Hôm nay,  

Niềm vui lễ hội

22/11/202308:10:00(Xem: 2491)
Tùy bút

chucthanh

Cách nay đã hai tuần lễ, hôm đó là cuối tháng mười dương lịch, 30 tháng 10, mùng 1 tháng 11, dịp lễ hội Halloween. Chúng tôi đi mua bánh biscuit gói nhỏ nhỏ, loại petit beure pocket, kẹo chocolat đủ loại đủ màu, tất cả làm thành từng gói để chờ tối ngày lễ Halloween làm một màn phát quà cho các em nhỏ gõ cửa các nhà làm ma xin quà. Chúng tôi đã sẵn sàng sửa soạn hai bọc khá lớn để góc nhà chờ đợi.
    Tới tối đúng ngày, sau bữa cơm chiều, trời xẩm tối, các em trong xóm, gọi là Village Plaisance, tụ tập từng nhóm 5, 7 đứa, có khi đông hơn, có khi ít hơn tùy ý thích, thường là chúng học chung trường chung lớp. Chúng được nghỉ lễ các thánh, mà tụ tập đi xin kẹo bánh theo phong tục, chớ chưa hẳn là chúng thiếu thốn, nhiều đứa thích ăn mặc hóa trang, có đứa làm công chúa, nhưng nhiều đứa thích áo quần dị hợm hay đen ngòm, thùng thình làm như ma quỷ, vẽ mặt dữ dằn, râu ria tùm lum. Thiệt là có lần mở cửa, nhìn chúng hiện ra lạ, mình phải lùi lại giựt mình. Ma quỷ mà, có đứa mang theo cái búa lớn hay cái mỏ neo to hơn người, cũng tạo được cảm giác lạ và chúng tôi vui vẻ nhập gia tùy tục với người địa phương.
    Có lễ hội là một dịp vui, vì ai cũng biết sau lễ các thánh là người ta rộn rịp chờ đón Giáng Sinh, rồi Tết năm mới, may mắn thay giữa mùa thu sang đông u tối mịt mùng, lại có những ngày vui nhộn như để xua đi phần nào cái lạnh lẽo cơ hàn của dịch bệnh, cái đe dọa tàn sát ghê gớm của chiến tranh đang tràn lan làm chao đảo cả thế giới.
    Lúc 7 giờ chiều, giờ ăn cơm tối, chúng tôi tắt đèn bếp, ăn trong bóng mờ của đèn hành lang len qua, kẻo các em nhỏ thấy đèn cửa sổ bếp sáng rỡ lại tiến tới đập cửa ầm ầm lối ra vào.
    Ăn xong và dọn dẹp xong bữa chiều tối, chúng tôi lôi các bọc bánh kẹo ra coi lại thì chợt nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ, gõ kiểu này thì chắc chắn không phải là lũ khách con nít rồi, ai thế nhỉ? Tôi nhón gót chân, ngó qua lỗ đục nhỏ, à là hai ông cảnh sát, họ muốn gì giờ này? Tôi vội gọi con gái xuống lầu với mình, rồi mới yên trí mở cửa. Thì ra hai người nhân viên công lực này tới, ưu ái nhắc nhở chúng tôi, « Buổi tối lúc này an ninh không bảo đảm lắm, khi mở cửa đón khách xin bánh kẹo, coi chừng có thể có kẻ gian lợi dụng xông vô nhà cùng lúc để hành hung ». Họ nói hai lần rất chu đáo.
    Chúng tôi cám ơn họ và nhìn nhau, họ đi rồi, vậy thì sao? Có làm fête nữa thôi? Má cứ làm, chớ má đã mua và sửa soạn tới hai túi, không lẽ vì sợ, mà giờ mình để mình ăn một mình! OK, con gái đề nghị, má cứ làm, thì mình lên lầu, có cửa sổ từ phòng trên dòm xuống là hành lang phía ngoài bếp, mình sẽ thả một tấm bạt từ lầu cao chạy xuống, đụng thảm lá cây bụi cây jasmin ngay cửa bếp ngoài đường, theo cái bạt đó, mình sẽ thả kẹo bánh lăn xuống tặng quý vị con nít nhe má… má khỏi mở cửa, khỏi sợ kẻ gian tấn công bất ngờ.
    Hai mẹ con tôi đồng ý kiểu thả dù quà tặng như vậy, rùm beng vui vẻ đâu được ba lần. Tới lần thứ tư thì có chuyện, thiệt gọi là lễ của con nít, mà có cả con nít lớn bự 15, 16 tuổi, chúng muốn lớn hơn cả người lớn, khó phân biệt được rõ trong cảnh tranh tối tranh sáng ở ngoài trời, xe hơi chạy vụt qua và đèn đường thì lấp ló, lúc tỏ, lúc mờ. Đám trẻ thứ tư tới, chúng múa may ca hát trước cổng ra vào, rồi đập cửa ình ình, chúng tôi phải gọi chúng từ trên cao, chừng vài giây, rồi một hai phút sau, chúng mới tập trung và chú ý nhìn lên: Ici, là-haut, chào, tụi tôi ở trên này, tụi tôi vì cái cửa hư, kẹt, không mở nổi, alors, tụi tôi thả cadeaux xuống cho các em nhe, đón này, bonnes fêtes! Allez-y, allez-y! Một vài em nhảy cẫng lên, rất vui. Chúng tôi cũng hào hứng vui lây, quên đi, không để lướt theo tấm bạt, mà chúng tôi nhắm thẳng vào những bàn tay bé bé xinh xinh đó, cứ thế liệng bánh xuống. Có đứa bắt trúng, bravo, và có đứa bắt hụt, và bọc kẹo rớt xuống đất, bộp! Thế là trận chiến xẩy ra vì bất thình lình, có hai bà mẹ tây, tây hay arabe thì không rõ lắm, vì trời tối và loang loáng ánh đèn khi có khi không. Hai bà ấy xồ ra từ trong bóng mờ, họ cự nự rồi xỉa xói hai mẹ con tôi một tràng líu lo khá gay go: Các vous cho quà trẻ con kiểu sauvage như thế đó hả ? Các vous rất mất dậy, mal élévé. Các vous không có quyền làm thế! Các vous làm fêtes đâu! Các vous khinh người và bạc đãi các con chúng tôi ! Tôi hoảng và nghe tiếng được tiếng mất. Họ nói tiếng Pháp rất khó nghe, tôi cũng không hơn gì họ, vừa nghe vừa đoán mò, để hiểu loạng quạng!
    Tôi khựng người, đứng như trời trồng, không biết làm sao cho họ hiểu, may mà con gái nó lanh trí, nó lật đật chạy xuống lầu, qua cửa sổ bếp, gần nhau hơn, nó phân bua rõ ràng: Quý bà hiểu cho, chúng tôi rất yêu mến trẻ con nên chúng tôi mới tham dự vô lễ hội này. Nhưng kẹt nhà chúng tôi neo đơn, ít người, mẹ tôi già lắm rồi, lại nữa vấn đề trộm cướp an ninh ràng buộc, nên xin lỗi quý vị, chúng tôi phải tự vệ, xin lỗi, vì vui quá, vui lây với các em mà chúng tôi đã thẩy bánh xuống, thay vì để glisser xuống rất từ từ, xin lỗi quý bà.
    Nghe xong, hai người lớn đấy đong đỏng bỏ đi vội, nhưng đám con nít vẫn ở lại, chúng có gần 10 đứa. Chúng vẫn ngửng mặt lên cao nhìn và chờ đợi, dường như đã hiểu phần nào câu chuyện lôi thôi giữa người lớn với người lớn, nhưng chúng vẫn cười vui ồn ào, chúng giơ tay lên vẫy ra hiệu chờ đón, vẫy vẫy tay, còn bao nhiêu, donnez-nous tous!
    Mười lăm phút sau thì đường phố vắng lặng trở lại. Mẹ con tôi đóng hết các cửa. Tắt đèn và đổi phòng khác, coi truyền hình. Thôi nhe, má, từ nay má đừng làm lễ hội bánh bánh kẹo kẹo Halloween hallowu nữa nhe, mấy cái bà gazoilles đó, họ khó chịu lắm!
    Nhưng rồi sáng hôm sau, tôi phải đi chợ, phải mua khá nhiều đồ cho một tuần lễ, nước uống, sữa tươi, sữa đặc để pha café, yaourt, thịt, khoai, rau, đồ hộp, thêm mấy bọc giấy lớn, gần đầy xe đẩy. Nặng và cồng kềnh là mấy thùng nước suối. Tôi đang lúng túng xếp hàng đã mua lên quầy tính tiền, còn đang bối rối tìm mấy cái giỏ xách đặng xếp đồ, chưa kịp khuân ba cái bao nước evian lên kịp thì có một người đàn bà đậm người chợt đến sát gần, áo quần bà ta hơi dài, hơi thậm thượt, tôi không nhìn rõ mặt, vì bà ta đứng nghiêng nghiêng, nhưng tôi cũng kịp nghe được bà ta nói, đúng là nói với tôi: Để tôi giúp bà một tay nhe, mấy cái bịch nước này nặng lắm, tôi phải giúp bà thôi. Miệng nói, hai tay bà ta thoăn thoắt chuyển mấy bịch nước suối đặt lên chỗ tính tiền. Tôi cảm ơn và vừa kịp nhận ra là một trong hai người đàn bà tối hôm qua đã dừng chân ở trước cửa bếp nhà tôi…
 

-- Chúc Thanh

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.