Hôm nay,  

Đồng vợ đồng chồng

07/09/202317:58:00(Xem: 4389)
Truyện

fence

Chị Bông đi shopping về vội vàng lo sửa soạn bữa cơm chiều xong chợt nhớ ra hôm nay chồng sơn lại cái hàng rào patio nên ra vườn sau xem kết quả, chị tưởng tượng đến những hàng rào song sắt màu nâu mới mà lòng rộn ràng. Lần đầu thuê thợ làm cái patio này ông thợ không hỏi ý kiến chị Bông, làm xong ông sơn màu kem nhạt làm chị Bông tiếc rẻ. Mấy năm qua màu sơn đã cũ chị Bông liền có lý do sơn lại màu nâu ưa thích, mấy lần cùng chồng đi Home Depot chị đã chỉ chồng màu nâu này nè, mai mốt anh nhớ mua về sơn lại hàng rào patio cho em. 
    Ra tới vườn sau chị Bông chưng hửng, hàng rào patio đã được sơn lại màu kem như trước. Cảm thấy như bị lừa dối bị phản bội chị Bông đứng khóc tại chỗ và vào nhà dãy nảy lên hỏi tội chồng:
    – Tại sao anh sơn màu kem khi em muốn màu nâu?
    Chồng cũng chẳng vừa nhún vai đáp trả:
    – Màu kem cho sáng vườn. Xung quanh patio bà trồng đủ thứ cây xum xuê hoa lá mà patio lại màu nâu thì trông u tối lắm.
    – Nhưng thơ mộng, anh biết chưa? Em đã từng muốn trồng những cây hoa hồng leo màu đỏ màu vàng để làm nổi bật hàng rào màu nâu cho patio thêm đẹp, thêm lãng mạn nhưng anh phản đối, em đã chịu thua anh rồi, nay màu sơn anh cũng quyết giành theo ý mình thì quá đáng lắm.
    – Tôi không hơn thua chi cả, chỉ sợ hoa hồng leo quấn quýt từ đất tới mái làm patio tối thui. Mà tại sao bà nhút nhát sợ ma lại cứ thích những phong cảnh, những màu sắc trầm, buồn, u uẩn thế hả!
    Nhà này vợ chồng luôn xung khắc từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, đến nỗi lọ kem đánh răng hay cục xà bông rửa tay trong phòng tắm của hai người cũng không bao giờ giống nhau nói gì đến những chuyện to lớn khác. Nhà người ta đồng vợ đồng chồng cùng suy nghĩ, cùng làm ăn thấy mà ham. Chị Bông có 2 người bạn thân từ Việt Nam qua tới Mỹ, hai vợ chồng chị Hồng mua Franchise làm chủ tiệm phở Hòa gần chục năm trời kiếm mớ vốn lớn xong thì sang tiệm phở cho người khác để kinh doanh địa ốc cho đỡ vất vả, làm chủ một dãy apartment, vốn liếng tăng lên thành triệu phú, anh chị thảnh thơi nghỉ hưu lúc vừa 60 tuổi. Anh chị Ngân hai vợ chồng cùng yêu thích chữ nghĩa, nhảy ra làm báo, suốt nhiều năm họ gầy dựng được tờ tạp chí uy tín trong vùng, đắt hàng quảng cáo và nhiều độc giả yêu thích, dù lợi tức không phủ phê nhưng vẫn sống thoải mái và thỏa chí ước mơ. Còn chị Bông, nào dám ước mơ gì!
    Chị Bông giận dỗi làm mặt lạnh với chồng. Buồn quá!
    Ăn cơm xong chị Bông vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng không nói chuyện với chồng, vào net mở email đọc thư và giao lưu với bạn bè xong quay ra đọc báo net Việt Nam cho quên sầu, đọc những vụ tham quan, những tệ nạn xã hội và lướt qua những tin vặt, chị Bông chẳng quan tâm, chẳng thèm vào đọc nội dung chi tiết cho mất thì giờ, cuộc sống ở Việt Nam bây giờ đầy những lừa bịp gian dối trơ tráo. Nhưng một nhan đề to đậm làm chị Bông chú ý: “Vợ rải đinh trên quốc lộ để chồng thu tiền vá săm”. Chị Bông đang buồn mà cũng phải bật cười và ngạc nhiên vợ chồng nhà ai mà “tâm đầu ý hợp” thế này, làm ăn gian dối mà vẫn có nhau.
    Mở bài ra đọc thủ phạm là một phụ nữ 58 tuổi tên Trần Thị Lan ở Bắc Ninh với gương mặt khắc khổ nghèo nàn, chị ta khai rải đinh để… giúp chồng có việc làm kiếm tiền. Chị Lan thật đáng tội, đáng trách vì hành vi có thể gây hại cho người khác, nhưng sao chị Bông vẫn thấy chút thương cảm người đàn bà khốn khó này, ít ra chị Lan cũng “hết lòng” với chồng, góp “công sức” vì “sự nghiệp” của chồng. Đằng sau sự “thành công” của một người đàn ông luôn có bóng dáng của người vợ là đây. Họ đã đồng vợ đồng chồng cùng nhau “làm ăn”, kẻ rải đinh, người vá lốp xe như một cặp song ca ăn ý tuyệt vời.
    Vụ vợ rải đinh “giúp chồng”  làm chị Bông nhớ vụ khác ngay tại Mỹ, vợ “giúp chồng” cũng tận tình không kém. Bạn chị Bông làm chủ một tiệm giặt, khách hàng tự bỏ tiền vào máy, cứ vài ngày chủ nhân mở máy ra lấy tiền một lần và phát giác một máy luôn bị mất tiền, ai đó đã khoắng sạch tiền trong máy, không biết bằng cách nào và khi nào khi mà chủ nhân ngày nào cũng ngồi trông tiệm. Thế là chủ nhân bèn để ý theo dõi từng khách hàng thường xuyên đến tiệm giặt đồ, Có một cặp vợ chồng cùng đứa con nhỏ cứ mỗi 2 tuần mang đến một đống đồ, hai vợ chồng cùng lôi đồ ra bỏ vào máy giặt rồi chuyển sang máy sấy trong khi đứa con nhỏ chửng 3, 4 tuổi chạy lăng xăng trong tiệm, thỉnh thoảng chị ta lại âu yếm gọi con nhắc chừng con cẩn thận đừng chạy nhanh kẻo ngã. Hình ảnh gia đình thật dễ thương. Nhưng lần nào họ giặt sấy xong, cuối tuần chủ nhân mở ra kiểm tiền máy ấy đều không còn một xu nào bên trong. Và chủ tiệm đã tìm ra kẻ cắp.
    Lần sau cặp vợ chồng này lại đến, cũng dùng cái máy giặt sấy ấy, cũng với một núi đồ để giặt ấy và công việc của họ tuần tự như mọi lần, chồng bỏ đồ vào máy giặt, xong bỏ sang máy sấy, chị vợ trông con. Chồng lôi đồ sấy khô trong máy ra cái nào thì vợ gấp gọn gàng ngay cái đó, đến cái mền to, chị giăng nó rộng ra, thong thả vuốt ve phẳng phiu trước khi gấp nhỏ lại. Sau tấm mền giăng rộng ra che tầm nhìn của chủ nhân tiệm giặt đang ngồi lù lù nơi quầy kia, “chồng tài ba” đã nhanh nhẹn dùng chìa khóa giả mở chỗ bỏ tiền và vét sạch thì “vợ hiền” cũng đã hoàn thành gấp xong tấm mền to rộng. Cặp đôi “hành nghề” thật nhịp nhàng, chính xác.
    Hai bà vợ, bà rải đinh và bà gấp mền trong tiệm giặt, dù chồng làm điều xấu mà hai bà vẫn “đảm đang” đồng vợ đồng chồng. Còn vợ chồng chị Bông chỉ bất đồng những việc vặt trong cuộc sống, mỗi người một ý, ai cũng có cái lý của mình, thôi thì chồng không theo ý vợ thì vợ theo ý chồng có sai trái hay thiệt hại gì đến ai đâu, lại êm vui nhà cửa. Nghĩ thế nên chị Bông dẹp tự ái, nguôi giận ra ngoài làm lành với chồng:
    – Anh ơi…
    Chồng lại tưởng vợ sinh sự vội… phòng thủ:
    – Tôi sơn cái patio suốt buổi chiều mệt rồi, bà để cho tôi yên.
    – Em muốn nói rằng…
    – Khỏi! Một lời hỏi han, một nụ cười đã không có lại còn hoạch họe sưng xỉa giận hờn, bà muốn cằn nhằn gì nữa đây?!
    Chị Bông ráng nhịn, đợi chồng im lặng để nói rằng chị sẽ đồng ý với chồng đi biển Galveston ở Houston thay vì biển Corpus Christi mà chị yêu thích.
    – Kế hoạch tuần tới đi biển của nhà mình, em muốn đi…
    Anh Bông bực mình ngắt lời ngay:
    – Bà muốn đi Corpus Christi chứ gì. Nếu không đi biển Galveston thì tôi ở nhà.
    Đã xuống nước định nói lời êm đẹp cho vui lòng chồng mà cũng không xong. Tại sao chồng không đọc thấy trong mắt vợ, trong lời nói của vợ những điều này. Ngay cả tâm hồn cũng không có sự đồng cảm dù chỉ một phút giây. Chị Bông chỉ muốn hét lên:
    – Tôi cũng ở nhà. Không có biển Galveston cũng không có biển Corpus Christi luôn.
    Nhưng nghĩ đến hai bà vợ kia điều gian dối họ còn “đồng vợ đồng chồng” thì điều bình thường tại sao chị Bông không làm nổi nên chị Bông quyết không chịu thua họ, Chị lại nhịn và nhỏ nhẹ phân bày:
    – Em muốn nói là em sẽ đi biển Galveston mà. Từ giờ trở đi những gì hợp lý em sẽ đồng tình với anh, không cãi cọ giận hờn nữa đâu.
    Lần này chồng im lặng, có vẻ thấm thía. Một lúc sau anh Bông cũng nhỏ nhẹ nói với vợ:
    – Vài ngày nữa tôi sẽ sơn lại hàng rào patio màu nâu cho bà vừa lòng.
    Chị Bông mừng quá sẵn đà làm tới:
    – Và order mấy cây hoa hồng leo màu vàng màu đỏ về trồng cho đẹp patio nha anh.

 

– Nguyễn Thị Thanh Dương

(August, 13, 2023)

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.