Hôm nay,  

Hai thành phố biển

04/11/202308:07:00(Xem: 2856)
Truyện

city

Ngày thứ tư. Một ngày trước khi lên máy bay trở về thành phố của mình, nàng lăn ra ốm. Cảm thôi, nhưng cảm nặng. Bắt đầu bằng một đêm không ngủ nghẹt cứng mũi và hôm sau dật dờ và mệt như ngàn tảng đá đè nặng lên người. Chắc chắn không thể lết lên máy bay nổi vào hôm sau. Sao thế nhỉ! Vì nàng ngại không bật sưởi mấy đêm? Vì nàng điệu mặc váy ngắn không mang vớ dài hay quần legging ba ngày qua? Vì khí hậu thành phố này đỏng đảnh thất thường độ ẩm cao buổi sáng lành lạnh mà vừa nắng lên đã nóng hực và màn đêm vẫn trùm một chiếc chăn lạnh lên căn nhà cũ nơi bạn nàng đang thuê trọ? Vì mấy câu thơ của anh? Không rõ. Chỉ biết cơn bệnh đến nhanh như một cái lật tay.
    Nàng gọi điện để dời vé máy bay. Hai chuyến, phải, từ đây về đến nhà cần đến hai chuyến bay. Họ ở hai đầu đất nước rộng lớn này. Bốn múi giờ. Hơn sáu ngàn cây số. Chỉ có một chuyến bay cho dời với một mức giá đắt khủng khiếp, chuyến còn lại thậm chí còn không dời được. Chỉ có cách bỏ vé, mua vé mới theo dạng vé giờ chót. Rời rã, mệt mỏi, và bất lực. Chẳng lẽ vì anh, trong tiềm thức, muốn giữ nàng lại bằng một cách thức vô hình nào đó? Hay vì trong tiềm thức nàng đang tìm cớ ở lại để gặp anh? Nàng gọi điện cho văn phòng anh và được trả lời rằng anh sẽ chỉ trở lại vào đầu tuần sau. Vậy là anh không nói dối, không né tránh gặp nàng. Nhưng mà, đầu tuần sau? Nàng lẩm nhẩm. Ở lại một ngày, hai ngày, thậm chí ba ngày, nàng cũng sẽ không gặp được anh. Mà anh cũng sẽ không gặp nàng. Nàng không thể tìm cách thiết lập một cuộc gặp mặt ba hay bốn người khác, còn anh sẽ không gặp nàng một mình. Điện thoại anh tắt máy, đang ở một đất nước khác, không “roaming.” Sẽ không có cách nào liên lạc, và có liên lạc được anh cũng sẽ không trả lời. Vì anh không thể trả lời.
    Tuyệt vọng, nàng nghĩ, thôi, có lẽ đành bỏ vé. Nếu thế, đây sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử 25 năm đi lại bằng máy bay mà nàng lỡ chuyến bay vì bệnh. Thôi thì, cái gì cũng có lần đầu. Chấp nhận số phận, qua đêm nay tính tiếp. Nàng uống hai viên thuốc Ny QuickCold của Vicks bạn nàng đưa, ngủ li bì một ngày một đêm. Hôm sau, như con búp bê vỡ vụn được dán hờ lại bằng mấy miếng băng keo, nàng lục cục dồn chút sức tàn, đưa con gái ra sân bay, về nhà. Giữa họ, đã chấm dứt vĩnh viễn, nàng biết.
    Về nhà, mở máy tính, google map, một địa chỉ hiện lên. Thẫn thờ. Đó là nơi nàng muốn đến nhất ở thành phố này. Và cuối cùng sau chuyến đi 5 ngày, đã trở về nhà, nàng vẫn chưa đến đó. Địa chỉ văn phòng anh. Không phải nhà riêng. Khi máy bay vừa hạ cánh, ngồi trên taxi đi vào thành phố, trong làn gió đêm mát lạnh, nàng căng lồng ngực ra mà hít thở không khí của thành phố anh. Không khí mà anh thở từng ngày. Đường phố nào nhìn cũng thân quen, vì anh chắc chắn đã từng đi qua những con đường này. Ngay cả những ngôi nhà cũng có vẻ thân quen, đặc biệt, và nổi trội, chỉ vì, đây là thành phố của anh. Thành phố của anh. Trái tim nàng rộn lên khi nhìn thấy tên đường có văn phòng anh. Nhưng, đó là một con đường rất dài, và nàng đã không đến được địa chỉ đó. Y như, trong một giấc mơ của nàng, nàng trôi, trôi ngày càng xa. Và, “anh hẹn em nhất định gặp, lần sau”, như nàng đã viết sau giấc mơ đó.
    Nàng biết, chuyến đi này phải diễn ra. Từ khi nàng bắt đầu quen anh, nàng đã muốn đến thăm anh. Chuyến đi lẽ ra đã diễn ra, thậm chí trước khi họ biết nhau. 2018. 2019. 2020. Nhưng chưa bao giờ thành hiện thực. Từ khi họ còn yêu nhau thắm thiết đến khi họ cách trở như hôm nay. Chuyến đi có một ý nghĩa đặc biệt với nàng. Nàng muốn gặp anh nhưng quyết định để cho duyên phận, cho trời quyết định. Không liên lạc được với anh, nàng chỉ định ngày đi vì một phút hứng khởi. Mua vé vào ngày hôm sau. Lăn ra ốm tuần sau đó, mà nàng cười cười bảo bạn nàng là “nếu chỉ chậm vài ngày thôi là đã không quyết định đi rồi.”
    Chuyện tình của họ, thật ra, không phải đang nồng nàn, mà đang đi vào đoạn kết. Tình yêu, ở trạng thái nồng cháy nhất, thường chỉ sống được khoảng 3 năm. Bây giờ đã là cuối năm thứ ba vắt vẻo sang đầu năm tư. Trái ngang. Giấu giếm. Lén lút. Vợ anh phát hiện ra chuyện tình của họ vào khoảng năm thứ hai khi họ đang thắm thiết nhất. Anh nói lời chia tay. Trái tim nàng tan vỡ và 6 tháng phủ đầy nước mắt. Rồi họ lại liên lạc lại, nhưng không được nói chuyện yêu đương nữa. Bằng một cách nào đó, anh thuyết phục được người vợ ngây thơ của mình là họ sẽ chỉ là bạn bè. Vợ anh đồng ý. Tất nhiên họ không chỉ là bạn bè được. Nhưng những liên lạc trong khoảng thời gian đó đã làm nảy sinh những ràng buộc và liên đới khác đủ để giữ chân nàng lại với anh tiếp tục. Một năm. Một năm nữa. Đã có hai lần anh dứt áo ra đi, quyết liệt không biết nàng nữa. Còn nàng dứt áo như cơm bữa. Nhưng rồi cũng chẳng đi được đến đâu. Còn nợ phải trả. Nhưng nợ ảo, nàng cười. Đến giai đoạn cuối này, vợ anh chỉ cần nghe tên nàng đã vật vã ngồi khóc không nín nhiều ngày, người phụ nữ xinh đẹp hiền lành hơi khắc kỷ chỉ biết yêu thương chồng con hết mực đó không thể chịu đựng nổi ý nghĩ chồng mình còn liên lạc với nàng, cho dù dưới bất cứ hình thức nào. Anh rơi vào im lặng. Họ vẫn còn tồn tại cạnh nhau, vẫn có những liên lạc xa gần, dưới những “nick” ảo luôn được tạo ra, bị giết chết, thay mới và tiếp tục bị giết chết của nàng.

    Nàng bấm hủy kết bạn với anh. Hai tài khoản ảo cuối cùng. Sẽ không có tài khoản nào nữa được tạo ra. Cũng sẽ không có một hoạt động chung nào có dính đến anh sẽ được tiến hành. Nàng, đã đến được thành phố đó. Đã làm hết sức của nàng. Đã đến ngưỡng. Một cái ngưỡng tự tạo như là một giới hạn của tất cả những yêu thương quan tâm dồn nén chịu đựng cho một người mà nàng có thể làm được. Để rồi, ra đi, thanh thản. Không bao giờ hối tiếc. Vì đã làm hết sức mình. Vì có cố hơn nữa cũng chỉ thế mà thôi. Vì, trời đã định là họ sẽ không gặp nhau.
    Thành phố này, là một trộn lẫn giữa những thành phố nàng đã sống. Một thành phố biển, giống như thành phố biển nơi nàng sống. Ở đây, biển ấm, như luồng năng lượng ấm sực nồng nhiệt của anh. Ở nơi nàng, biển lạnh, như sự thay đổi xuống lên thất thường của nàng. Từ bờ biển đến bờ biển. Nhưng, cũng như từ hai thành phố biển khác từ một không gian xa xưa. Melbourne-Sydney. Cách nhau 1,000 cây số. Thành phố của anh, giống Sydney đến lạ, có cầu cảng, có phà. Nàng đã từng bỏ tiền mua vé máy bay đến Sydney, chỉ để ngồi khóc ngất một đêm, chỉ để nhớ lại chuyện tình quá khứ 6 năm về trước của nàng. Seabus qua Lonsdale Quay, hay là ferry qua Manly Beach, giống giống nhau. Yêu dấu năm xưa và yêu dấu năm nay. Anh là hình bóng người cũ được nàng khôi phục lại, tạo dựng lại, “resurrect,” giống như người ta “gọi hồn” sống dậy. Thật ra anh chẳng giống gì người yêu cũ của nàng. Họ chỉ tình cờ sống cùng quê, chứ từ gương mặt, tính cách, nghề nghiệp, sở thích, tuổi tác, chẳng có gì giống cả. Chỉ vì nàng thích gọi anh là resurrection, thế thôi. Tình yêu với anh, có phải cũng là tình yêu mô phỏng? Không biết. Chỉ biết là ngày xưa nàng đã yêu anh chàng ở Sydney đến cháy ruột cháy gan, yêu anh ấy nhiều hơn cả bản thân mình. Và bây giờ nàng cũng bao nhiêu lần lịm khóc nghe tình yêu anh thấm mềm phế phủ chạy trong từng đường gân thớ thịt. Dẫu nàng biết anh chẳng yêu nàng bao nhiêu. Người yêu xưa, cũng thế. Ở một góc độ nào đó, anh có yêu nàng nhiều hơn người yêu xưa của nàng. Ừ, thì, ít nhất mình có tiến bộ, nàng cười buồn buồn.
    Những người nàng rất yêu, nàng sẽ không với tới họ. Như anh chàng ngày xưa. Như anh. Những người mà vì họ nàng có thể bỏ tiền mua vé máy bay, đi đến đó, chỉ để cảm thấy mình ở cùng một thành phố. Một thành phố vài triệu dân. Lần đầu anh nói chia tay, nàng khóc ngất và đau đớn nhận ra, hai mươi năm sau, kết quả cũng như hai mươi năm trước mà thôi. Trời đã dạy nàng rất rõ rằng, nàng sẽ không có được những con người đó. Thiên ý. Còn anh? Đến cả một lần gặp mặt, cũng sẽ không có. Nàng nhìn những con sóng lăn theo con phà mà thấy cái đau đớn hai mươi năm xưa và cái đau đớn hôm nay quyện hòa vào nhau, thấm thía, dìu dịu. Già rồi, trung niên rồi, vẫn mau nước mắt nhưng sẽ không lăn ra đòi sống đòi chết nữa, nàng im lặng và chấp nhận nỗi buồn thẩm thấu xuyên suốt cơ thể mình như miếng quỳ tím lặng thầm hóa đỏ trong dung dịch acid sulfuric. Mềm mại, dịu oặt, êm êm, nỗi buồn ngậm lấy nàng trong một lớp kén mềm bao phủ. Không lối thoát.
    Hai mươi năm, chẳng lẽ mình vẫn thất bại và đau khổ như ngày xưa. Con gái vừa hỏi gì đó, nàng ngước mặt lên. Cặp mắt con bé sáng lung linh, gương mặt xinh xắn thông minh giống bố. Ừ, thì mình có nó. Con gái, chồng, gia đình. Bớt bất ổn bản thân. Hai mươi năm tạo dựng, thành quả. Và những hệ lụy và chịu đựng thầm lặng khác.
    Họ sẽ quên nhau. Anh sẽ quên nàng. Nàng sẽ quên anh. Nắng chéo góc hôn lên mái tóc nâu dợn sóng của con gái nàng ánh lên một chút màu hung đỏ. Thành phố này nhiều mưa, bạn nàng bảo nàng may mắn quá vì gặp nắng đẹp long lanh trong suốt những ngày đến đây. Con gái nàng được đi chơi nhiều chỗ dành cho trẻ con trong mấy ngày qua, tiếng cười trong như ngọc, lanh canh, hớn hở.
    Hai ngày trước khi đi, nàng đã đi uốn tóc. Nàng nghĩ anh thích tóc thẳng. Cũng như chồng nàng. Cũng như vợ anh, một mái tóc thẳng mười mấy năm. Vì vậy nên nàng phải uốn. Sẽ già đi, sẽ xấu xí đi. Cũng chẳng sao. Để nhớ, là phải quên anh, và sẽ quên anh. Hồi hộp ngồi trên ghế ở tiệm làm tóc ba giờ đồng hồ, để ngạc nhiên thấy rằng, cũng không đến nỗi xấu lắm. Mái tóc quăn tạo cho nàng một vẻ đằm sâu thăm thẳm, một vẻ đẹp trưởng thành và ‘phức tạp’ (sophisticated) hơn. Có lẽ, cuộc sống, cũng sẽ không đến nỗi quá tệ. Nếu em chỉ có một miếng chanh héo, ừ thì có lẽ em vẫn pha được một ly chanh muối, anh nhỉ!
    “Khi em đã ở trong thành phố biển/Cùng một lớp học với anh/ Vẫn hẹn em nhất định gặp/ Lần sau”. Con đường rộng lớn phía đông. Nàng sờ sờ mái tóc. Đóng máy tính. Sẽ không có lần sau.

-- Trần Hạ Vi

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.