Hôm nay,  

“Mợ”*

17/02/202300:00:00(Xem: 5597)

Truyện ngắn “Sweetness” của Toni Morrison - Nobel Prize 1993.

 

Ngu Yên dịch

Toni Morrison
Toni Morrison - Tiểu thuyết gia Hoa Kỳ (1931 – 2019), Giải National Book Critics Circle Award, 1977. Giải Pulitzer Price for Beloved, năm 1987. Nobel Prize năm 1993. Lãnh huy chương Medal of Freedom năm 2012. Hiện diện trong National Women’s Hall of Frame, năm 2020.
 
Không phải lỗi của tôi. Vì vậy, tôi không thể gánh chịu. Tôi chẳng những không làm chuyện này mà còn không biết nó xảy ra như thế nào. Không mất hơn một giờ, sau khi họ kéo con bé ra khỏi giữa hai chân, lúc đó, tôi mới nhận ra có điều gì đó không ổn. Thực là sai lầm. Nó đen đến nỗi làm tôi kinh sợ. Đen nửa đêm, đen Sudan. Tôi có màu da ít đen, tóc đẹp, gọi là vàng lợt, và bố của Lula Ann cũng vậy. Không ai trong gia đình có màu da gần giống màu này. Tar là người gần giống nhất mà tôi có thể nghĩ đến, nhưng tóc của nó không hợp với da. Khác hẳn - thẳng nhưng xoăn, giống như tóc của những bộ lạc khỏa thân ở Úc. Có thể nghĩ con bé là một nhân vật tổ tiên đầu thai, nhưng đầu thai cái quái gì? Các người nên gặp bà tôi; bà theo phe người da trắng, kết hôn với đàn ông da trắng, không bao giờ nói lời nào với bất cứ con cái của bà. Nếu bà nhận được bất kỳ lá thư nào từ mẹ tôi hoặc từ các dì, chưa kịp mở, bà đã gửi trả lại ngay. Cuối cùng họ nhận được thông báo không có tin nhắn và để cho bà yên. Hầu như tất cả các loại người da trắng lai đen và lai một phần tư máu lạ đã làm nhu vậy trước đây— nghĩa là có loại tóc phù hợp. Các người có thể tưởng tượng có bao nhiêu người da trắng mang trong mình dòng máu Da đen không? Đoán. Tôi nghe nói hai mươi phần trăm. Mẹ tôi, Lula Mae, lẽ ra có thể sống dễ dàng, nhưng bà đã chọn không làm như vậy. Bà nói với tôi cái giá phải trả cho quyết định đó. Khi bà và cha tôi đến tòa án để làm lễ kết hôn, có hai cuốn Kinh thánh, và họ phải đặt tay lên cuốn dành riêng cho người da đen. Cuốn còn lại dành cho bàn tay người da trắng. Kinh Thánh! Có thể vượt lên nó không? Mẹ tôi là quản gia cho một cặp vợ chồng da trắng giàu có. Họ ăn mọi bữa ăn do bà nấu và khăng khăng đòi bà kỳ lưng khi ngồi trong bồn tắm, và chỉ có Chúa mới biết họ bắt bà làm những việc thân mật nào khác, ngoại trừ việc không đụng đến cùng một cuốn Kinh thánh.

Một số người có thể nghĩ, thật tệ khi tự phân nhóm theo màu da—càng lợt càng tốt—trong các câu lạc bộ xã hội, khu dân cư, nhà thờ, hội nữ sinh, thậm chí cả trường da màu. Nhưng làm thế nào khác để chúng ta có thể giữ một chút phẩm giá? Còn cách nào khác để không bị khạc nhổ trong hiệu thuốc, bị thúc cùi chỏ ở bến xe buýt, phải đi bộ trong rãnh nước để người da trắng có toàn thể vỉa hè, bị tính tiền xu ở cửa hàng tạp hóa cho một chiếc túi giấy, mà nó miễn phí cho người da trắng mua hàng? Đừng quan tâm đến những tên gọi. Tôi đã nghe tất cả những điều đó và nhiều, nhiều hơn nữa. Nhưng vì màu da của mẹ tôi, bà không ngừng thử mũ hoặc sử dụng phòng vệ sinh nữ trong các cửa hàng bách hóa. Và cha tôi có thể thử giày ở phần phía trước cửa hàng, không phải ra phòng phía sau. Bố mẹ tôi không uống từ đài phun nước "Chỉ dành cho da màu", ngay cả khi họ sắp chết khát.

Tôi ghét phải nói ra điều này, nhưng ngay từ đầu trong phòng hộ sinh, đứa bé, Lula Ann, đã làm tôi xấu hổ. Làn da khi mới sinh của con bé nhợt nhạt như tất cả trẻ sơ sinh, kể cả trẻ em châu Phi, nhưng nó thay đổi nhanh chóng. Tôi tưởng mình phát điên khi nó chuyển sang màu xanh đen ngay trước mắt. Tôi biết mình đã phát điên trong một phút, bởi vì—chỉ trong vài giây thôi—tôi đã trùm chăn lên mặt nó và ấn chặt xuống. Nhưng không thể làm thế, dù đã ước gì con bé không sinh ra với màu sắc khủng khiếp đó. Thậm chí, còn nghĩ đến chuyện đưa nó đến trại trẻ mồ côi ở một nơi nào. Nhưng sợ trở thành một trong những bà mẹ để con ở bậc thềm nhà thờ. Mới đây, nghe nói, một cặp vợ chồng ở Đức, da trắng như tuyết, sinh đứa con da ngăm đen mà không ai giải thích được. Tôi tin là sinh đôi - một da trắng, một đen, nhập lại. Nhưng không biết nếu chuyện này là sự thật. Tất cả những gì biết được, đối với tôi, cho con bé bú giống như để con chim chích chòe mút vú. Tôi chuyển sang cho nó bú bình ngay khi về đến nhà.

Chồng tôi, Louis, là một người khuân vác, khi anh bước ra khỏi chỗ làm, anh nhìn như thể tôi thực sự bị điên và đứa bé giống như đến từ hành tinh sao Mộc. Anh không phải là người hay chửi thề, nhưng khi ấy, anh nói, “Mẹ nó! Cái quái gì đây?” Tôi biết chúng tôi đang gặp rắc rối. Đó là điều đã xảy ra - điều đã gây mâu thuẫn giữa tôi và anh ta. Nó đã phá vỡ cuộc hôn nhân thành từng mảnh.

Chúng tôi có ba năm tốt đẹp sống bên nhau, nhưng khi con bé chào đời, anh đổ lỗi cho tôi và đối xử với Lula Ann như thể người xa lạ—hơn thế nữa, là một kẻ thù. Anh chưa bao giờ chạm vào nó.

Tôi không bao giờ thuyết phục anh ta, tôi chưa bao giờ lẳng lơ với người đàn ông khác. Anh ta tin chắc như đinh đóng cột là tôi nói dối. Chúng tôi tranh luận mãi cho đến khi phải nói, màu da đen của con bé đến từ phía gia đình anh, không phải bên tôi. Đó là lúc mọi chuyện trở nên tồi tệ, tệ đến mức anh đứng dậy, bỏ đi, còn tôi phải tìm một nơi khác rẻ tiền để thuê ở. Đã làm hết sức mình. Tôi biết đủ, không đưa con bé theo khi đến nộp đơn cho chủ nhà, gửi nó cho đứa em họ tuổi vị thành niên giữ giùm. Dù sao thì tôi cũng không đưa nó ra ngoài nhiều, bởi vì, khi đẩy nó trong xe nôi, mọi người sẽ cúi xuống nhìn vào để nói điều gì đó tốt đẹp rồi giật mình hoặc nhảy lùi lại trước khi cau mày. Việc như vậy gây tổn thương. Tôi có thể làm người trông trẻ nếu màu da của chúng tôi bị đảo ngược. Chỉ là một người phụ nữ da màu - thậm chí là một người da vàng lợt - cố gắng thuê nhà ở một khu đàng hoàng trong thành phố đã đủ khó rồi. Quay trở lại những năm 1990, khi Lula Ann ra đời, tuy luật cấm phân biệt đối xử với người đi thuê nhà, nhưng ít chủ nhà chú ý đến luật này. Họ tạo ra lý do để gạt người da màu ra ngoài. Nhưng tôi đã gặp may với ông Leigh, mặc dù biết ông ấy đã tăng tiền thuê nhà bảy đô la so với những gì ông đã quảng cáo, và ông ấy sẽ nổi cơn tam bành nếu chậm trả tiền một phút.

Tôi bảo con bé gọi tôi là “mợ” (sweetness) thay vì “mẹ” (mother) hay “má” (mama). Như vậy, an toàn hơn. Con bé đen như vậy và đôi môi quá dày mà gọi tôi là “mẹ” sẽ khiến mọi người bối rối. Bên cạnh đó, nó có đôi mắt có màu sắc ngộ nghĩnh, màu đen như mỏ quạ với ánh xanh—điều gì đó rất phù thủy ở trong đôi mắt.

Vì vậy, chỉ có hai chúng tôi trong một thời gian dài, và không cần phải kể cho ai biết đời sống của người vợ bị bỏ rơi khó khăn như thế nào. Tôi đoán Louis cảm thấy xấu xa sau khi bỏ rơi chúng tôi, bởi vì vài tháng sau, anh ấy biết nơi tôi  ở và bắt đầu gửi tiền mỗi tháng một lần, mặc dù tôi chưa bao giờ yêu cầu, cũng không đến tòa án để xin trợ cấp. Các phiếu chuyển tiền năm mươi đô la của anh và công việc ban đêm của tôi tại bệnh viện đã khiến tôi và Lula Ann không được hưởng phúc lợi. Đó là một điều tốt. Tôi ước họ ngừng gọi là phúc lợi và quay trở lại danh từ họ đã sử dụng khi mẹ tôi còn thiếu nữ. Hồi đó, họ gọi là "cứu trợ." Nghe có vẻ hay hơn, giống như đó chỉ là một khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn hạn trong khi điều chỉnh bản thân. Còn nữa, những nhân viên phúc lợi có ý nghĩa như nhổ nước bọt. Cuối cùng khi có việc làm và không cần đến họ, tôi kiếm được nhiều tiền hơn họ từng làm. Tôi đoán, sự hèn hạ đã lấp đầy những tấm séc lương ít ỏi của họ, đó là lý do tại sao họ đối xử với chúng tôi như những kẻ ăn xin. Đặc biệt là khi họ nhìn Lula Ann rồi quay lại nhìn tôi—như thể tôi đang cố gian lận hay làm chuyện giấu giếm gì đó. Mọi thứ đã tốt hơn nhưng vẫn phải cẩn thận. Rất cẩn thận trong cách nuôi dạy con bé. Tôi phải nghiêm khắc, rất nghiêm khắc. Lula Ann cần học cách cư xử, cách cúi đầu và không gây rắc rối. Tôi không quan tâm nó đổi tên bao nhiêu lần. Màu sắc của nó là cây thánh giá mà nó sẽ luôn luôn mang theo. Nhưng đó không phải là lỗi của tôi. Đó không phải lỗi của tôi. Không thể.

Ồ đúng rồi, đôi khi tôi cảm thấy tồi tệ về cách đối xử với Lula Ann khi con bé còn nhỏ. Nhưng các người phải hiểu: tôi cần bảo vệ nó. Con bé chưa biết gì về thế giới bên ngoài. Với làn da đó, không có lý do gì để trở nên cứng rắn hay hỗn xược, ngay cả khi mình đúng. Không phải trong một thế giới có thể bị tống vào trại giam dành cho trẻ em vị thành niên vì dám cãi lại hoặc đánh nhau ở trường, một thế giới mà bạn là người cuối cùng được tuyển dụng và là người đầu tiên bị sa thải. Con bé không biết bất kỳ điều gì trong số đó hoặc làn da đen của nó sẽ khiến người da trắng sợ hãi như thế nào hoặc khiến họ cười và cố lừa cô ấy ra sao. Tôi đã từng nhìn thấy một cô bé đen không bằng Lula Ann. Không quá mười tuổi bị vấp ngã bởi một trong nhóm các cậu bé da trắng. Khi cô cố bò dậy, một cậu bé khác đã đạp vào lưng và hất cô ra, nằm sấp bằng phẳng. Mấy đứa đó ôm bụng cười nghiêng ngả. Rất lâu sau khi cô ấy đi, họ vẫn cười khúc khích, rất tự hào về bản thân. Nếu không nhìn qua cửa sổ xe buýt thì tôi đã giúp cô ấy, kéo cô ra khỏi thùng rác màu trắng đó. Thấy chưa, nếu tôi không huấn luyện Lula Ann đúng đắn thì nó không biết cách băng qua đường và tránh những cậu bé da trắng. Nhưng những bài học tôi dạy cho nó đã được đền đáp, và cuối cùng nó khiến tôi tự hào như một con công xòe đuôi.

Tôi không phải là một mẹ tồi, các người phải biết điều này, nhưng tôi có thể đã làm một số điều gây tổn thương cho đứa con duy nhất vì tôi phải bảo vệ nó. Phải. Tất cả chỉ vì đặc quyền của làn da. Lúc đầu, tôi không thể nhìn qua tất cả màu đen để biết con bé là ai và chỉ đơn giản là yêu nó. Nhưng tôi đã làm. Thực sự làm. Tôi nghĩ bây giờ cô ấy đã hiểu. Tôi nghĩ như vậy.

Hai lần trước tôi gặp cô ấy, rất nổi bật. Loại táo bạo và tự tin. Mỗi lần cô đến gặp, tôi quên mất cô thực sự đen như thế nào vì cô đã tận dụng điều đó để làm lợi thế cho mình trong bộ quần áo trắng đẹp đẽ.

Đã dạy cho tôi một bài học mà lẽ ra tôi phải biết từ lâu. Chúng ta nên làm gì với trẻ em, chuyện đó rất quan trọng. Và họ có thể không bao giờ quên. Ngay khi có thể, cô ấy bỏ mặc tôi một mình trong căn hộ tồi tệ đó. Cô tránh xa tôi hết mức có thể: trang điểm kỹ lưỡng và kiếm một công việc quan trọng ở California. Cô không gọi điện hay thăm hỏi nữa. Thỉnh thoảng gửi tiền và đồ đạc cho tôi, nhưng  không gặp nhau trong bao lâu, tôi không nhớ.
Tôi thích nơi này - Winston House - hơn là những viện dưỡng lão lớn, đắt tiền bên ngoài thành phố. Phòng của tôi nhỏ, ấm cúng, rẻ hơn, với y tá 24 giờ và bác sĩ đến hai lần một tuần. Tôi mới sáu mươi ba tuổi - còn quá trẻ để chăn thả gia súc - nhưng tôi đã mắc một số bệnh nan y về xương, vì vậy việc tự chăm sóc trở thành quan trọng. Sự buồn chán còn tồi tệ hơn cả sự yếu đuối hay đau đớn, nhưng các y tá rất đáng yêu. Một người vừa hôn lên má tôi khi tôi nói với cô, tôi sắp lên chức bà ngoại. Nụ cười và lời khen của cô phù hợp với một người sắp đăng quang. Tôi cho cô ấy xem bức thư trên giấy màu xanh mà tôi nhận được từ Lula Ann—à, con gái đã ký tên là “Cô dâu,” nhưng tôi không bao giờ chú ý đến điều đó. Lời nói của cô ta nghe có vẻ ngông cuồng. “Đoán xem, mẹ. Con rất, rất vui khi được thông báo tin này. Con sắp có em bé. Con quá vui mừng và hy vọng mẹ cũng vậy." Tôi cho rằng, điều hồi hộp là đứa bé chứ không phải cha nó, bởi vì cô  không hề nhắc đến anh ta. Không biết anh có đen như cô không. Nếu vậy, cô không cần phải lo lắng như tôi đã bị. Mọi thứ đã thay đổi một chút so với thời tôi còn trẻ. Màu xanh đen xuất hiện khắp nơi trên TV, trên các tạp chí thời trang, quảng cáo, thậm chí là trong các bộ phim điện ảnh.

Không có địa chỉ trả lại trên phong bì. Vì vậy, tôi đoán mình vẫn là người mẹ tồi bị trừng phạt mãi mãi cho đến ngày chết vì mục đích tốt và trên thực tế là cách cần thiết mà tôi đã nuôi dạy đứa con gái. Tôi biết con mình oán hận mình. Mối quan hệ phụ thuộc vào việc cô ấy gửi tiền. Phải nói rằng tôi rất biết ơn vì số tiền đó, vì không phải xin thêm như một số bệnh nhân khác. Nếu muốn bộ bài mới riêng để chơi solitaire, có thể mua và không cần chơi với bộ bài bẩn thỉu, sờn rách trong phòng khách. Và có thể mua kem bôi mặt đặc biệt. Nhưng tôi không bị lừa. Tôi biết số tiền cô gửi là một cách để tránh xa và xoa dịu chút lương tâm còn sót lại.

Nếu tôi tỏ ra cáu kỉnh, bạc bẽo, một phần vì ẩn sâu trong đó là sự hối hận. Tất cả những điều nhỏ nhặt tôi đã không làm hoặc làm sai. Nhớ khi cô ta có kinh lần đầu tiên và cách tôi phản ứng. Hay những lần tôi hét lên khi cô vấp ngã hoặc đánh rơi thứ gì đó. Đúng vậy. Tôi thực sự rất khó chịu, thậm chí còn ghê tởm bởi làn da đen khi cô ta sinh ra và lúc đầu tôi nghĩ đến việc . . . Không. Tôi phải đẩy những ký ức đó đi—nhanh lên. Không ích gì. Tôi biết tôi đã làm điều tốt nhất cho cô ta trong hoàn cảnh như vậy. Khi người chồng bỏ rơi chúng tôi, Lula Ann là một gánh nặng. Một cái nặng, nhưng tôi đã chịu đựng kiên trì.

Vâng, tôi đã rất khó với cô ấy. Các người có thể cá cược tôi thắng. Khi cô mười hai, sắp mười ba tuổi, thậm chí tôi còn phải cứng rắn hơn. Cô thường cãi lại, không chịu ăn những gì tôi nấu, không muốn tôi chải tóc. Tôi thắt bím, khi cô đến trường sẽ cởi bím ra. Không thể để cô trở nên tồi tệ. Tôi đóng nắp điện thoại lại và cảnh cáo một số tên mà cô đã gọi. Tuy nhiên, một số dạy dỗ của tôi chắc hẳn đã bị rơi rụng. Bây giờ, thấy chưa, cô đã như thế nào? Một cô gái có sự nghiệp giàu sang. Tôi có thể hơn chăng?

Bây giờ cô đang mang thai. Tốt lắm, Lula Ann. Nếu con nghĩ rằng làm mẹ chỉ có nấu ăn, mặc quần áo và thay tã thì con sẽ bị sốc nặng. Con và bạn trai, hoặc chồng, hoặc người bán hàng không tên- bất cứ ai - hãy tưởng tượng, A aa! Đứa bé! Cúc cu! cúc cu!

Lắng nghe mẹ. Con sắp sẽ phải tìm hiểu nó cần những gì, thế giới của nó như thế nào, nó hoạt động ra sao và nó sẽ thay đổi khi con làm mẹ. Chúc may mắn và xin Chúa giữ gìn đứa trẻ.
 
Toni Morisson, Ngu Yên dịch
 
Ghi chú:
(*) “Sweetness” danh từ lóng dùng để gọi. Có thể dịch là “cưng” cho những vai vế nhỏ hơn, như cục cưng; hoặc cho tình nhân, như em cưng, anh cưng. Nhưng không thể sử dụng thay thế vai trò người mẹ. Tiếng Việt không có từ tương đương. Tôi tạm dùng từ “mợ” để tránh từ trực tiếp “mẹ” “má” như tác giả muốn mô tả trong truyện.
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.