Hôm nay,  

Biết đâu là lần cuối?

26/11/202309:24:00(Xem: 4091)
Tạp bút

Felice Capriani - Broken Violin
The Broken Violin -- Tranh Felice Capriani.

 

Lâu lắm rồi chúng tôi – Nguyễn Hoàng Văn, Nguyễn Hưng Quốc, Lê Văn Tài và Võ Quốc Linh – mới có dịp hẹn nhau ở Sydney, tâm tình qua tô phở nóng và ly cà phê lạnh. Đang nhâm nhi cà phê, Võ Quốc Linh bảo phải chụp chung mấy tấm hình bởi, biết đâu được, đây có thể là lần cuối!
    Ôi chao, đã nghe và đã bao nhiêu lần nghêu ngao hát theo những lời ca về tuổi già của Phạm Duy, hết:
 
Này em anh đã già
Tuổi cao thiếu sức khỏe
Dù sống với trái tim cằn khô
Này em anh đã về
Thì xin nghe anh kể
Chuyện mới, cũ, khóc vui tràn trề
(“Bình ca 1”)
 
thì:
 
Xuân xanh anh đà tóc trắng da nhăn
Sức sống anh là biển cũ mông mênh
Anh vươn từ bãi
Anh lên ngàn chơi
Thả khói lờ lững lưng trời...
(“Bình ca 5”)
 
mà lòng vẫn phơi phới tràn trề còn nay thì luống chút ngậm ngùi: này em anh đã già, gặp nhau lần này có thể là lần cuối.
    Mà đây không phải là lần đầu tôi nghe câu này.
    Mới Tết năm ngoái tôi về quê làm lễ mãn tang mẹ, vào Sài Gòn gọi đám bạn học cũ cùng kéo xuống Bà Rịa thăm một số bạn học khác đã an cư tại đây thì một người bạn thân -- vẫn thường đứng ra sắp xếp những cuộc hội ngộ như vậy -- lại báo kẹt, do gia đình đã sắp đặt chuyện đi đây đi đó nhân đứa con du học tại Mỹ về thăm. Nhưng chỉ cáo từ được vài tiếng đồng hồ, bạn tôi quyết định hủy chuyến đi chơi của gia đình bởi không lần này thì sẽ có lần khác, còn như bỏ lỡ cơ hội bạn bè lần này thì biết bao giờ mới gặp lại?
    Nghĩa là, biết đâu được, lần này có thể là lần cuối!
    Tôi lại nhớ, hai năm trước, đi viếng tang thân mẫu nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn, gặp lại một loạt những bạn bè và người quen đã ít nhất một năm rồi không thấy mặt, vì dịch. Gặp lại anh bạn thời sinh viên của Hoàng Ngọc-Tuấn, cũng tên Tuấn, một nhà kinh doanh thành công nhưng đang trong giai đoạn thoái trào vì đã… đủ và con cái đã lớn, chỉ dành thì giờ du ngoạn. Lâu không gặp, anh bạn hỏi thăm chuyện này chuyện nọ rồi trầm ngâm chép miệng, than thở năm nay bị giam chân, không đi đâu được, quanh quẩn ở nước Úc chỉ để dự tang: cái năm gì mà khiếp, người đi nhiều quá, hết người này “vô cùng thương tiếc báo tin” thì đến người thân khác “đau lòng thông báo”…
    Nghe anh, tôi buột miệng, nước này mình phải tính… “break even”!
    Anh bạn là nhà kinh doanh nên “break even” là mối quan tâm hàng đầu sau mỗi vố đầu tư. Đó là cái dấu mốc ngóng chờ, càng sớm càng tốt, lúc con số lợi nhuận thu vào cân bằng với vốn đã vung ra, nói nôm na là hòa vốn. Nhưng bây giờ, khi chuyện kinh doanh không còn là mối ưu tư hàng đầu và tần suất thiệp báo tang ngày càng tăng, thiệp tang nhiều hơn thiệp cưới, cái “break even” phải tính là số bạn bè đã ra đi và số vẫn còn đó với mình.
 
    Đời người có lẽ ai cũng có một dấu mốc như thế nhưng ít ai để ý, ít ai lạnh lùng làm cuốn sổ kiểm toán về những bạn bè và thân nhân ở hai cõi âm dương.
    Mười sáu năm trước, đọc lá thư tay của nhà văn Võ Phiến, tôi đã nhận ra rằng ông đã đi qua cái lằn ranh ấy khá xa:
    “Năm xưa tôi đến Hội An, ở nhà Nguyễn Rô. Bạn cầm bút ở Quảng Nam có Bùi Giáng, Nguyễn Văn Xuân. Hồi nhỏ tôi có học cùng trường cùng lớp với Bùi Giáng 2 năm. Lớn lên vào Sài Gòn chúng tôi gặp lại; có hôm bất bình hờn giận vợ, tôi ôm mềm qua nhà Bùi Giáng (đang sống ở Trương Minh Giảng với các em) ngủ qua đêm. Nhưng kẻ sống đời tự do, người làm công chức giờ giấc gò bó nên không mấy gần nhau.
    Bây giờ Bùi Giáng không còn. Nguyễn Văn Xuân suy kiệt, tôi tuổi hơn tám chục, bết bát chẳng còn viết lách gì nữa!” [1]
    Bây giờ thì tất cả đều đã về “bên ấy”.
    Đâu năm, sáu năm trước, không nhớ chính xác, đang thù tạc cùng một nhóm bạn bè già, trẻ, trong có nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc. Giữa chừng có điện thoại, anh Quốc bắt máy và đầu kia là Giáo sư Nguyễn Xuân Thu. Vừa mới ở Mỹ về, có lẽ lòng xốn xang không nói ra không chịu được, anh Thu gọi để san sẻ nỗi lòng, thề rằng đây sẽ là lần chót, sẽ không bao giờ đi Mỹ nữa: qua đó gặp lại những đồng môn, đồng nghiệp xưa chỉ để càng buồn, càng đau lòng thêm bởi người này suy kiệt, người kia thoi thóp trên giường bệnh, người nọ thì đếm từng ngày trong viện dưỡng lão.
    Cái vạch “break even” ấy, xem ra, đã ở phía sau lưng anh Thu, khá xa.
    Tôi đã chạnh nghĩ đến cái vạch ấy từ đâu tám, chín năm trước dãu hãy còn nằm ở phía trước khá xa sau khi liên tiếp nhận tin đứa bạn và người thầy thân thuộc bỏ bất ngờ rời bỏ cuộc đời, Sữu đã mất, thầy Tùng đã mất. Buồn, liên lạc với bạn học cũ đang sống tại Mỹ để rồi cùng bùi ngùi nhận ra rằng có những người, khi sống mình không để ý lắm, thế nhưng khi mất đi thì -- dù thân thiết hay không thân thiết lắm, dù nét đáng yêu nhiều hơn hay ít hơn nét đáng ghét – thể nào cũng nhận ra rằng người đó cũng đã đóng một ý nghĩa, một dấu ấn nào đó trong một chặng đời nào đó của mình.
    Tất cả những điều như thế làm tôi nhớ lại một câu thoại trong phim Troy, cực hay “Thánh thần ganh tỵ với chúng ta. Họ ganh tị vì chúng ta sẽ chết. Bởi vì bất cứ khoảnh khắc nào đều có thể là khoảnh khắc cuối cùng của chúng ta. Mọi thứ sẽ đẹp đẽ hơn bởi vì phần số của chúng ta có hạn.” (The gods envy us.  They envy us because we’re mortal.  Because any moment might be our last.  Everything’s more beautiful because we’re doomed.) [2]
    Nhớ, năm mười bốn, mười lăm tuổi, tôi đã đọc ý tưởng từa tựa của Duyên Anh, trong một bài viết trên tạp chí Tuổi Ngọc, rầu rĩ than thở mình là “Con sên già lùi bước”. Nhưng rầu rĩ thì rầu rĩ, Duyên Anh lại cho rằng thánh thần trẻ mãi, sống mãi thì có cũng phải chán, thèm làm người: có làm người thì về già tuổi trẻ của mình mới đẹp đẽ hẳn lên và những ngày vàng son đã qua mới trở thành một “chiến khu kỷ niệm”.
    Thôi thì cũng đừng quá bận tâm với những thiệp tang, với số bè bạn đã ra đi hay số còn ở lại. Hãy quý giá cái đời sống mà mình đang tận hưởng, hãy nghĩ đến cái bình thường mà mình vẫn thường “take for granted”, hãy nghĩ rằng khoảnh khắc nào cũng có thể là khoảnh khắc cuối cùng của đời mình để thấy rằng cuộc đời luôn rực rỡ và để thấy rằng cái dở, cái bậy bạ của những người gần gũi mình luôn đáng để thông cảm, để tha thứ…
 
-- Nguyễn Hoàng Văn
 
Chú thích:
 
 
[2] Phim được đạo diễn Wolfgang Petersen dựng theo trường ca Iliad của Homes, quy tụ những tài tử ăn khách nhất của Hollywood, từ Brad Pitt đến Eric Bana, Orlando Bloom, trong đó Brad Pitt đóng vai Achilles, nhân vật mà chúng ta quá quen thuộc với thành ngữ “Gót chân Achilles”. Câu thoại trên là của Achilles, nói với Briseis, vốn là nữ quản tế đền thờ Apollo.
 


Sự nhận thức không đến khi chúng tôi còn đang đắm mình trong một thế giới đẹp đẽ, yên ả, giữa ba bức tường của một resort xa hoa, ba bức tường bao bọc quanh hồ bơi dài, xanh ngắt màu ngọc bích, với dòng nước như suối ghềnh trôi chảy tự nhiên, mở toang ra bao la trước mặt; vô tận biển nối hồ xanh, vô tận rượu ngon và ẩm thực tinh vi. Nó – sự nhận thức ấy – kiên nhẫn đợi giờ ly biệt. Khoảnh khắc ấy bắt đầu khi chúng tôi bước lên chuyến xe buýt rời xa dải duyên hải biệt lập, quay lưng lại với hồ bơi ngọc bích để hướng mũi xe về phía phi trường xa xôi. Những bức tường bóng bẩy của dãy resort lần lượt lùi lại phía sau. Mặt đường láng mịn của xa lộ trải dài trước mắt, trong khi khung cảnh hai bên đường dần biến chuyển, phơi bày một thực tại từ chối tiếp tục giấu mình. Qua khung cửa kính trên cao của xe buýt, lớp vỏ bọc mỏng manh của thiên đường hoàn toàn vỡ vụn, nhường chỗ cho vẻ trần trụi, bụi bặm của các khu xóm lao động bình dân.
Chúng tôi là một trong những người đầu tiên bước vào phòng phiếu. Do địa điểm bỏ phiếu được đặt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Người Cao Niên Norman P. Murray, mọi việc đều được tổ chức rất chu đáo. Các thiện nguyện viên hướng dẫn từng người một cách ân cần và kiên nhẫn. Không ai tỏ vẻ vội vàng. Ai cần giải thích điều gì đều được giải thích cặn kẽ. Chúng tôi đã dành thời gian nghiên cứu lá phiếu từ tuần trước. Tôi luôn nghĩ rằng quyền bầu cử chỉ thật sự có ý nghĩa khi người cử tri chịu khó tìm hiểu trước khi quyết định. Vì thế, khi cầm lá phiếu trên tay, tôi không thấy băn khoăn nhiều nữa. Mỗi chọn lựa đều đã được cân nhắc dựa trên lương tâm, kinh nghiệm sống và những điều mà tôi cho là có thích hơp cho cộng đồng thị xã và cho tiểu bang.
Sau mấy tháng hè, hôm nay cô Thúy chào đón học trò lớp Rồng Bay trở lại trường Việt Ngữ Suối Mở. Cô giáo mời học trò kể lại những sinh hoạt trong những ngày nghỉ hè và viết lá thư trong ngày khai trường như lời cảm ơn đến cha mẹ, gia đình. Lớp Rồng Bay rộn ràng kể chuyện. Học trò được cùng ba mẹ, anh, chị, em đi chơi đó đây trong kỳ nghỉ hè. Vài trò theo ba mẹ về Á Châu như Việt Nam, Thái Lan, Đại Hàn. Vài trò khác đi Ý, Hòa Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Thụy Sĩ. Nhân tiện học trò kể chuyện về thăm ông bà nội ngoại ở Việt Nam, cô giáo hướng dẫn cả lớp ôn lại cách gọi họ hàng. Tiếng Đức chỉ đơn giản Onkel và Tante. Còn tiếng Việt, anh, chị, em của cha được gọi khác với anh, chị, em của mẹ. Sau mấy câu hỏi, đáp, học trò phân biệt rành rẽ họ hàng nội, ngoại: cô, chú, bác, dì, cậu...
Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.