Hôm nay,  

Khúc vong tình Valentine

14/02/202408:10:00(Xem: 2999)
Truyện -- Valentine's Day

nguyetcam 2
Tranh Đinh Trường Chinh.


Cơn mưa đột ngột buổi chiều vào ngay giờ cao điểm đông xe, đông người trên phố. Trở lại công việc ngay mùng Ba Tết, bữa nay thì phải chạy giao hàng từ sáng sớm, tôi mệt mỏi tách chiếc ‘cánh én’ cà tàng của mình ra khỏi luồng xe, tấp đại vô một mái hiên. Một chiếc hai bánh khác cũng tấp theo và một cặp trai gái hối hả bỏ xe chạy vô đứng cạnh tôi. Đã đỡ ướt át khó chịu, tôi nhìn quanh. Thì ra bên cạnh tôi chỉ là hai đứa thiếu niên. Cô bé tuổi khoảng 15 hay 16, mặc váy ca-rô, áo sơ-mi trắng, toàn may bằng hàng mắc tiền trông rất sang trọng, trên tay cầm một cánh hoa hồng bọc giấy kính. Cậu con trai trắng trẻo, bảnh bao, cử chỉ đầy âu yếm khi bảo cô bé đưa cho cậu xem cành hoa hồng có bị ướt nước mưa không.
    Chợt lòng tôi bồi hồi, lãng đãng buồn, không phải bởi cành hoa hồng trên tay cô nhỏ kia nhắc nhớ hôm nay là Ngày Tình Nhân ‘Valentine’, mà bởi chợt nhận ra gương mặt xinh xắn của cô nhỏ rất giống nhỏ Thi ngày xưa.
    Hồi đó, vừa lấy xong cái cử nhân Triết ở tuổi 21, đã nhận sự vụ lịnh đi dạy lớp 12 ở một trường tỉnh lỵ, không hiểu do run rủi nào mà người yêu của tôi lại là một cô nhỏ lớp 10. Có lần cô nhỏ áo dài trắng này đột ngột như một cơn mưa không hẹn trước, bối rối đến tìm tôi ở trường Văn Khoa vì chuyện bị tai nạn… gãy guốc khi đi học về, đã khiến cho mấy cô sinh viên cùng lớp xì xào rằng “Cái tên Hùng chuyên môn chơi với con nít!” Tôi không thèm phân bua làm gì khi nhớ tới một cô nhỏ khác, tuổi chắc cũng bằng nhỏ Thi, gặp nhau trong một dạ vũ gia đình toàn dân trường Tây, giữa một bản slow mùi mẫn đã hỏi tôi: “Moa học ở Mari-Cút, lớp mấy hả, sixième thôi, còn toa, lên troisième chưa, trường nào?” Chắc lúc đó, dưới ánh đèn nhạc dance mờ mờ ảo ảo, cái mặt giáo sư dạy lớp 12 của tôi trông quá baby nên cô bé lớp 6 trường đầm kia mới nghĩ rằng tôi đang học tới lớp 10 trường tây. Tôi đành an phận làm baby và dĩ nhiên, không dám thố lộ câu chuyện buồn tủi này với nhỏ Thi. Chỉ có điều an ủi là qua chuyện này, tôi đã tìm ra triết lý mới, rằng trong giao du với phụ nữ ở lứa tuổi thích-ô-mai thì không nên đề cập tới chuyện tuổi tác, lớp liếc gì sốt!
    Bên cạnh đó, một cô bạn dạy lớp 12 ban C, tức là có mấy tiết tâm lý học, đã hoàn thành một công trình nghiên cứu xuất sắc về xu hướng tâm lý “Chuyên môn chơi với con nít”. Rằng đó là những ẩn ức nội tâm đã hình thành từ quá khứ, rằng thuở bé tôi đã thiếu tình mẫu tử, hay trầm trọng hơn là tôi đã có bà mẹ quá nghiêm khắc, cứng cỏi, thậm chí là quá hung dữ, tàn ác, đã khống chế, dày vò tâm lý trẻ thơ trong tôi cho tới thời kỳ dậy thì, khiến nhân cách tâm lý tôi phát triển không bình thường, rằng là từ trong sâu thẳm của tiềm thức, tôi đã có mặc cảm sợ hãi, đố kỵ đối với mẹ nói riêng và phụ nữ nói chung, rằng đến cuối cùng, khi trưởng thành, trong ý thức của tôi về quan hệ ứng xử cùng quan niệm luyến ái, tôi tránh né mẫu người phụ nữ trưởng thành, cùng vai phải lứa với mình và chỉ hướng về mẫu phụ nữ “bé gái”, đối tượng mà tôi cảm thấy có thể an tâm giao phó tình cảm! Và rằng đây cũng là một trục trặc tâm lý có tính bệnh lý biến thái, vì nếu đã thiếu thốn tình mẫu tử thì đúng ra tôi phải hướng về mẫu đàn-bà-mẹ, đằng này tôi lại hướng về mẫu đàn-bà-trẻ-con!?

    Nói cho thật lòng thì hồi đó, tôi không mắc cỡ gì cho lắm đối với cô bạn chuyên gia tâm lý học cùng toàn bộ công trình nghiên cứu rất đáng quan tâm nói trên. Tại sao tôi lại phải lên tiếng thanh minh một khi tình cảm và quan hệ giữa tôi và nhỏ Thi rất trong sáng? Thỉnh thoảng gặp nhau, có khi ở những quán café nhạc hay tiệm chè cốc-tai, có khi ở thư viện Đắc Lộ hay Trung tâm Văn hóa Pháp, thích nhất là ở khu thư viện cũ đường Lê Thánh Tôn, có quán cà phê Thằng Bờm và những đêm nhạc Trịnh Công Sơn, Khánh Ly. Có khi ở một góc vắng trên lầu ba trường Văn Khoa, trời mưa nhẹ, hai đứa tôi kéo những chiếc ghế gãy ra ngồi chông chênh, để tôi khe khẽ hát cho nhỏ Thi nghe phần lời mở đầu của một ca khúc – nhất định là về tình yêu chứ không gì khác được – mà tôi làm mãi không xong sau khi bày đặt theo học một khóa căn bản về sáng tác nhạc.
    Và thời ấy, nhất định là chỉ có những cái nắm tay, chưa một nụ hôn đầu đời. Chỉ có thủ thỉ tâm sự, trêu chọc, hờn dỗi, làm lành rồi hờn dỗi tiếp. Chỉ có những câu hỏi ngây thơ, ngớ ngẩn và những câu trả lời ba xạo. Cứ thế mà qua đi những ngày mưa ngày nắng ở Sài Gòn, qua đi những mùa lá me bay lạc vào tách café ở cái quán cóc đường Nguyễn Du, cạnh nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, hay mùa của những hạt chong chóng cây sao xoay tít khi có gió lớn thổi tới đường Trần Quang Khải, Tân Định. Nếu là tình yêu thì chắc đây là kiểu tình yêu hình-như-là-tình-yêu. Trong tình yêu có lẽ không cần quá nhiều phân tích, tổng hợp mà có khi chỉ cần nói theo phim tình cảm Hồng Kông, rằng “Chỉ cần mình cảm thấy vui khi ở bên nhau là được rồi”.
    Chỉ có điều, như số phận của đại đa số những mối tình đầu đầy vụng về, khờ dại, tôi và nhỏ Thi đã nghỉ chơi, chia tay sau hai năm vui vẻ. Tôi lại câm nín, chịu đựng, không thề oán trách “người ta” vì trước sau tôi có nói lời tỏ tình đâu nào? Có điều là nhỏ Thi đã nói với tôi nhỏ không cảm thấy vui bằng với một bạn nam sinh cùng lớp đã dạy cho nhỏ tập chơi bóng bàn. Trời ạ, hồi đó tôi 21 tuổi, giáo sư dạy Triết, còn chưa hiểu hết vui – niềm vui, hạnh phúc trong tình yêu – là gì, nói chi một cô bé 16 như nhỏ? Nhưng chắc rằng cảm nhận của nhỏ rất hồn nhiên, chân thực, cả khi thương tôi lẫn khi không thương tôi nữa.
    Ngày giờ này, tóc đã hoa râm, trí tưởng đã mỏi mòn, tình cờ nhìn cô nhỏ váy đầm ca-rô kia mà tôi chợt bâng khuâng nhớ tới nhỏ Thi, nhớ tới chính mình của hồi xưa lãng mạn, lôi thôi, ngờ nghệch; nhớ tới chuyện bị người yêu nghỉ chơi vào đúng ngày lễ Valentine năm nào. Để rồi chính trong cái ngày mà thiên hạ gọi một cách đầy yêu thương, lãng mạn “Ngày Tình Nhân’, tôi lại đơn độc, tức tưởi ngồi viết đoạn cuối của mẩu tình khúc định tặng cho người yêu – giờ đây là một khúc vong tình…

– Phạm Nga

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.