Hôm nay,  

Dự tiệc cuối năm

27/12/202312:34:00(Xem: 2964)
Truyện

IMG_8896

Vừa đi làm về đến nhà, chồng tôi báo tin:
    – Chị Nở mới ghé tiệm mua thuốc, rồi mời tụi mình tuần tới đến dự tiệc kỷ niệm 40 năm ngày cưới của vợ chồng chị ấy.
    Tôi giãy nảy:
    – Mình từ chối được không anh?
    – Sao vậy em, mình có bận gì đâu ?
    – Anh mau quên thật, còn em thì nhớ mãi lần dự tiệc mấy năm trước…
    – Tưởng chuyện gì! Anh nhớ rồi, thì lần này em phải biết …rút kinh nghiệm chứ! Mình không đi thì hơi kỳ, dù sao đây cũng là tiệc mừng hạnh phúc nhà người ta, vả lại đúng dịp cuối năm tụ tập người quen, cũng vui!
    Chị Nở là người chị lớn tuổi khá thân thiết với gia đình tôi. Chị là trưởng Hội Con Gái Đức Mẹ trong Nhà Thờ, là thành viên Ca Đoàn chúng tôi, còn tôi là Thư Ký của Hội Đồng Mục Vụ, nên quen biết nhau qua công việc giáo xứ và tình Kito hữu, tình ca viên ca đoàn. Ngoài ra, chị ấy còn là khách hàng quen thuộc của tiệm thuốc của chồng tôi, nên năm đó khi chị xây nhà mới (lúc dịch Covid chưa xuất hiện), chị có mời vợ chồng tôi đến chung vui.
    Tôi hớn hở đi shopping từ buổi sáng để chọn quà tân gia cho nhà chị Nở, cũng là dịp tháng Muời Hai nên tôi kết hợp đi tìm mua quà trong “Christmas gift list” của gia đình.  Mỗi lần đi mua quà cho ai đó, kể cả quà Giáng Sinh, tôi thường bị tẩu hoả nhập ma, có khi đi cả buổi chẳng mua được gì. Chọn quà tân gia càng khó hơn, tôi đi hết tiệm này qua tiệm khác, suy nghĩ về “gia chủ” để đoán xem họ thích quà loại nào, cuối cùng tôi cũng phải chọn một món khi trời đã quá trưa.
    Chồng tôi phụ xách đồ vào nhà:
    – Sao em về trễ vậy, sắp đến giờ đi dự tiệc rồi, mà em đã ăn gì chưa ?
    Tôi vui vẻ:
    – Em có ăn chút French Fries và ly cà phê tại khu shopping, anh mang quà ra gói giùm em, rồi chờ em lên tắm rửa thay quần áo. Em cố ý để bụng đói đi dự tiệc đấy, chị Nở nổi tiếng nấu ăn ngon mà!
    Mọi việc xong xuôi, tôi ngồi vào bàn trang điểm, nhẩn nha chọn loại nước hoa yêu thích. Đi dự tiệc vào những dịp cuối năm như thế này làm tôi phấn chấn, vì được mặc quần áo đẹp, gặp gỡ người quen và thưởng thức các món ăn.
    – Xong chưa em ơi?!
    Tôi nhìn đồng hồ:
    – Chỉ mới hơn bốn rưỡi mà anh, họ mời 5 giờ, trời mùa đông mau tối!
    – Anh biết chứ! Nhưng em đã từng ngán ngẩm cảnh đi tiệc cưới phải chờ một vài tiếng mới được ăn, và em cũng lên án “không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam” đấy thôi!
    – Đúng thế! Em là chúa ghét chuyện đi …quá trễ. Nếu hôm nay mình đến đúng “y boong” 5 giờ như người Canada thì sợ mang tiếng …ham ăn. Thôi tụi mình sẽ chọn giờ …lửng lơ, đến đó khoảng 5 giờ 15, không sớm mà cũng không muộn, coi như phe đến sớm và phe đến trễ đều không có cớ nói xấu mình.
    Đến nơi đúng 5 giờ 15, chúng tôi bước vào căn phòng ăn rộng rãi, chỉ thấy Cha xứ, mấy Cha khách và một hai cặp vợ chồng khác đang nói chuyện (hoá ra tôi vẫn đến sớm!). Mùi thức ăn từ nhà bếp toả ra thơm nồng, kích thích cơn đói của tôi. Chồng tôi được một vị khách mời ngồi vào bàn với chia bia, tôi cũng tính kéo ghế ngồi xuống thì chị Nở réo tôi từ trong bếp:
    – Loan ơi, vào đây nếm thử món bánh tôm Tây Hồ của chị nà!!
    Tôi mừng rỡ chạy vào bếp, bụng đang cồn cào mà có bánh tôm chiên ngon tuyệt vời thì còn gì bằng. Món này của chị Nở nổi tiếng khắp giáo xứ, tôm loại ngon, để nguyên vỏ, còn đủ đầu đuôi sau khi cắt sạch sẽ và nêm nếm, nhúng vào thau bột có sẵn những miếng khoai lang cắt sợi to, rồi chiên trên chảo dầu nóng, ăn với rau sống và nước mắm chua ngọt. Tôi đón lấy miếng bánh mới chiên còn nóng hổi, ăn thử thôi, vì chưa có nước mắm và rau. Lúc bấy giờ tôi mới có dịp nhìn quanh bếp, đồ đạc các thứ còn bày bừa ngổn ngang. Một chị đứng nơi góc Pantry thấy tôi rảnh, liền ngoắc tôi:
    – Em qua đây giúp chị lặt rau nhe, để chị ra xem nồi súp Cua!
    Tôi xắn tay áo lên, bắt đầu lặt rau. Lúc này có người lai rai đến, cười nói chào hỏi bắt tay nhau rôm rả ngoài kia. Tôi để rổ rau đã lặt xong, tính chạy qua phòng ăn để góp vui với đám đông thì chị Nở lại bảo:
    – Ôi, em tiện tay rửa rau giùm chị luôn thể, nhé!
    Căn phòng bếp rất rộng rãi, ngoài hai cái sinks kế bên dàn bếp gas, còn một cái sink lớn ngay giữa kitchen island  Tôi đứng rửa rau, có ai đó mang vào bếp mấy túi trái cây, nào thơm, nào kiwi, thanh long, hồng giòn, rồi bày ra giữa nhà bếp, kẻ cắt người gọt nhộn nhịp.
    Tôi nhìn ra ngoài kia, mong chồng tôi vào đây ...cứu tôi, nhưng hình như anh ấy chẳng nhớ có tôi ở đây thì phải. Anh còn bận rộn cụng ly với người này người kia, ăn mấy món snacks khai vị. Tôi đang tìm cách âm thầm chuồn ra ngoài thì cái chị súp Cua hồi nãy nhìn tôi mỉm cười:
    – Em ơi, cái chảo bánh tôm đang rảnh, em ra chiên hộ chị hai bịch bánh phồng tôm này để chút ăn gỏi xoài …
    Trời ơi! Chị Nở đang chạy ra ngoài kia chào khách mới đến, toàn là những vị khách “có máu mặt” trong giáo xứ nên căn nhà bếp để cho chúng tôi tự sai bảo nhau, mà tôi là một trong những nạn nhân.
    Giờ thì tôi không còn cười được nữa. Tôi diện quần áo đẹp, làm tóc đẹp, sơn móng tay móng chân để đi dự tiệc, để được thảnh thơi ăn uống chuyện trò, chớ đầu phải để làm phụ bếp. Tôi vẫn quan niệm rằng, khi mình mời khách đến nhà, thì mọi việc nấu nướng phải chu toàn trước giờ khách đến, ngoại trừ những món cần các công đoạn cuối cùng cho nóng sốt. Tôi không bao giờ để khách đến với căn bếp bừa bộn vì sự thiếu chuẩn bị của gia chủ. Nếu cần, tôi sẽ nhờ một vài người rất thân quen đến từ sớm để phụ, kể cả các món tráng miệng, trái cây tôi cũng cắt sẵn sàng trong tủ lạnh, tới giờ khách đến là cả chủ lẫn khách đều thoải mái, nên tôi khó chấp nhận việc đi dự tiệc mà bất ngờ trở thành phụ bếp, ngoại trừ trường hợp khẩn cấp trong các buổi ma chay, hoặc những sự cố bất ngờ khác.
    Tôi cứ như chong chóng trong nhà bếp, từ những việc có tên đến những việc không tên, thì đến giờ tiệc bắt đầu. Lạy Chúa ôi, bàn ăn ngoài kia đã đầy người, lũ trẻ con và đám thanh niên được vào phòng ăn phụ, còn một số phụ nữ phụ bếp chúng tôi cũng gần chục người phải đứng ngay trong bếp, giỏng tai nghe gia chủ tuyên bố lý do, rồi Cha xứ làm phép thức ăn, xong là chúng tôi xếp hàng lần lượt bưng bê các món ra cả hai phòng ăn phục vụ mọi người. Chị Nở tíu tít chỉ đạo nhóm phụ bếp lo cho khách khứa đầy đủ, rồi quay vào rạng rỡ nói với chúng tôi:
    – Chị em chúng mình chịu khó ăn trong bếp nhe! Số sướng mới được ăn trong đây, vừa ăn vừa đứng nó mới mau tiêu, ăn được nhiều, phải không nà!?
Rồi chị cười thích thú, tôi bấm bụng cười theo (méo cả miệng) đáp lễ. Thời đại nào rồi mà còn cái hủ tục ưu tiên cho các đấng đàn ông ăn trên ngồi trước và phụ nữ chúng tôi phải ăn dưới bếp? Mà nào có được yên thân, ăn mỗi món một ít, có món thì nguyên vẹn, có món thì chỉ có đầu thừa đuôi thẹo, đã vậy còn bị réo gọi liên tục, mang thêm chén đũa, lấy tí nước mắm, múc thêm món này món kia, ôi thôi đủ cả! Tôi thấy ghen tị với các chị đến trễ ngoài kia, được ngồi bên cạnh chồng, vừa ăn uống vừa nói chuyện vô cùng vô tư lự, rộn ràng, còn tôi, cũng là khách được mời, nhưng còn kiêm luôn cả chân phụ bếp, dọn rác và bồi bàn.
    Tiệc cũng sắp tàn, vài người kéo ra phòng kế bên hát karaoke, nhóm đàn ông tản ra ngoài hút thuốc, tôi nhìn mấy cái sinks trong bếp đầy các chén dĩa dơ mà ngán ngẩm. Tôi quyết định đứng lên, chuẩn bị khuôn mặt lạnh lùng, nhủ thầm sẽ không mủi lòng nhẹ dạ với bất cứ người nào mời tôi ...ở lại nhà bếp. May quá, chị Nở từ ngoài nhanh nhẹn chạy vào, xua tay:
    – Ấy ấy! Em ơi, đừng bận tâm chuyện rửa chén, chút chị cho vào máy một loáng là xong thôi mà!
    Ủa, tôi có định rửa chén đâu chớ! (Xưa rồi …Nở!). Cuối cùng, chồng tôi cũng kịp xuất hiện để … giải cứu tôi, chào chủ nhà và xin phép ra về vì mai còn đi làm sớm, dù chị Nở một mực níu kéo ở lại hát karaoke với lý do “hổng có em thì karaoke hổng dzui” (chắc chị ấy mỉa mai tôi, chớ ai cũng biết tôi thuộc nhóm người “hát hay không bằng …khoái hát”), nhưng tôi vừa bực bội vừa mệt mỏi, thì còn tâm trí nào để hát xướng ?! Có cho tôi hát mười bài tôi cũng chẳng ham.
    Chui vào xe, thấy tôi im lặng bơ phờ, chồng nhìn tôi …rụt rè:
    – Em đói không, mình ghé tiệm nào đó ăn thêm nhe?!
    – Anh cũng đói à ?
    – Không, anh quá no vì thức ăn mang lên bàn liên tục, anh nghĩ em ở dưới bếp bận rộn chắc không ăn đủ no…
    Tôi hờn mát:
    – Anh no rồi thì đi ăn nữa làm gì!
    – Thì cho em ăn!
    – Thú thật với anh, em đói không ra đói, no chẳng ra no, mà chỉ thấy mệt. Anh cho em về nhà tắm rửa, cái áo đầm hàng hiệu của em bây giờ đầy mùi hành tỏi xào nấu. Nếu tối đói bụng em nấu mì, vừa ăn vừa xem phim vẫn ngon tuyệt vời.
 
*
 
Nhớ lại cái buổi tiệc đó, tôi vẫn… giận hờn chị Nở, tôi bảo chồng:
    – Vậy lần này nhất định vợ chồng mình sẽ đến trễ hẳn một tiếng.
    – Ai lại làm thế? Như vậy không lịch sự tí nào cả!
    – Mình sẽ nói trước là tiệm đang mùa chích Flu và booster shot cho Covid nên không đến đúng giờ được, ai dám trách mình?!
    Vài ngày sau chồng tôi về nhà, lại báo …tin vui:
    – Em ơi, khỏi cần lo chuyện đi trễ nữa nhé.
    – Chị Nở cancel tiệc hở anh?
    – Chị ấy bảo mấy năm nay vì ảnh hưởng dịch chưa được ăn nhà hàng, nên chị quyết định tiệc sẽ làm ở nhà hàng, khỏi phải lỉnh kỉnh bếp núc. Vậy em tha hồ mặc áo quần đẹp rồi đến dự tiệc. À mà nè, chị Nở còn đặt nhà hàng lo chuyện âm thanh và dàn karaoke nữa đó, em chuẩn bị dợt lại mấy bài nhạc tủ, nhạc sến của em đi là vừa.
    Đúng là tin vui tới tấp, nên tôi chẳng thèm cãi lại lời chồng, rằng tôi cũng yêu thích mê mẩn “nhạc sang” của Phạm Duy, Ngô Thuỵ Miên, Trần Công Phụng, Cung Tiến… nhưng vì giọng “oanh vàng” của tôi chỉ hợp với nhạc bolero thôi chứ bộ! Dù rằng, đôi khi tôi cũng thấy mình cũng rất… sến, chả oan gì đâu!
    Mà thôi, trước mắt là tôi sẽ đi shopping cho bộ áo đầm mới, chuyện hát hò tính sau!
 

– Kim Loan

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.