Hôm nay,  

Con Mèo Đen

03/02/202300:00:00(Xem: 4459)

8SJJ000Z Blues
Tôi sắp kể một chuyện thật ghê sợ, kể một cách không màu mè. Tôi chẳng mong đợi ai tin chuyện tôi kể cả. Quả vậy, có điên mới mong như vậy, vì chính những giác quan thật của tôi cũng phủ nhận sự hiển nhiên này.  Phải.Tôi không điên và chắc chắn là tôi không nằm mơ. Nhưng ngày mai tôi không còn sống, và hôm nay tôi phải cất đi gánh nặng này trong tâm hồn. Mục đích trước mắt của tôi là trình bày một chuỗi các sự việc một cách rõ ràng, ngắn gọn, không bình luận.  Bởi hậu quả của nó, những sự việc này đã làm tôi hoảng sợ, đã hành hạ tôi, đã hủy hoại tôi.  Sau này có thể ai đó điềm tĩnh hơn, có đầu óc lập luận hơn tôi và không dễ bị kích động như tôi, sẽ hiểu được trường hợp của tôi không có gì khác hơn là luật nhân quả thông thường và rất tự nhiên.
 
Thuở nhỏ tôi được mọi người thương mến do tính tình dễ bảo và có lòng nhân hậu. Trái tim hiền dịu của tôi thậm chí trở nên một trò cười của bạn bè.  Đặc biệt tôi rất thích loài vật và được cha mẹ nuông chiều cho nuôi rất nhiều loài vật. Tôi dành gần hết thời giờ cho những con vật nuôi này. Không gì làm tôi sung sướng bằng việc cho chúng ăn và vuốt ve chúng. Sở thích này gia tăng dần theo tuổi tác của tôi.  Khi tôi trưởng thành, nó là một trong những nguồn vui chính của tôi.
 
Tôi kết hôn sớm và rất hạnh phúc thấy tính tình vợ tôi không phải là không hợp với tôi. Biết tôi mê thích những con vât nuôi, vợ tôi không bỏ lỡ dịp tìm cho tôi những loại dễ thương nhất.  Chúng tôi có chim, cá vàng, một con chó xinh xắn, thỏ, một con khỉ nhỏ và một con mèo.
 
Con mèo này là con vật xinh đẹp, to lớn khác thường, màu đen tuyền và khôn ngoan đến độ kinh ngạc. Pluto -tên của con mèo- là con vật nuôi ưa chuộng mà cũng là bạn của tôi. Chỉ một mình tôi cho nó ăn.  Nó theo tôi đến bất cứ nơi nào trong nhà.  Thậm chí tôi khó khăn lắm mới ngăn chặn không cho nó theo tôi ra đường. Tình bạn của chúng tôi kéo dài như thế trong vài năm.  Trong thời gian này vì rượu chè quá độ tính khí của tôi càng ngày càng tệ hại hơn. Tôi rất xấu hổ thú nhận điều này. Càng ngày tôi càng thất thường, cáu kỉnh, bất kể đến ý kiến của người khác. Tôi dùng ngôn ngữ thô lỗ với vợ tôi.  Cuối cùng, thậm chí tôi còn sử dụng bạo lực với bà ấy nữa. Dĩ nhiên những con vật nuôi của tôi cũng cảm thấy tính khí tôi thay đổi. Không những tôi lơ là chúng mà còn ngược đãi chúng. Nhưng đối với Pluto tôi vẫn còn kiềm chế được, tránh không ngược đãi nó như đã ngược đãi những con thỏ, con khỉ, hoặc ngay cả những con chó mà do tình cờ hay do yêu mến tôi, chúng cứ quấn lấy chân tôi. Căn bệnh của tôi cứ gia tăng , có lẽ vì rượu chè, để cuối cùng ngay cả Pluto, lúc ấy đã hơi già, hay càu nhàu, cũng chịu đựng tính cáu bẳn của tôi.

Một đêm từ quán nhậu trở về nhà, say túy lý, tôi cứ nghĩ con mèo muốn tránh mặt tôi. Tôi chộp lấy nó. Sợ tôi hành hung, nó cắn vào tay tôi, gây ra một vết thương nhẹ. Nỗi giận dữ ma quỷ bỗng chiếm lĩnh lấy người tôi. Tôi không còn biết mình là ai nữa.  Ngay lập tức, linh hồn nguyên thủy của tôi hình như bay ra khỏi thân xác, một nỗi độc ác ghê gớm làm rung từng thớ thịt của tôi. Lấy từ trong túi áo ghi-lê ra một con dao con, mở lưỡi dao ra, nắm cổ con vật tội nghiệp, tôi thản nhiên khoét một con mắt của nó.  Tôi vô cùng xấu hổ, rùng mình khi ghi lại hành động vô cùng độc ác này.
 
Sáng hôm sau, khi đã tĩnh lại sau một giấc ngủ đầy đủ, tôi cảm thấy nửa ghê rợn nửa hối hận về sự độc ác mình gây ra; nhưng chỉ là một cảm nghĩ yếu ớt và không rõ ràng.  Trái tim tôi vẫn vô tình. Tôi lại ngập vào rượu chè, dìm sâu vào trong đó tất cả ký về hành vi độc ác của mình.
 
Trong khi ấy con mèo phục hồi dần.  Cái hốc mắt bị mất của nó trông thật dễ sợ, nhưng có vẻ như nó không còn chịu đựng một đau đớn nào cả.  Nó đi quanh quẩn trong nhà như thường lệ.  Nhưng như có thể đoán trước được, con mèo rất hoảng sợ và chạy trốn khi tôi đến gần nó.  Lòng tôi vẫn còn sót lại ít nhiều tình cảm cũ với con mèo.  Nhưng tình cảm này đã sớm nhường chỗ cho sự cáu bẳn. 
Đây là truyện ngắn được làm thành phim nhiều lần nhất trong lịch sử điện ảnh thế giới.
Bản dịch của Bồ Tùng Ma dịch vào năm Tân Mão 2011.
Dịch giả nói, đọc truyện này chắc các ông bà, lứa đôi sẽ “ôm nhau chặt hơn.”
  
blackcat_01-257-1934
Một cảnh trong phim Black Cat, thực hiện năm 1934.
 
Sự ác độc đến với tôi như một suy sụp sau cùng. Tôi tin rằng sự ác độc của tôi là một trong những động lục nguyên thủy của loài người. Ai đã không nhiều lần thấy mình có những hành động xấu xa hay ngu muội, mà không phải vì lý do gì khác hơn là lý do mình biết mình không nên làm. Như đã nói, sự ác độc đến với tôi như một suy sụp sau cùng, cuối cùng đã thúc đẩy phải hoàn thành việc gây tai ác cho con vật vô tội.
 
Một buổi sáng tôi quàng một cái thòng lọng vào cổ con mèo, xong treo nó lên cành cây, treo nó mà nước mắt tôi chảy đầm đìa, với nỗi ân hận chua xót trong lòng, treo nó vì tôi biết nó đã từng thương mến tôi, vì tôi cảm thấy nó chẳng làm gì nên tội, và vì tôi biết làm thế là tôi đã phạm tội ác-một tội ác ghê tởm làm nguy hại đến linh hồn bất diệt của tôi-nếu việc này có thể-mà thậm chí ngoài cả tầm tay khoang dung vô biên của Chúa Trời Khoang Dung Nhất và Đáng Sợ Nhất.
 
Vào đêm của cái ngày hành động tàn ác đó xảy ra, tiếng kêu "Cháy nhà" làm tôi thức dậy.  Màn giường bốc cháy. Nguyên cả cái nhà rực lửa. Vợ tôi, một người ở và tôi, phải vô cùng khó khăn mới thoát ra khỏi đám cháy. Tất cả đều bị thiêu hủy. Toàn bộ của cải đều ra tro.  Từ đó tôi cảm thấy mình tuyệt vọng.
 
Tôi không còn sức để tìm hiểu, để thiết lập sự liên quan giữa nhân và quả, giữa sự tàn ác và các thảm họa.  Nhưng tôi vẫn xin trình bày chi tiết một chuỗi các sự kiện.  Vào ngày kế tiếp tôi đến xem lại sự thiệt hại vì hỏa hoạn.  Trừ một bức tường, còn tất cả các bức tường khác đều sụp đổ.  Bức tường còn lại không dày lắm, đứng vào khoảng giữa ngôi nhà mà đầu giường của tôi đã dựa vào. Bức tường có sức chống lửa lớn vì mới được xây. Một đám đông người tập hợp gần bức tường.  Những tiếng " kỳ lạ thật", "quái thật" và nhiều tiếng khác tương tự kích thích trí tò mò của tôi. Tôi lại gần, thấy khuôn mặt của một con mèo khổng lồ như được chạm trên nền tường trắng. Nét chạm chính xác tuyệt vời. Có cả một sợi dây thừng quanh cổ con vật.
 
Khi lần đầu tiên tôi trông thấy hiện tượng này - vì hiếm khi tôi nhìn thấy thế - sự kinh ngạc và khiếp sợ của tôi lên đến cùng cực. Nhưng về sau, sự nhận xét đã giúp tôi. Tôi nhớ lại con mèo đã bị treo cổ trong khu vườn sát ngay nhà. Khi nghe báo động cháy nhà, khu vườn lập tức đông nghịt  người kéo đến. Một người đã cắt dây treo cổ con vật và ném nó qua cửa sổ  vào phòng tôi. Việc này có lẽ để đánh thức tôi dậy. Những bức tường khác đổ xuống đã đè lên con mèo, ở trong chất vữa mới tô, chất đó cùng với những ngọn lửa và amonia từ xác con vật đã hoàn thành bức chân dung như tôi đã thấy.
 
blackcatbig
 
Hàng mấy tháng trời tôi không thể nào thoát ra khỏi cái bóng ma của con mèo. Tôi thương tiếc con vật đã mất. Tôi cố tìm chung quanh, trong những quán rượu kinh tởm mà tôi thường lui tới, cho ra một con vật vào loại như thế, hoặc có bề ngoài tương tự như thế.
 
Một đêm khi đang ngồi ngơ ngơ ngẩn ngẩn trong căn nhà lụp xụp tồi tàn, tôi bỗng để ý đến một vật gì đó đen đen ở trên một nắp thùng rượu gin hay rum lớn. Tôi nhìn kỹ cái nắp thùng trong vài phút. Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình đã không nhận ra ngay cái vật trên nắp thùng này. Tôi tiến lại gần, lấy tay sờ vào nó. Đó là một con mèo đen, to lớn như  con Pluto và giống như Pluto, chỉ trừ một cái, nó có một chòm lông trắng khá lớn, hơi mờ, phủ kín vùng ngực.
 
Khi tôi đụng vào nó, nó đứng ngay dậy, kêu lên, cọ mình vào tay tôi có vẻ như hài lòng thấy tôi lưu ý đến nó.  Đúng là con vật tôi đang tìm. Tôi liền xin người chủ nhà bán con mèo cho tôi; nhưng chủ nhà không yêu sách gì cả, không biết gì về con mèo, chưa bao giờ thấy nó trước đó.
 
Tôi tiếp tục vuốt ve con mèo.  Khi tôi sửa soạn ra về, con vật có ý muốn theo tôi. Tôi cho nó đi theo.  Trên đường đi thỉnh thoảng tôi cúi xuống vuốt ve nó. Khi tôi về đến nhà, nó thích nghi ngay với nơi ở mới và lập tức trở thành con vật rất được ưa chuộng của vợ tôi. Nhưng còn tôi, không bao lâu tôi cảm thấy một mối ác cảm đối với nó dấy lên trong lòng.  Việc này trái hẳn với việc tôi đã dự định.  Không hiểu sao vẻ yêu mến của nó đối với tôi càng làm tôi thêm chán ghét và khó chịu.  Những cảm giác chán ghét và khó chịu này càng ngày càng tăng lên thành một thứ thù ghét ác liệt. Tôi tránh con vật.  Khi nhớ lại hành động ác độc của tôi trước đây, tôi tránh đụng tới cơ thể con mèo.  Suốt cả mấy tuần tôi không đánh đập nó hay dùng một thứ bạo lực nào khác đối với nó, nhưng dần dần,  dần dần, tôi đã ghê tởm nhìn nó, âm thầm lẩn tránh bộ mặt xấu xa của nó như lẩn tránh bệnh dịch.
 
Sự thù ghét của tôi đối với con mèo tăng thêm khi tôi phát hiện nó giống con Pluto, nó cũng bị mất đi một mắt. Nhưng việc này lại làm cho vợ tôi thương nó.  Như đã nói, vợ tôi là người có lòng nhân hậu. Lòng nhân hậu này từng là đặc điểm tiêu biểu của chính tôi, là nguồn gốc của những thú vui đơn giản và trong sáng nhất của tôi.
 
Tuy bị thù ghét, sự thương mến của con mèo đối với tôi có vẻ như tăng thêm. Nó cứ bám theo bước chân tôi mà nói ra độc giả khó tin được. Hễ tôi ngồi là nó thu mình nằm dưới ghế hay nhảy lên đầu gối tôi, bám lấy tôi với vẻ trìu mến thật đáng ghét. Khi tôi đứng lên định đi, nó chui vào giữa hai bàn chân tôi, làm tôi suýt ngã hay lấy móng dài nhọn bấu vào áo quần tôi và cứ thế trèo lên ngực tôi.  Những lúc như thế tôi chỉ muốn tống cho nó một nắm đấm, nhưng kìm lại được, vì nhớ lại tội ác của mình trước đây, nhất là vì rất kinh sợ con vật.
 
Tôi không xác định được sự kinh sợ này là cái gì. Tôi gần như hổ thẹn với mình.  Đúng vậy, ngay trong căn phòng tội lỗi này tôi gần như hổ thẹn với mình.  Nỗi kinh sợ con mèo cứ ám ảnh tôi, càng ngày càng tăng thêm.  Nhiều lần vợ tôi bảo tôi lưu ý đến cái dấu lông trắng ở cổ con mèo. Đó là cái khác nhau độc nhất thấy được giữa con vật lạ lùng này với con mà tôi đã giết. Xin độc giả lưu ý cái dấu này, dù lớn vẫn không rõ ràng, và dần dần như không thấy được. Lý trí tôi tranh đấu loại bỏ sự kiện như không có thật này.  Nhưng rồi cuối cùng cái dấu đó rõ nét dần.  Nó biểu thị cho một vật mà tôi phải rùng mình khi gọi đến tên. Tôi khiếp sợ nó.  Tôi muốn thoát ra khỏi con quái vật này. Nó là hình ảnh của một vật gớm guốc, của khủng khiếp, của cái giá treo cổ, dụng cụ tang tóc và ghê sợ.
 
Quả thật tôi là kẻ bất hạnh hơn bất cứ ai trên đời.  Một con vật cục súc mà bạn của nó tôi đã khinh khỉnh giết chết.  Con vật cục súc này đòi tôi phải trả giá. Tôi, một người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng Đế Tối Cao, với nhiều nỗi thống khổ không thể nào chịu được!  Ôi! Đêm cũng như ngày, tôi không còn hưởng được hạnh phúc của sự nghỉ ngơi.  Con vật trước kia không cho tôi lấy một khoảnh khắc yên tĩnh; còn con sau này lại làm cho tôi từng giờ sa vào những cơn ác mộng của nỗi sợ hải không nói thành lời.  
 
Dưới áp lực của những dày vò như thế, phần thiện yếu ớt còn lại trong tôi đã bị thua. Những ý nghĩ xấu xa trở thành những gợi ý duy nhất. Trạng thái buồn rầu của tôi tăng dần lên làm tôi ghét tất cả, ghét luôn cả loài người. Trong khi tôi mù quáng chìm đắm trong cơn giận dữ bùng nổ thình lình, thường xuyên và không kiềm chế được, thì vợ tôi là người kiên nhẫn nhất.

Một hôm vợ tôi cùng tôi làm vài việc vặt trong nhà.  Chúng tôi vào trong hầm rượu của tòa nhà cổ mà vì nghèo túng chúng tôi phải ở. Con mèo theo tôi xuống cầu thang, suýt nữa làm tôi té nhào đầu.  Tôi giận điên lên.  Tôi nhấc cái rìu lên. Trong cơn giận dữ, quên mất nỗi sợ hãi trẻ con từ trước đến nay đã ngăn bàn tay mình lại, tôi bổ một nhát xuống con vật.  Dĩ nhiên con vật sẽ chết ngay lập tức nếu cái rìu bổ đúng mục tiêu như tôi muốn. Nhưng vợ tôi đã chặn tay tôi lại kịp.  Phát cáu vì sự can thiệp này tôi càng giận hơn.  Trong cơn thịnh nộ quỷ ám, tôi giật cái rìu ra khỏi tay vợ tôi và bổ  một nhát vào sọ bà ấy. Vợ tôi rủ xuống chết ngay tại chỗ, không một tiếng rên.
 
Ngay sau vụ giết người ghê tởm này, tôi lo che dấu tử thi ngay lập tức. Tôi biết không thể chuyển tử thi ra khỏi nhà, dù là ngày hay đêm, mà không bị hàng xóm trông thấy. Nhiều dự định nảy ra trong óc. Có lúc tôi nghĩ mình nên cắt tử thi ra nhiều mảnh và thiêu hủy. Một lúc khác tôi định đào một cái huyệt dưới hầm rượu để chôn. Tôi còn tính đến việc vất tử thi xuống cái giếng ở ngoài sân, hay đóng gói tử thi trong một cái thùng như hàng hóa, rồi thuê một người khuân vác mang ra khỏi nhà.  Cuối tôi nghĩ ra một cách mà tôi cho là hay hơn cả. Tôi quyết định xây một bức tường trong hầm rượu để chặn tử thi lại như những thầy tu thời Trung Cổã đã xây tường chôn nạn nhân của họ.

Với mục đích này, hầm rượu đã được sửa sang khá hơn.  Những bức tường trước đây được xây sơ sài, vữa trát tường vừa rồi là loại vữa xấu, không cứng được do độ ẩm của không khí. Ngoài ra một bức tường có chỗ bị nhô ra, do ống khói giả hay lò sưởi, đã được trám lại để làm cho giống như phần còn lại của hầm.  Tôi tin chắc tôi có thể moi gạch từ chỗ này ra, nhét tử thi vào và xây tường lại y như trước kia.  Như vậy không có cặp mắt nào nghi ngờ và phát hiện được
 
Tôi tin cách tính toán này không sai.  Bằng một cái xà beng tôi nạy những viên gạch ra một cách dễ dàng và cẩn thận đặt tử thi dựa vào bức tường phía trong theo thế đứng. Chỉ chịu khó một chút thôi, tôi xây lại y như cũ.   Tôi tìm vôi hồ, cát và rất cẩn thận chế biến thành một loại vữa không thể phân biệt được với loại vữa cũ.  Với vật liệu này tôi cẩn thận xây lại bức tường mới. Khi xong xuôi, tôi cảm thấy hài lòng rằng tất cả đều tốt. Bức tường không có vẻ gì bị xáo trộn. . Rác rưởi trên sàn được dọn dẹp rất chu đáo. Tôi đắc ý nhìn chung quanh, tự nhủ mình: "Nơi đây ít ra công lao động của ta không vô ích".
 
Bước kế tiếp của tôi là tìm con vật đã gây cho tôi quá nhiều bất hạnh. Tôi quyết định phải giết nó. Nếu tôi thấy được nó lúc đó thì không còn nghi ngờ gì về số phận của nó nữa. Nhưng hình như con vật quỷ quái này đã được báo động về sự hung bạo của tôi vừa rồi nên tránh không xuất hiện. Không thể nào diễn tả hay tưởng tượng được cảm giác hạnh phúc nhẹ nhỏm trong lòng tôi khi vắng bóng con vật đáng ghét này.  Suốt đêm cũng không thấy con vật đâu cả. Như vậy từ lúc con vật ở trong nhà ít ra được một đêm tôi có thể ngủ ngon lành dù tội giết người vẫn đè nặng lên tâm hồn tôi.
Ngày thứ hai và ngày thứ ba trôi qua, con vật quấy rầy vẫn không đến. Một lần nữa tôi thở phào như một kẻ tự do. Có thể con quái vật đã sợ hãi bỏ đi luôn rồi. Tôi sẽ không còn trông thấy nó nữa. Thật là sung sướng tuyệt vời! Tội lỗi về hành động giết người đó cũng dằn vặt tôi nhưng ít thôi. Tôi đã trả lời êm xuôi vài câu hỏi người ta nêu ra. Có cả một cuộc điều tra nữa nhưng dĩ nhiên không khám phá được gì.  Tôi thấy hạnh phúc tương lai chắc chắn lắm rồi.
 
Ngày thứ tư của vụ giết người, một toán cảnh sát thình lình đến.  Họ vào nhà, tiến hành điều tra rất kỹ một lần nữa. Tuy nhiên, tin chắc vào chỗ giấu rất bí mật của mình, tôi không thấy bối rối chút nào cả. Họ yêu cầu tôi đi theo họ khám xét. Không một xó hay một góc nào họ không đến. Cuối cùng, lần thứ ba hay lần thứ tư, họ xuống hầm rượu. Tim tôi vẫn đập bình tĩnh như tim của một người vô tội. Tôi đi lại trong hầm rượu từ đầu này đến đầu kia. Tôi khoanh tay trên ngực đi qua đi lại nhẹ nhàng. Cảnh sát đã thoả mãn và chuẩn bị ra về. Nỗi hân hoan trong tim tôi mạnh đến nỗi tôi không ghìm được.  Khi thấy toán cảnh sát bước lên cầu thang, tôi nóng lòng muốn nói dù chỉ một tiếng thôi, nhân chiến thắng này, để họ tin thêm gấp đôi rằng tôi chắc chắn vô tội. Và tôi nói:
 
- Thưa các ông, tôi rất sung sướng làm giảm bớt sự nghi ngờ của các ông. Tôi xin chúc sức khỏe đến tất cả.  Và...mong quý vị ...lịch sự hơn một chút.   Đây là một tòa nhà được xây dựng rất tốt. (Với mong muốn điên cuồng nói thoải mái một cái gì đó, gần như tôi không biết tôi nói gì) Tôi có thể nói tòa nhà đã được xây dựng rất tuyệt vời. Quý vị có thấy những bức tường này không?  Những bức tường này được sắp xếp lại với nhau rất chắc chắn.
 
Nói đến đây, làm ra vẻ hiên ngang của một người không có gì phải sợ ai, tôi lấy gậy gõ mạnh đúng vào chỗ bức tường gạch mà trong đó tôi đã để xác vợ tôi.
 
Xin Chúa che chở và cứu tôi thoát khỏi nanh vuốt của Ác Quỷ! Không bao lâu sau tiếng vang dội của cái gõ chìm vào im lặng, có tiếng đáp lại từ trong mộ, một tiếng kêu lúc đầu tấm tức và đứt quãng như tiếng sụt sùi của một đứa trẻ hờn dỗi, rồi nhanh chóng chuyển thành tiếng thét dài, to và liên tục, nửa như hoảng sợ nửa như đắc ý, như từ địa ngục vang lên, từ cổ họng của những linh hồn bị đọa đày trong thống khổ và của những con quỷ hả hê trong sự đọa đày.
 
Không biết nói sao đây về ý nghĩ của tôi. Tôi lảo đảo đi về phía bức tường đối diện. Toán cảnh sát đang ở trên cầu thang dừng lại bất động trong một lát vì khiếp sợ. Thế rồi 12 cánh tay chắc nịch làm gì đó chỗ bức tường. Cả bức tường đổ xuống. Cái thi hài đã thối rữa hết với những cục máu đông đọng lại, đang đứng sừng sững trước mắt mọi người.Trên đầu thi hài, con vật gớm guốc đang ngồi với cái mồm mở rộng đỏ ngầu và một con mắt như ngọn lửa. Con vật với thói ma quỷ của nó đã khiến tôi lâm vào tội giết người, với tiếng kêu báo tin của nó đưa tôi vào giá treo cổ. Tôi đã xây tường lấp con quái vật vào trong mộ.

EDGAR A. POE
Bồ Tùng Ma dịch
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.