Hôm nay,  

Gió những mùa sau

05/10/202308:53:00(Xem: 3465)
Truyện

poor girl

 

1.

 

Buổi sáng vừa ra cửa đi làm, chợt nghe thoáng lạnh, tôi vội quay vào khoác chiếc áo choàng loại nhẹ. Trời lại bắt đầu vào thu. Thoáng chốc, trôi nhanh “trăm năm là mấy, một ngày dài ghê”.  Những chiếc lá khô vàng đã bắt đầu rụng rải rác phía sau nhà.Thời gian chợt như trêu ghẹo, đùa cợt với chúng ta. Nhiều lúc soi gương, tôi cứ tưởng mình đang nhìn một người khác. Một tôi phía bên ngoài đang nhìn chăm chăm một tôi bên trong mặt gương soi thật xa lạ với thời gian. Con người của hôm qua chưa kịp nhận diện con người của hôm nay? Trên con đường đến chỗ làm, chạy thẳng, quẹo trái quẹo phải, tất cả đều là những phản ứng tự nhiên của thói quen (đôi lúc không cần đến cả ý thức). Chừng như tuổi càng cao chúng ta càng có nhiều thói quen và chi phối bởi thói quen, từ thể chất đến tinh thần. Mọi sai lệch trong sinh hoạt hằng ngày đều khiến chúng ta dễ bực dọc, khó chịu và ngay cả tức giận, nhiều khi rất vô lý. Khả năng thích nghi với hoàn cảnh chung quanh đã không còn nhiều. Tôi cho đèn hiệu quẹo vào tiệm thức ăn nhanh phổ biến của cả nước Mỹ “McDonald’s” như một thói quen!  Và cũng như mọi khi, tôi gọi một biscuit với trứng, thịt bằm và phô-mát qua cửa sổ mà không phải ra khỏi xe. Đây là món ăn sáng “gần gũi” nhất của tôi mấy năm nay. Cà phê và nước uống thì chỗ làm tôi lúc nào cũng có sẵn, “miễn phí” cho nhân viên ngày lẫn đêm.  Bà xã thường gọi tôi là “hai lúa”  vì thói quen ăn uống của mình: ngày ba cữ, sáng trưa chiều, không hề biết ăn vặt và không thể sống thiếu cơm! Ngược lại, bà xã là “trùm” ăn vặt, đụng đâu ăn đó và có thể ăn trái cây cả mấy ngày trừ cơm. Những lần đi công tác xa, nếu may tìm thấy được quán phở của người Việt mình, mỗi chiều ăn phở tôi đều gọi thêm một chén cơm trắng. Bà chủ tiệm thấy vậy hỏi tôi, phở không đủ ăn hay sao ông phải kêu thêm cơm? Tôi cười lắc đầu, không phải phở ít mà tôi thèm cơm! Mà thật vậy, ăn phở bao giờ tôi cũng kết thúc bằng một chén cơm trộn phở, ngon đến muỗng cuối cùng.
 
2.
 
Nghĩ ngợi lan man tôi chợt nhìn thấy bên lề đường, dọc theo một góc phố ba mẹ con người da trắng đang ngồi cầm hai tấm bảng viết tay nguệch ngoạc. Hình như đứa nhỏ nhất vẫn còn ẵm trên tay. Trời đang vào thu, gió trở mùa và se sắt lạnh. Tôi cho xe chạy chậm lại, sát hơn vào lề đường. Đó là hình ảnh một người phụ nữ da trắng trẻ ngồi bệt dưới vỉa hè với đứa con trai chừng 4, 5 tuổi và một cháu bé trong lòng. “Vô Gia Cư – Xin vui lòng giúp đỡ”, bằng mực màu viết trên hai miếng bìa cứng xé ra từ chiếc thùng giấy. Đây cũng không phải lần đầu hay hình ảnh xa lạ gì nơi thành phố tôi đang ở. Nhưng thường thấy là người lớn và không có con nít mang theo. Nhìn kỹ cả ba mẹ con đều xinh đẹp, dễ thương. Chưa kịp phản ứng gì, thì tôi bắt gặp nụ cười thật vô tư, hồn nhiên của cháu trai nhỏ. Chừng như cậu bé chưa nhận thức được hết những gì đang xảy ra cho ba mẹ con. Hoặc cậu bé đã quá quen thuộc với hoàn cảnh lang thang “không nhà cửa” này. Buổi sáng trong giờ cao điểm, xe cộ tấp nập từ mọi phía của đường phố. Không thể gây phiền phức, cản trở giao thông tôi móc vội phần tiền còn lại trong túi và phần bánh biscuit vừa mua vẫn còn nóng. Tôi bấm đèn hiệu dừng xe “khẩn cấp” và ra dấu cho ba mẹ con ra nhận. Đứa bé trai buông tấm bảng giấy, cười tươi chạy về phía tôi. Đôi mắt mệt mỏi, mất ngủ của người phụ nữ da trắng thoáng lên chút hân hoan rồi chìm vào ánh nhìn xa xăm, tĩnh lặng. “Thank you”, tiếng cảm ơn trong trẻo của cậu bé chạm đáy lòng một buổi sáng đầu thu. Chiếc xe tôi trờ vội đi, để lại phía sau góc phố hình ảnh của ba mẹ con người da trắng không nhà, đang chờ những tấm lòng thương cảm. Cho dù số phận con người thế nào, ra sao đi nữa cuộc sống vẫn mãi trôi qua giữa lòng đời và lòng người không dứt… Giấc mơ bao giờ cũng ngắt quãng, lẫn lộn. Có khi nằm trong tiềm thức hay trong ký ức của chúng ta một lần thoáng hiện. Hoặc đôi khi hoàn toàn xa lạ mà người mơ thấy tưởng như không hề có thật. Đất nước Mỹ, phải chăng là giấc mơ của biết nhiêu con người trên mặt địa cầu? Nhưng đôi khi các bạn biết không, giấc mơ chỉ hiện hữu trong giấc ngủ lúc nhắm nghiền đôi mắt và bước ra khỏi cuộc sống đời thường.
    Tôi không tin sẽ có bất cứ đất nước nào trên cõi đời này đem lại giấc mơ cho chúng ta, nếu chúng ta không mang nó sẵn trong tim. Hình ảnh ba mẹ con người da trắng chừng như nhắc nhở tôi, thiên đường nào cũng có sự may mắn và nỗi bất hạnh gần bên. Ánh mắt hồn nhiên của cậu bé “vô gia cư” da trắng chỉ khiến tôi thoáng chút thương cảm tình người. Thế thôi. Nhưng ánh mắt thơ ngây ấy lại xô đẩy tôi về với một xót xa khác, một hình ảnh trong tận cùng của ký ức. 
 
3.
 
Buổi chiều trên bờ biển Phú Quốc thật yên bình và thật đẹp. Xa xa là Dinh Cậu nằm trên một doi đá cơi ra phía ngoài khơi. Mặt trời như trái banh lửa khổng lồ đang lăn và chìm dần vào lòng biển xa. Đây là lần đầu tiên tôi viếng thăm hòn đảo ngọc Phú Quốc. Nhiều nơi trên đảo vẫn còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ, chưa bị bàn tay con người xâm lấn, cưỡng chiếm. Nhưng xa gần đã bắt đầu có dấu hiệu của sự phát triển thương mại, những khu nghỉ dưỡng và các khách sạn 5 sao đang đẩy thiên nhiên vào bờ vực nguy cơ của ô nhiễm môi trường… Tôi đi dọc theo khu  "Chợ Đêm Phú Quốc” mà mọi người đang chuẩn bị bày biện, chất hàng cho buổi tối. Những tiếng bàn ghế và mùi bếp lửa cũng bắt đầu vang vọng, tỏa lan. Chỉ vài giờ nữa khu phố chợ thưa thớt này sẽ tấp nập những người và tràn ngập quán ăn đêm. Gió hanh hanh thổi theo hơi biển mặn và mùi cá phơi khô như một đặc sản không gian của quê hương Rạch Giá, từ đất liền đến đảo xa. Mùi vị quê nhà thấm sâu vào mọi giác quan của mỗi người con đất biển. Buổi chiều đang rơi nhè nhẹ theo từng giọt nắng vàng treo lơ lững hai bên mặt đường. Chợt thoang thoảng đâu đây mùi thơm quen thuộc của tuổi thơ tôi. Mùi thơm của sữa. Mùi thơm của sữa đậu nành đây mà! Tôi thấy khát và thèm vô cùng một ly sữa đậu nành nóng! “Trà sữa – Sữa đậu nành – Chè các loại”, trước mặt tôi là chiếc xe che kiếng với vài chiếc bàn nhỏ và tấm bảng ghi bắt mắt. Ngồi xuống ghế, tôi gọi một ly sữa đậu nành nóng. “Bác có bỏ thêm đường hông?”, cô gái bán hàng hỏi. Tôi cười, gật đầu. Ly sữa đậu nành bốc khói, thơm phức. Khuấy vài muỗng thì tôi thấy mấy con kiến đen nổi lên, có lẽ ở trong đường. Thường thì chẳng hề hấn gì, nhưng tôi đang ho mấy hôm nay vì chưa thích nghi lắm với thời tiết chung quanh. Còn đang phân vân thì có tiếng: “Mua giùm con vài tấm vé số đi bác!” Đó là cô bé gái khoảng 11, 12 tuổi cầm trên tay xấp vé số quen thuộc mời mọc. Định cười lắc đầu, “Mua giúp con đi bác. Độc đắc mấy chục tỷ lận, con thấy bác có số may mắn đó”. Dưới chiếc nón rộng vành, khuôn mặt xinh xắn là đôi mắt thơ ngây trong sáng của cô bé (lẽ ra phải đang cùng gia đình ngồi ăn buổi cơm chiều). Ánh mắt cô bé không hiểu sao, có cái gì đó khiến tôi khó xử, khó chối từ. “Bao nhiêu một tấm con?” “Dạ 10 ngàn”. Nhớ ra trong túi tôi chỉ còn chừng năm trăm ngàn, mà lúc nãy tôi quên nhắc bà xã đưa thêm dằn túi. “Bác mua cho con 10 tấm thôi nghen”. “Dạ 100 ngàn, bác lựa đi”. Tôi lấy vội và đưa cô bé tờ giấy 100 ngàn màu xanh. Cất tiền xong, cô bé vẫn còn nhìn tôi ngập ngừng:
    “Bác có uống ly đậu nành có mấy con kiến đó hông bác”? Bây giờ tôi mới nhớ ly sữa đậu nành mà tôi đẩy sang một bên, phân vân vì mấy con kiến đen.
    “Con muốn uống sữa đậu nành, bác kêu cho con một ly khác”.
    “Hổng phải con uống đâu bác… Bỏ mấy con kiến ra, con xin đem dzề cho đứa em nhỏ con uống.” Cô bé vừa nói vừa lấy trong cái túi vải khoác vai, một chiếc bình bằng nhựa màu xanh. Cử chỉ và lời nói tự nhiên của cô bé làm tôi xúc động vô cùng. Tuổi thơ trong chiến tranh tôi đã “lớn trước tuổi”, đất nước hòa bình phát triển giàu mạnh cũng mang theo những lớp tuổi thơ “già trước tuổi” biết chừng nào! Tôi giúp cô bé vớt bỏ mấy con kiến đen “vô tội vạ” ra khỏi ly sữa đậu nành và gọi thêm một ly nữa mang đi. Tôi đưa cô bé thêm ly mang đi kèm theo tờ giấy 100 ngàn nữa.
    “Má con dặn hổng được lấy tiền người lạ. Con lấy sữa đậu nành thôi”. Cô bé trả tôi lại tờ giấy bạc. Hơi bất ngờ, nhưng tôi cũng vội kiềm chế cảm xúc:
    “Hay con lựa cho bác thêm 10 tờ vé số nữa đi”. Cô bé đếm vé số cho tôi và cất giữ lại tờ giấy bạc 100 ngàn.
    “Con ngoan lắm. Ba má con đâu, mà con phải đi bán vé số”.
    “Má con bệnh… Con hổng có ba…” Cô bé trả lời nhỏ giọng, đượm buồn.
    Tôi nghèn nghẹn ở cổ, không dám hỏi hay nói lời gì thêm, lặng nhìn cô bé bán vé số với chiếc túi đựng hai ly sữa đậu nành bước đi vào giữa những sợi nắng vàng vọt, mong manh của buổi chiều. Nhiều người “than phiền” người Việt không có thói quen nói tiếng “cám ơn”, nhưng trong giây phút nầy, mọi tiếng cám ơn chừng như đều thừa thãi, đãi bôi và vô nghĩa như nhau. Ánh mắt, tấm lòng của cô bé bán vé số ở khu chợ Phú Quốc là cả môt tấm gương soi cho những kiếp đời này. Chợt đâu đó có tiếng hát phát ra từ chiếc loa của một hàng quán bên đường: “Cuộc đời vẫn đẹp sao / Tình yêu vẫn đẹp sao…” (1), nghe thật mai mỉa. Khu chợ đêm bắt đầu nhộn nhịp tiếng người như xô giạt bóng dáng cô bé trong từng cơn gió mùa biển mặn.
 
4.
 
Trên đường về buổi chiều hôm đó, tôi không nhìn thấy ba mẹ con người phụ nữ da trắng đâu nữa. Rồi những chiều sau cũng không. Góc lề đường nhỏ trở lại bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra. Chắc họ đã về một nơi nào đó, một khu tạm trú dành cho những người vô gia cư? Gió đầu thu cũng bắt đầu trở lạnh, kéo theo ngày “tháng Mười chưa cười đã tối”. Hình ảnh ba mẹ con vô gia cư người da trắng khiến tôi nhớ vô cùng cô bé bán vé số và ly sữa đậu nành ở khu chợ đêm Phú Quốc năm nào. Cũng 8 năm rồi, cô bé ngày nay chắc đã trở thành một thiếu nữ 19, 20 xinh đẹp? Cô thiếu nữ ấy bây giờ ra sao, hay vẫn còn giúp mẹ nuôi em bằng những tờ vé số cầm tay? Mong rằng không phải vậy. Mong rằng những may mắn sẽ đáp xuống cuộc đời cô bé để ánh mắt thơ ngây thoát khỏi bao nét nhọc nhằn, bất hạnh. Mong rằng cô bé sẽ quên tôi và ly sữa đậu nành, như quên đi những ký ức buồn trong mênh mông dòng đời nghiệt ngã trôi xa!
    Bên ngoài trời đang mùa gió trở. Gió vào thu heo hắt lạnh mặt người. Gió mùa này sẽ thổi về đâu, cho mùa sau nối tiếp? Cô bé ơi, xin hãy đi trọn kiếp người với một tấm lòng trong sáng cưu mang, như những cơn gió mùa thơm ngát của hôm qua…
 
    Em ở nơi nào, có còn mùa xuân không em?
    Rừng ngàn lá gió, từng đêm nhắc nhở, thì thầm
    Mai lỡ không về, chắc anh buồn biết mấy
    Dáng nhỏ xuân xưa cũng nhớ đêm ngày… (2)

 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1) Cuộc Đời Vẫn Đẹp Sao" – Phan Huỳnh Điểu

(2) Nhớ Nhau Hoài – Anh Việt Thu & Thiên Hà

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.