Nhà Thơ, Nhà văn, Nhà Viết Kịch LANGSTON HUGHES

8/26/202200:00:00(View: 4058)

Nguyễn Thị Khánh Minh
giới thiệu
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
 
Langston Hughes là tác giả của 16 tập thơ, nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch và truyện viết cho thiếu nhi. Tập thơ đầu tiên của ông là Weary Blues, in năm 1926.

Trong một bài viết, tác giả Sao Khuê đã gọi thơ văn Huges là Tiếng Hát Của Dòng Sông:
 
Đã từ lâu, tôi yêu thi ca của những người da đen cũng như yêu điệu blues trên những kè đá và vỉa hè New Orleans, trong khu French Quarter. Với Langston Hughes (1902- 1967), tôi cũng đặc biệt yêu mến khi nghe ông nói về những dòng sông xưa như những mạch máu trong cơ thể người, những điệu blues và những chuyến xe lửa xuôi về miền Nam.  Gần đây, lang thang trên các trang mạng, tôi tìm thấy thêm những trang viết về âm hưởng jazz trong thơ Langston Hughes và những bài dịch từ thơ của tác giả này. Sau đây xin chuyển tới bạn đọc bản dịch của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Linh, Pháp Hoan và Nguyễn Đăng Thường. (Trích, Langston Hughes: Tiếng Hát Của Dòng Sông, Sao Khuê, báo Trẻ Online).
 
Langston_Hughes
LANGSTON HUGHES sinh ngày 1 tháng 2 năm 1902. Cha mẹ anh là hai chủng tộc, cả hai đều là con của chủ nô lệ và người Mỹ gốc Phi. Gia phả của ông bao gồm nhiều di sản, bao gồm người Mỹ bản địa, Do Thái, Pháp và Anh. Tuy nhiên, Ông chủ yếu tự nhận mình là người Mỹ gốc Phi, và xa cách với cha mình, người có quan điểm tiêu cực kỳ lạ về văn hóa da đen ở Hoa Kỳ.
  
ĐIỆU BLUES HOÀI HƯƠNG
 
Cầu xe lửa là
Điệu hát buồn trên không
Cầu xe lửa là
Điệu hát buồn trên không
Mỗi lần chuyến tàu qua
Tôi thèm rời chỗ khác
 
Tôi đi xuống phía ga
Trái tim ngậm trong miệng
Tôi đi xuống phía ga
Trái tim ngậm trong miệng
Tìm xe còn đỗ bến
Đưa tôi về miền Nam
 
Điệu blues buồn não nuột
Thượng đế ơi, khủng khiếp
Điệu blues buồn não nuột
Thượng đế ơi, khủng khiếp
Để ngăn mình khỏi khóc
Con há miệng cười
 
THANH TÂM TUYỀN dịch
 
*
 
BÌNH MINH Ở ALABAMA
 
Khi tôi trở thành nhà soạn nhạc
Tôi sẽ viết cho mình một ca khúc
Về bình minh trên đất Alabama.
 
Tôi sẽ đặt vào đấy những bài hát trong lành
Những bài hát xuất hiện trên mặt đất như thể mây mù
Rơi xuống từ bầu trời như những hạt sương
Tôi sẽ đặt những cây cao trong đấy.
Và hương thơm của lá thông
Và mùi đất sét đỏ sau cơn mưa
Và những chiếc cổ dài đỏ ửng
Và những khuôn mặt có màu hoa anh túc
Và những cánh tay to khỏe màu nâu
Và những đôi mắt của cúc dại trên đồng
Của người da đen và trắng đen trắng đen
Tôi sẽ đặt vào đó những đôi tay trắng
Những đôi tay đen, nâu cũng như vàng.
Những đôi tay vùi sâu trong đất đỏ
Chạm vào nhau bằng những ngón thiện lành
Chạm vào nhau tự nhiên như những hạt sương
 
Trong ban mai của âm nhạc
Khi tôi trở thành nhà soạn nhạc
Và viết về bình minh ở Alabama.
 
VŨ HOÀNG LINH dịch
 
*
 
GIẤC MƠ
 
Giữ lấy giấc mơ bên cạnh
Bởi nếu giấc mơ đi rồi
Đời là con chim gãy cánh
Không thể tung bay lên trời
 
Giữ lấy giấc mơ bên cạnh
Bởi nếu giấc mơ đi rồi
Đời là đồng hoang hiu quạnh
Chìm trong tuyết trắng mà thôi.
 
*
 
HARLEM
 
Điều gì sẽ xảy ra
khi giấc mơ bị trì hoãn?
 
Nó sẽ héo mòn theo năm tháng
như trái nho phơi dưới nắng mặt trời?
Hay nó sẽ rỉ chảy khắp nơi –
như vết thương lâu ngày mưng mủ?
Nó sẽ bốc mùi thối rữa
như miếng thịt bị bỏ lại trên bàn?
Hay nó sẽ đóng vảy hoàn toàn –
phủ một lớp đường và sẽ như bánh kẹo?
 
Có lẽ như gánh hàng nặng trĩu
nó sẽ chỉ uốn cong.
Hay nó sẽ như bom phát nổ?
 
*
 
NGƯỜI DA ĐEN NÓI VỀ NHỮNG DÒNG SÔNG
 
Tôi đã biết những dòng sông:
Tôi đã biết những dòng sông cổ như trái đất và cũ hơn dòng máu trong huyết quản loài người.
Linh hồn tôi lớn lên sâu thẳm như những dòng sông đó.
Tôi đã tắm trong lòng Euphrates những bình minh ấu thơ.
Tôi đã xây căn nhà nhỏ gần phía Congo và nó ru tôi ngủ.
Tôi đã nhìn mặt sông Nile và những kim thự tháp nhô lên trên nó.
Tôi đã nghe những lời ca của Mississippi khi Abe Lincoln xuống miền New Orleans, và tôi đã thấy những khúc quanh lòng bùn của nó vàng lên trong hoàng hôn.
 
Tôi đã biết những dòng sông:
Những dòng sông cũ kỹ, tối tăm.
Linh hồn tôi lớn lên sâu thẳm như những giòng sông đó.
 
PHÁP HOAN dịch
 
*
 
NHỮNG VÌ SAO
 
Ô, vệt sao sáng kia trên đường phố Harlem,
Ô, hơi gió thoảng lãng quên là đêm tối đó.
       Cả thành phố vươn cao
       Theo tiếng hát người mẹ.
       Cả thành phố mơ màng
       Theo điệu hát ru con.
 
Hãy đưa tay, hỡi em bé da đen, hái lấy một vì sao.
Từ tận cùng hơi gió thoảng lãng quên
       Là đêm tối đó.
       Chỉ hái lấy
       Một vì sao thôi.
Thập giá
Cha già của tôi là một ông cụ da trắng
Và mẹ già của tôi là một bà da đen.
Nếu như tôi đã nguyền rủa người cha già da trắng,
Tôi xin rút lại những lời chửi đó.
Nếu như tôi đã nguyền rủa người mẹ già da đen
Và mong cho bà sa địa ngục,
Tối hối tiếc lời chúc hung dữ đó
Và bây giờ tôi muốn bà được yên thân.
 
Cha già của tôi qua đời trong ngôi nhà to và đẹp.
Mẹ tôi đã chết trong một túp lều.
Tôi tự hỏi mình sẽ chết ở nơi nào,
Bởi tôi không đen không trắng?
Những kẻ lang thang
Chúng tôi là những kẻ tuyệt vọng,
Những kẻ không bận tâm,
Những kẻ đói khát,
Không có lấy một chỗ
Để ăn,
Không một nơi nào để ngủ,
Những kẻ không nước mắt
Không biết
Khóc.
                                       

NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG dịch

 

Bên trong gương mùa đông đang chờ đợi… Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh. Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Trong tập Bốn Mùa Trời và Đất, Márai Sándor cảm giác về mùa hè, …Tôi đứng trên ban công, giữa một vùng xanh, nghe tiếng rì rào thức dậy của cây cỏ. Mùa hè đây rồi, tôi nghĩ; và nó giống như một cảm xúc tràn ngập trong tôi, không khoan nhượng, và đầy những kỷ niệm giản dị… (Giáp Văn Chung dịch) Trong tản văn Hoa Nở Vì Ai, Vũ Hoàng Thư viết, …Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm… Và mùa hè trong truyện của Đặng Thơ Thơ, … Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm...Ở Cảnh Nhàn của Bạch Vân Cư Sĩ có thú sống, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…, có lẽ thời của người, nước còn trong ao còn sạch.
Bạn đang nghe thấy gì trong khí hậu tháng Tư? / Tiếng kêu từ đáy huyệt cuối trời. / Tiếng gió xoáy những cột cờ tử thương tuẫn tiết. / Tiếng phố vỡ triệu mảnh thủy tinh cắt lồng ngực tháng tư rỉ máu mãi chưa khô. / Tiếng sóng hôi dao mùi hải tặc từ oan nghiệt một thời biển huyết. / Tiếng oan hồn dật dờ tìm về cố quận, đáy vực kia bầy cá hoang tảo mộ. / Tiếng hậu chấn từ tâm hồn con dân tháng Tư choàng lên thảng thốt. Dấu chàm xanh lưu xứ để nhận ra nhau. / Tiếng con bướm gáy trong giấc ngủ đôi bờ chiến tuyến. / Tiếng vô vọng của dòng thơ đớn đau, sỉ nhục trải dài trên đất đai tổ quốc. /Tiếng mong mỏi trên những dòng thơ đang vuốt mắt lịch sử, xin hãy chết yên, chết quên, và mở lòng ra ôm những vết thương, trồng lại bóng Quê Nhà…
“Chìm trong biển chết trôi tim người / Còn gì đâu tiếc thương xa xôi …” Chiếc tàu nhỏ rời bến Constantine, Algeria, chở Enrico Macias đến một nơi xa lạ, người lưu vong không bao giờ được phép trở về. Làm sao cánh chim di có thể quên lối cũ? Chiến tranh xua đuổi ông ra khỏi quê nhà. Tàu khởi hành không một người đưa tiễn. “Người tình ơi, ta xa nhau. Mượn đôi mắt em lên đường.” Với cây guitar làm hành trang, ông ghi lại, “J'ai quitté mon pays …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.