Hôm nay,  

Xuân về Xóm Đạo

13/01/202407:14:00(Xem: 4254)
Truyện

thala

1.

 

Những ngày cận tết trời Sài Gòn se se lạnh. Cái lạnh mang theo chút nắng hanh làm đẹp hơn bao chiếc áo len buổi sáng những con đường. Khóa học cuối năm chấm dứt bằng đêm văn nghệ toàn trường của đại học sư phạm. Tôi dự định nán lại thành phố vài ngày rồi về quê ăn tết với gia đình bên nội như mọi năm. Thật tình tôi không biết mình nám lại vài ngày để làm gì? Thành phố này chẳng còn gì để tôi lưu luyến, để tôi ngồi lại nhìn mọi ước vọng của mình đã bỏ ra đi. Lòng người rộn rã cho một mùa xuân tới, sao lòng tôi sóng vỗ tiễn đưa người. Lúc đó tôi thật sự buồn và không hiểu vì sao? Người con gái nói yêu tôi, viết bao nhiêu lá thơ tình thương nhớ, cho nhau tất cả không gìn giữ tưởng chừng như gắn kết một đời. Rồi bất chợt xa lìa, bất chợt lấy chồng không một lời nói chia tay..? Tuổi trẻ thế hệ chúng tôi đã đi qua quá nhiều ly biệt, quá nhiều mất mát mà suốt đời vẫn mãi chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng, tại sao? Vài tuần lễ trước "người đó" có hẹn gặp nhau lần cuối, tôi im lặng chối từ. Thôi cần gì phải bận lòng nhau thêm nữa, để mai này nỗi đau sẽ ngắn vết da non!  Đang lúc chẳng biết làm gì để giết thời gian chờ đợi thì "Thịnh râu" ghé chơi và rủ tôi đi về thăm quê cậu mợ của hắn ở Trảng Bàng, Tây Ninh. "Thịnh râu" là tên của Nguyễn Trần Thịnh học chung lớp với tôi, có bộ râu mép đẹp không khác gì tài tử điện ảnh Trần Quang của Việt Nam. Thịnh chơi đàn guitar tuyệt vời, nên luôn được bầu làm trưởng ban văn nghệ của khoa. Tuy không phải là nhóm bạn "ăn thề", nhưng tôi và Thịnh cũng rất thân thiết qua các sinh hoạt báo chí văn nghệ. Hơn nữa lớp Việt hán của trường sư phạm năm đó cũng chẳng có bao nhiêu sinh viên...
    Trảng Bàng, nghe đâu chỉ là một huyện nhỏ khoảng giữa đoạn đường từ Sài Gòn đi Tây Ninh. Tôi không nhớ là Trảng Bàng có gì lạ để ghé thăm nên định thoái thoát nằm nhà. Nhưng Thịnh vừa năn nỉ vừa hứa hẹn nhà cậu mợ hắn là một nơi, nếu không đi là tiếc một đời..! Tôi nghi ngờ gặn hỏi, nơi nào mà phải tiếc cả một đời? "Xóm đạo Tha La... Là xóm đạo Tha La, toa nhớ đến gì chưa?", Thịnh đáp ngắn gọn. Là dân gốc trường Tây, Thịnh thường dùng "moa, toa" với bạn bè quen thân.
    Xóm đạo Tha La, tôi thảnh thốt. Đây là bài thơ "Tha La Xóm Đạo" nổi tiếng của nhà thơ Vũ Anh Khanh, mà hầu hết học sinh sinh viên đều biết đến và yêu mến. Bài thơ càng phổ biến hơn khi được nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc với ca khúc có cùng tên "Tha La Xóm Đạo" (1964). Năm sau đó 1965, lại được nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành ca khúc "Hận Tha La" và nhạc sĩ Anh Tuyền cũng phổ bài thơ thành ca khúc "Vĩnh Biệt Tha La". Cả ba ca khúc đều nổi tiếng.
    Được biết, "Tha La" xuất phát từ "Schla" trong tiếng Khmer, có nghĩa là trạm, nơi nghỉ. Địa danh này nay thuộc xã An Hoà, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh. Trong chiến tranh chống Pháp, Tha La đã chịu bao khói lửa tang thương. Tha La vắng vẻ lại càng vắng thêm bóng người, phủ lên khắp xóm làng nỗi buồn cô quạnh, xót xa. Cho tới nay thân thế của nhà văn, nhà thơ Vũ Anh Khanh vẫn còn là một bí ẩn, người ta chỉ biết ông tên thật là Võ Văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Năm 1954 ông tập kết ra miền Bắc và mất năm 1956. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và các truyện ngắn như Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông... Tuy nhiên bài thơ “Tha La Xóm Đạo” mới làm cho rất nhiều người nhớ đến tên tuổi của ông mãi tận sau này.
    “Tha La Xóm Đạo” là một bài thơ dài, viết theo lối hợp thể, đoạn mở đầu là ngũ ngôn, rồi chuyển sang tám chữ, sau đó thành kịch thơ và kết thúc bằng hai câu thất ngôn. Lời thơ giản dị, chân thành. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình đã làm rung động tâm hồn của nhiều độc giả ngay lúc chào đời. 
 
Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành..."  (*)

2.        
Đi xe đò từ bến xe miền đông Sài Gòn đến quận lỵ Trảng Bàng mất hơn hai tiếng, dù chỉ cách khoảng năm mươi cây số. Trên chuyến xe ngày cận tết đã nghe ngọt ngào mùi bánh mứt, mùi bột thơm của những ổ bánh mì Sài Gòn treo trước ghế ngồi của tôi và Thịnh. Tôi chợt thấy lòng lâng lâng, háo hức giữa không khí rộn ràng của mùa xuân. Khoảng gần mười một giờ trưa, chiếc xe đò bỏ chúng tôi xuống gần chợ Trảng Bàng, nằm dọc theo trục lộ chính giữa Sài Gòn và Tây Ninh. Vài em bé trai lẫn gái đầu đội chiếc nón cũ, áo nhiều vết vá, da sậm nắng gió chạy đến nài nỉ Thịnh và tôi mua những bọc bao lì xì, thiệp chúc Tết in sẵn và mấy gói mứt dừa, mứt gừng, mứt bí... thật đáng thương. Đã thấy chung quanh chợ Trảng Bàng những khẩu hiệu màu đỏ quen thuộc, những dãy hàng dưa hấu, những chậu hoa mai, vạn thọ, cúc vàng... bày la liệt dọc lề đường. Thịnh dẫn tôi đi men theo hông chợ, về phía bến xe lam nằm khuất phía sau.
    Hai đứa lên chiếc xe lam lộ trình Trảng Bàng - An Hòa - Phước Chỉ. Con đường đi qua những dãy nhà thưa, qua ngôi trường trung học phổ thông Trảng Bàng với ngói đỏ tường vôi vàng khá khang trang. Đường tráng nhựa kéo dài độ vài trăm mét thì rẽ tiếp vào con đường đất đỏ mà phía sau những chiếc xe gắn máy, xe lam là bụi tung mù màu đất. Quãng đường ngập nghềnh, nhà ở thưa thớt và gần như không còn hàng quán nào dọc theo. Bây giờ tôi mới thấm thía mấy câu thơ của Vũ Anh Khanh vẽ lên hình ảnh thôn làng trên đường vào xóm đạo: " Bụi đùn quanh ngõ vắng / Khói đùn quanh nóc tranh". Nắng bụi hanh hanh trong những ngày cận Tết, sao chợt nghe lòng thoáng những bâng quơ.
     Chiếc xe lam dừng lại, thả Thịnh và tôi ở đầu con ngõ. Tôi đã thấy nóc ngôi giáo đường cao phía trước trong màu nắng vàng tươi của mùa xuân. "Nhà thờ họ đạo Tha La đó!", Thịnh hất đầu ra dấu, "Chút nữa tụi mình vào thăm lễ buổi chiều". Căn nhà cậu mợ của Thịnh nằm lọt vào phía sau hàng rào dâm-bụt màu đỏ thẩm. Khu vườn cây ăn trái chung quanh, tôi thấy nhiều mít, cây xoài, cây ổi và những bụi tre, trúc xanh mướt lả ngọn theo từng cơn gió thoảng cuối năm. Gia đình cậu mợ Sơn cùng ba người con (hai trai, một gái) vui mừng chào đón hai đứa tôi. Nhà khá rộng, làm nghề đan tre gia truyền, với nhiều ảnh Chúa Jesus và Đức Mẹ Maria treo quanh tường. Thật ra gia đình cậu mợ Sơn có năm người con, hai con trai lớn đều có gia đình riêng ở Tây Ninh, mùng Một mới về thăm nhà chúc Tết. Phía sau nhà chứa toàn là tre và tre. Những cây tre đã vút sẵn thành từng cọng dài láng mỏng, rồi từng bó tre vẫn còn nguyên lá xanh tươi. Thúng tre, sàng bằng tre, bình đựng đồ bằng tre, khung ảnh tre... tất cả sản phẩm thủ công làm bằng tre thật đẹp, sắc sảo. Hai ấm nước nóng được nấu nhanh, Thịnh và tôi thay phiên nhau tắm gội sạch bao nhiêu bụi đỏ đường xa.    
    Rời nhà khoảng bốn giờ chiều, chúng tôi đi về phía nhà thờ. Người hướng dẫn là Ngọc Liên, cô em gái họ của Thịnh. Đang học lớp 12 trung học Trảng Bàng, Liên hơi ốm dáng dong cao, mái tóc cắt ngắn với đôi mắt đen lánh trong sáng, thánh thiện. Trong chiếc áo dài trắng sờn bâu cổ và khủy tay, Ngọc Liên thật dễ thương, xinh đẹp. Có thể do nhiều tưởng tượng, nhưng khi nhìn Liên tôi thấy có nhiều nét giống bức ảnh Mẹ Maria trên tường nhà nàng..!? Sau khi tắm rửa, ăn trưa với tô bánh canh thịt bầm, tôi cũng tươi tỉnh hẳn lên. Dọc hai bên đường đi vào nhà thờ họ đạo là những cây dương xanh cao, hàng cội mai già đã được ngắt lá chen lẫn mấy bụi tre, trúc xanh rì. Không hiểu sao tôi vẫn thấy trong không khí rộn ràng cận Tết, Tha La vẫn có nét hoang sơ heo hút, buồn buồn.
    Trước mắt tôi là ngôi giáo đường có đôi chút cũ kỹ, cổng tường vôi mới quét sơn màu vàng với bốn chữ lớn "Họ Đạo Tha La" màu trắng trên cao. Cây thập tự giá lớn dựng trên bờ tường đá phía bên trái của cổng, tạo một nét đặc biệt của ngôi nhà thờ họ đạo. Những chiếc lồng đèn hình ngôi sao nhiều màu sắc, treo dọc theo cổng vào bên trong khuôn viên nhà thờ. Phía trong là ngôi thánh đường trang nghiêm hai mái ngói sẫm, tường vách đá xám với tháp chuông vuông vức uy nghi và thật đẹp. Tôi đã thật sự đến Tha La, thật sự bước những bước chân vào bài thơ của Vũ Anh Khanh, như một giấc mơ đời có thật. "Anh Long thấy xóm đạo Tha La thế nào? Có như những gì anh tưởng tượng qua bài thơ không?", Liên đứng lại nhìn tôi cười hiền lành hỏi.
    Như bị đọc được ý nghĩ, câu hỏi bất ngờ của Liên làm tôi lúng túng. Bài thơ cho tôi nhiều tưởng tượng một xóm đạo Tha La tươi đẹp nên thơ với trái ngọt cây lành, với rừng xanh ngõ vắng. Và rồi Tha La tràn ngập trong khói lửa của cuộc chiến tranh, của chia ly, của điêu tàn và đầy nước mắt.
 
... Tha La hỏi:
- Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!"   (*)

Nhưng hiện trước mắt tôi là một xóm đạo Tha La nhỏ bé yên bình, chút heo hút hoang sơ, chút hiền hòa tĩnh lặng. Cả xóm làng họ đạo như được những rừng tre, trúc xanh tươi bao bọc vây quanh. Không biết tự bao giờ, chiến tranh đã tràn về nơi đây nhưng chung quanh tôi bây giờ không nhìn thấy những dấu vết đạn bom, lửa khói của một xóm đạo ven rừng. Mỗi lần có cơn gió mùa thổi lên, là xóm đạo như vang vang khúc nhạc lá của ngàn tre... Cả một Tha La chừng như không quá trăm căn nhà dọc theo ngôi thánh đường cao, ngự giữa thôn làng. Tha La còn đẹp hơn ngoài đời với hình ảnh đôn hậu mộ đạo, thiết tha tình người của gia đình cậu mợ Sơn và cả nụ cười ánh mắt của Ngọc Liên. Tôi nói với anh em Thịnh và Liên ý nghĩ của mình và dĩ nhiên giữ lại phần sau về cô gái nhỏ. "Đúng thế anh ạ! Chính đấy là lịch sử của Tha La, là hình ảnh của người xóm đạo!", không như Thịnh giọng bắc của Liên thật nhẹ, dễ cảm lòng người.
    Qua khỏi nhà thờ họ đạo, con đường đất dẫn sâu vào thôn làng càng hun hút với những cơn gió mùa khô nhạt nắng chiều. Chắc nhìn thấy khuôn mặt thẩn thờ của tôi, Ngọc Liên thường dừng lại và cắt nghĩa tên của từng loài hoa dại mọc dọc ven đường. Nâng trong tay một cành hoa sim màu tím nhạt, Liên đưa cho tôi: "Tặng anh hoa sim rừng của xóm đạo, của Tha La"! Gió mùa hiu hắt của khu rừng thưa thổi cuốn hút bụi đường, vân vê tà áo trắng của người con gái. Mùi nắng hanh khô đượm hương con gái ngất ngây trong gió chiều nhẹ lơi... Nhà cửa cũng thưa dần, vắng hơn người đi lại. Ngọc Liên cho hay đã cuối xóm đạo Tha La, phía trước là ven rừng qua xã khác. Chợt đâu tiếng chuông đổ liên hồi, thức tỉnh cả không gian trầm mặc chung quanh. Mải mê đưa tôi đi thăm xóm đạo đã lỡ mất buổi lễ chiều, cả Thịnh và Ngọc Liên dừng lại, quay về phía nhà thờ cúi đầu và đưa tay làm dấu thánh giá. Những người giáo dân đi đường cũng làm như vậy. Tất cả sinh hoạt đều như ngừng lại, mọi người trang nghiêm hướng về giáo đường cầu nguyện, dọc theo xóm đạo chiều cuối năm.
    Đứng cúi đầu lặng im bên cạnh Ngọc Liên, tôi chợt nghe đâu đây tiếng vọng của từng cơn gió mùa, thổi lao xao ngàn lá động ven rừng:
 
- Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
- Xin thưa, tôi lạc bước!

Không là duyên, không là bèo kiếp trước
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ..."  (*)
 
3.
Mới đó mà đã năm mươi năm, đã cuối một đời người... Bài thơ của Vũ Anh Khanh và hình ảnh xóm đạo Tha La vẫn luôn theo tôi qua bao nhiêu sông dài biển rộng, qua bao nhiêu năm tháng đời người... Lần cuối tiễn đưa nhau ở bến xe Trảng Bàng, Ngọc Liên người con gái xóm đạo tặng tôi bức ảnh ngôi giáo đường với lời nhắn nhủ: "Anh Long nhớ trở về thăm xóm đạo, thăm Tha La nhé anh!". Tôi đã hứa: "Chắc chắn anh sẽ trở lại thăm Tha La, thăm xóm đạo và gia đình Liên"! Tôi định nói thêm: "Để được gặp lại Ngoc Liên". Nhưng nhìn vào đôi mắt đen tròn của nàng, tôi biết mình không cần phải nói. Trước khi bước lên xe, không hiểu sao tôi quay lại đưa tay về phía Ngọc Liên, như một phản xạ tự nhiên. Và nàng cũng đưa tay cho tôi nắm. Bàn tay người con gái mềm mại, ấm áp trong lòng tay tôi bịn rịn, không rời... Chuyến xe Trảng Bàng - Sài Gòn rời bến, để lại sau lưng hình bóng người con gái mờ dần trong bụi đỏ và lời hứa sẽ trở về.
    Và tôi đã không giữ lời hứa với lòng, với người con gái xóm đạo năm xưa. Dòng đời không trôi xuôi theo lòng người ước hẹn. Tôi đã vượt qua bao nhiêu biển cả trùng khơi, qua bao nhiêu vùng đất lạ quê người nhưng vẫn chưa lần trở lại thăm vùng đất ven rừng, thăm lại ngôi giáo đường xóm đạo. Lần cuối cùng tôi được tin mẹ Ngọc Liên mất và cả gia đình dọn nhà về Di Linh để trồng trà. Còn Nguyễn Trần Thịnh về dạy ở Khánh Hòa, vượt biên và đang định cư ở Canada. Chỉ có vậy, tôi mất hẳn tin tức về "Thịnh râu", về gia đình Ngọc Liên, người con gái họ đạo... Bài thơ của Vũ Anh Khanh vẫn còn đó, ca khúc "Tha La Xóm Đạo" của Dzũng Chinh sẽ còn sống mãi trong lòng mỗi chúng ta. Ngôi giáo đường cũng vẫn còn đó, xóm đạo Tha La cũng mãi còn đó với miền đất đỏ Trảng Bàng, nhưng những người yêu thương của tôi giờ ở phương nào? Tha La xóm đạo trong tôi không phải chỉ qua hình ảnh trong bài thơ của Vũ Anh Khanh mà là ngôi nhà của gia đình cậu mợ Sơn và Ngọc Liên, người con gái có nụ cười ngoan hiền khó quên; là người giáo dân đôn hậu hiếu khách, là tiếng chuông đổ liên hồi trong xóm đạo mỗi buổi chiều rơi. Hình ảnh của Thịnh, của Ngọc Liên và của giáo dân Tha La đứng dọc bên đường đất đỏ cúi đầu cầu nguyện vẫn còn đọng mãi trong tôi, không nhạt mờ qua năm tháng. Bây giờ họ sống ra sao, ở đâu trong dòng đời xuôi ngược vô chừng? Bức ảnh ngôi giáo đường "Họ Đạo Tha La" Ngọc Liên tặng tôi cũng không còn nữa, cành hoa sim rừng tím nhạt cũng đã để lại đâu đó nơi gió cát bụi đời. Nhưng hơi ấm bàn tay mềm mại và những dòng chữ nắn nót viết phía sau bức ảnh của người con gái buổi tiễn đưa, vẫn còn trong tôi như mới chợt hôm nào:
 
... Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh..."  (*)
 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(*) Tha La Xóm Đạo - Vũ Anh Khanh

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.