi thấy toàn những mục tiêu yêu kiều
từ khoảng cách, hình dáng
tôi tính ra trọng lượng
tốc độ bốc hơi hiện tại
tương quan với luồng gió
nhiệt độ khí quyển
tôi có ngay chiều cao đồng bộ với vòng quay mặt trời
dan díu với tư thế xoay nghiêng của trái đất
để ý kỹ đến những loài khác chung quanh
dấu hiệu hiện hữu phù phiếm
bóng chập chờn như những cái khiên phiến loạn
đàn chim hốt hoảng bay về tổ
tia nhắm dễ dàng
tôi bắt chúng trong tình trạng yếu thế nhất
vừa lùng mồi vừa tránh lũ thợ săn
tôi ngày càng điệu nghệ
có thể bủa vây cả chốn tầng cao hơn tầm với
bí quyết là không nhìn đắm vào dung nhan trắng sữa của chúng
khi cố tình dẫn chệch hướng
dù sao, tôi rất hãnh diện với nghề
bảo vệ bè phái tàn tích đang vào quên lãng
chỉ còn vài đứa như chúng tôi
sống vất vưởng trên những cụm thời gian buôn lậu
và để không bị phát hiện
chúng tôi gọi mình là thi sĩ.
 
 

Bên trong gương mùa đông đang chờ đợi… Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh. Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Trong tập Bốn Mùa Trời và Đất, Márai Sándor cảm giác về mùa hè, …Tôi đứng trên ban công, giữa một vùng xanh, nghe tiếng rì rào thức dậy của cây cỏ. Mùa hè đây rồi, tôi nghĩ; và nó giống như một cảm xúc tràn ngập trong tôi, không khoan nhượng, và đầy những kỷ niệm giản dị… (Giáp Văn Chung dịch) Trong tản văn Hoa Nở Vì Ai, Vũ Hoàng Thư viết, …Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm… Và mùa hè trong truyện của Đặng Thơ Thơ, … Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm...Ở Cảnh Nhàn của Bạch Vân Cư Sĩ có thú sống, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…, có lẽ thời của người, nước còn trong ao còn sạch.
Bạn đang nghe thấy gì trong khí hậu tháng Tư? / Tiếng kêu từ đáy huyệt cuối trời. / Tiếng gió xoáy những cột cờ tử thương tuẫn tiết. / Tiếng phố vỡ triệu mảnh thủy tinh cắt lồng ngực tháng tư rỉ máu mãi chưa khô. / Tiếng sóng hôi dao mùi hải tặc từ oan nghiệt một thời biển huyết. / Tiếng oan hồn dật dờ tìm về cố quận, đáy vực kia bầy cá hoang tảo mộ. / Tiếng hậu chấn từ tâm hồn con dân tháng Tư choàng lên thảng thốt. Dấu chàm xanh lưu xứ để nhận ra nhau. / Tiếng con bướm gáy trong giấc ngủ đôi bờ chiến tuyến. / Tiếng vô vọng của dòng thơ đớn đau, sỉ nhục trải dài trên đất đai tổ quốc. /Tiếng mong mỏi trên những dòng thơ đang vuốt mắt lịch sử, xin hãy chết yên, chết quên, và mở lòng ra ôm những vết thương, trồng lại bóng Quê Nhà…
“Chìm trong biển chết trôi tim người / Còn gì đâu tiếc thương xa xôi …” Chiếc tàu nhỏ rời bến Constantine, Algeria, chở Enrico Macias đến một nơi xa lạ, người lưu vong không bao giờ được phép trở về. Làm sao cánh chim di có thể quên lối cũ? Chiến tranh xua đuổi ông ra khỏi quê nhà. Tàu khởi hành không một người đưa tiễn. “Người tình ơi, ta xa nhau. Mượn đôi mắt em lên đường.” Với cây guitar làm hành trang, ông ghi lại, “J'ai quitté mon pays …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.