Hôm nay,  

Panatnikhom, nhớ Bidong

20/03/202409:11:00(Xem: 3866)
Truyện

IMG_9393

 

Buổi tối hôm ấy, Quân đến nhà Phượng chơi như thường lệ. Sau vài câu thăm hỏi tình hình bệnh của má Phượng, chàng thầm thì:
    – Vài ngày nữa có chuyến vượt biên, xuất phát từ Bến Tre, là mối thân quen của bạn anh đang ở đảo Galang giới thiệu, chúng mình có nên đi không?
    Phượng e dè:
    – Nghe nói mối quen là an tâm rồi, nhưng anh biết đó, má đang bị tai nạn đụng xe, nằm một chỗ, sạp gạo ngoài chợ phải nhờ Dì Hường coi giúp, làm sao em đi được?
    Hai người yêu nhau cũng hơn ba năm, hai gia đình chưa chính thức gặp mặt, nhưng gia đình Quân yêu mến Phượng như thế nào thì gia đình Phượng cũng xem Quân như người thân thiết trong nhà. Giữa phong trào tìm đường vượt biển rầm rộ thuở ấy, Phượng chưa bao giờ được má cho đi chuyến nào vì ngại thân gái nơi biển cả, nhưng từ khi yêu Quân thì má thoải mái cho hai người đi vượt biên chung, vì dù sao có người yêu đi theo bảo vệ và che chở vẫn tốt hơn đi với đám đông xa lạ. Hai đứa em gái của Phượng tuyên bố không bao giờ đi vượt biên vì sợ biển, chúng bảo chờ anh Hai bên Mỹ bảo lãnh đi máy bay sướng hơn.
    Quân và Phượng đã từng  hụt hai chuyến hồi năm trước. Một chuyến tập trung gần Bến Bạch Đằng Sài Gòn, rồi bị Công An phát hiện, hơn một nửa nhóm bị bắt trong khi hai người may mắn thoát nạn. Chuyến thứ hai tại Rạch Giá Vũng Tàu, chưa kịp lên taxi (ghe nhỏ) thì ghe cuả ban tổ chức bị bắt, cả đám như ong vỡ tổ mạnh ai nấy chạy về Sài Gòn.
    Phượng nhìn Quân, quyết định:
    – Em nghĩ, anh cứ ra đi chuyến này, vì em tin vào câu “quá tam ba bận”, em linh tính thì không bao giờ sai.
    – Còn em thì sao?
    – Tới đâu hay tới đó anh ạ, còn những chuyến sau nữa mà, hơn nữa, chúng ta cứ giao cho số phận chuyện tương lai, còn bây giờ khi có thời cơ thì anh không nên bỏ lỡ.
    Thế là Quân lên đường. Hơn một tháng sau, Phượng nhận được thư báo tin của Quân từ đảo Pulau Bidong, Malaysia. Bức thư đầu tiên của nỗi vui đến bờ tự do, nhưng cũng có nỗi lo vì có cuộc thanh lọc dành cho các thuyền nhân nào đến trại sau ngày Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc tuyên bố đóng cửa các trại tỵ nạn từ ngày 14/3/1989.
    Ở Việt Nam, Phượng có hiểu gì hai chữ “thanh lọc” nên cũng tự tin (xen lẫn ngây thơ) ra khơi vào một chiều cuối năm khi sức khỏe của má đã ổn định trở lại bình thường. Lúc ấy, sau nhiều chuyến tàu vượt biên bị hải tặc Thailand cướp bóc hãm hiếp, nhiều chủ tàu tổ chức vượt biên đã cam kết với “khách hàng” sẽ không đi ngã Thailand dù đó là con đường biển ngắn nhất, thay vào đó sẽ đi xa hơn về hướng Indonesia, Malaysia, Philippines để bảo đảm an toàn. Tàu của Phượng cũng trực chỉ hướng Malaysia vì nhiều người trong chuyến tàu (trong đó có Phượng) đang có người thân ở đảo tỵ nạn Bidong. Nhưng người tính không bằng trời tính, tàu ra ngoài hải phận quốc tế nửa ngày liền bị chết máy, tàu cứ thế mà trôi trên biển Đông. Năm ngày sau, may mắn gặp một chiếc tàu đánh cá của ngư dân Thái tốt bụng, họ kéo tàu vào bờ biển tỉnh Chad của Thaland. Dù không đến được Malaysia như dự định, nhưng mọi người bước lên bờ trong niềm sung sướng vỡ òa, thoát cảnh lênh đênh ngoài đại dương bao la, không bị hải tặc “ghé thăm”.
    Lá thư đầu tiên Phượng gửi cho Quân từ trại tỵ nạn Panatnikhom Thailand là những nhung nhớ đầy vơi, và tiếc nuối khi không đến được Bidong đoàn tụ người yêu. Quân  vội vàng hồi âm:
    – Phượng ơi, kể từ khi biết tin em sẽ ra khơi, lòng anh mỗi ngày ngóng trông. Em biết không, đảo Bidong có cây cầu mang tên Jetty, là cây cầu đón những người mới nhập trại từ biển vào đảo. Biết bao nhiêu lần anh chạy ra cầu Jetty khi nghe tin có người mới đến trại, nhưng giữa những đoàn người bước lên cầu, anh đợi mãi vẫn chưa thấy bóng dáng của em. Hôm nay biết tin em đã đến Thailand, anh mừng lắm. Thôi thì chúng ta không được ở chung trại tỵ nạn, cũng là thử thách cho hai đứa mình. Cả anh và em từ nay sẽ “gặp” nhau qua những lá thư, cùng nhau cầu nguyện qua cuộc thanh lọc đáng ghét này, và hẹn ngày đoàn tụ ở Mỹ, em nhé.
    Thế là từ đó, hai người chuyện trò qua thư, cùng cam kết mỗi tuần phải gửi thư cho nhau. Quân và Phượng đều đi làm thiện nguyện, chờ đến cuối tuần viết thư, nhiều chuyện tâm tình, những câu chuyện thời sự, chuyện thường ngày ở trại, cũng như cho nhau những tin tức cần thiết cho cuộc thanh lọc.
    Phượng làm ở bệnh viện trại Panatnikhom, đúng nghề y tá của Phượng bên Việt Nam. Tại bệnh viện, Phượng kết thân với bác sĩ Nguyệt, trước khi vượt biên chị Nguyệt đã có kinh nghiệm mười năm làm bác sĩ tại bệnh viện Gia Định. Chồng và con trai chị đã định cư ở Canada trong chuyến vượt biển mấy năm trước, nên chị qua Thailand một mình, thế là hai chị em cùng ở chung căn nhà lá ngay kế bên bệnh viện trại.
    Hằng ngày cuộc sống ở trại trôi qua đều đặn như mọi ngày. Buổi sang thức dậy, trước khi đi làm, Phượng tạt qua bưu điện dò thư, có khi là thư từ gia đình và bạn bè bên Việt Nam, có khi là thư người anh ruột bên Mỹ, và vui nhất là ngày có thư của Quân. Chiếc phong bì luôn là màu xanh, bên góc trái là tên người gửi Vũ Đức Quân từ Pulau Bidong thương mến. Sau khi tan ca làm ở bệnh viện, hai chị em về nhà cùng nấu cơm, tắm rửa giặt giũ, đi dạo vài vòng trong trại, sau đó là buổi tối, mỗi người một góc nhà làm việc riêng, đọc sách báo, viết thư, học English hoặc đơn giản là nằm tán gẫu, kể nhau nghe những kỷ niệm còn để lại nơi quê nhà.
    Mỗi lần buổi sáng lãnh thư của Quân là Phượng vui lắm, để dành đó, chờ buổi tối mở ra xem, và cả buổi làm ở bệnh viện chộn rộn mong hết giờ về nhà. Chị Nguyệt đùa:
    – Bữa nay nàng không ăn cơm cũng no ngang hen!? Chị lại được tha hồ ăn hết dĩa gà mìn kho.
    – Ối, em nhường chị hết, em sẽ ăn mì gói Mama ngon hơn nhiều. Mà em có kể cho Quân nghe, lần trước vì mải đọc thư mà nồi gà mìn kho của tụi mình bị khét chưa nà!?
    – Thì em biết lỗi rồi, bây giờ chỉ dám đọc thư buổi tối thôi.
    Lần này, thư có kèm mấy tấm hình Quân chụp ở quán cafe Khu C gần đồi Tôn Giáo ( Phượng thuộc lòng các địa danh trong trại Bidong của Quân, cũng như Quân biết hết những chợ Lào, Bưu Điện,  trường ESL, khu trường tiểu học Nhà Sàn của Panatnikhom. Ôi, người ta yêu nhau, yêu cả đường đi lối về). Hình chụp Quân cùng vài bạn đồng nghệp dạy Tiếng Anh ở trại và có cả mấy cô gái là học trò trong lớp Quân dạy. Quân kể trong thư:
    – Chiều nay anh đang tắm, thì nghe bên nhà tắm nữ (cách nhau bởi bức tường xi măng) vài cô gái nói chuyện với nhau, bảo nhau tắm lẹ lẹ để kịp chạy đến lớp thầy Quân, kẻo hết chỗ phải chạy qua lớp thầy khác, dạy hổng hay bằng thầy Quân. Em thấy anh của em ... có uy không? Đời tỵ nạn, đó là những niềm vui nho nhỏ, khi mình giúp cho đồng bào học thêm Tiếng Anh, được người ta tin tưởng, cũng như em giúp bệnh nhân, được họ tặng quà, chút trái cây, bịch kẹo bánh, ấm lòng phải không em? Chiều nay dạy học xong cả nhóm đi uống cafe tiễn một Thầy đậu thanh lọc chuẩn bị rời trại chuyển qua Sungei Besi đi định cư.
    Chị Nguyệt ngắm nghía tấm hình rồi trêu Phượng:
    – Mấy cô gái trong hình xinh quá, coi chừng có người yêu thầm thầy Quân đó nghen. Ráng mà giữ chàng từ xa nhe nàng.
    Phượng bảo vệ người yêu:
    – Hồi còn ở Viêt Nam, có cô con gái chủ tiệm vàng cùng xóm ảnh, mê ảnh lắm, mà em đâu cần phải giữ, ảnh vẫn chọn em đấy thôi.
    – Ừa, tại em gái của chị xinh đẹp, duyên dáng quá chừng, chàng Quân chẳng dại gì.

*
 
Đó là lá thư cuối cùng Phượng nhận được từ Quân, rồi sau đó, vài tuần cho đến cả tháng vắng thư. Nỗi lo lắng, hoang mang với bao nhiêu câu hỏi trong đầu, Phượng chỉ biết chia sẻ cùng chị Nguyệt. Nếu trước đây chị hay nói đùa, thì lúc này chị rất nghiêm túc, khuyến khích Phượng thật nhiều:
    – Theo những gì em kể về Quân, và theo những lá thư chị đọc được của Quân, chị không nghĩ Quân là người tệ bạc, đổi thay mà không nói một lời giải thích. Trong một lá thư, Quân từng nói đã bàn bạc với các đồng nghiệp dạy English tại Bidong, nếu rớt thanh lọc, sẽ biểu tình chống cưỡng bách hồi hương và sẽ tuyệt thực nếu cần thiết, nên chị đang nghĩ đến khả năng Quân bị rớt thanh lọc.
    Đúng vậy, đâu riêng gì Bidong, mà ở tất cả các trại tỵ nạn Đông Nam Á, từ Hongkong, Indonesia, Malaysia, Thailand, người tỵ nạn đều tổ chức các cuộc biểu tình rầm rộ, nhiều người bị bắt biệt giam, tình hình tỵ nạn cuối mùa rối ren.
    Chị Nguyệt vì có chồng con bên Canada, còn Phượng thì nhờ lý lịch ba mất trong tù “cải tạo”, nên hai chị em may mắn đậu thanh lọc. Trong lúc chị Nguyệt chờ danh sách chuyến bay đi Canada thì Phượng có tên lên đường đi Mỹ, chị dặn dò:
    – Em cứ an tâm và vững tin đi định cư, giữ liên lạc với chị. Còn chị, thời gian này, sẽ nhờ người bạn bên bưu điện, nếu có thư Quân chị sẽ báo cho em. Đồng thời, qua tới Mỹ em phải mau chóng viết thư về Việt Nam dò hỏi bên gia đình Quân. Chị tin rằng, mọi việc sẽ tốt đẹp, chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi và cầu nguyện.
    Máy bay cất cánh khỏi phi trường Bangkok, mang theo Phượng với nỗi lòng ngổn ngang biết bao cảm xúc vui buồn suốt hơn ba năm gắn bó nơi mảnh đất tạm dung này. Hành lý của Phượng đơn sơ vài bộ quần áo, vật dụng cá nhân, và nặng trĩu những lá thư hình ảnh của Quân. Suốt chặng đường bay đến Japan đầy thao thức, nghĩ suy, cho đến khi máy bay đáp xuống phi đạo Tokyo Airport, trong đầu Phượng cũng làm xong một bài thơ .
    Phi trường sạch đẹp, rộng lớn, người ta qua lại tự do, Phượng chợt xót xa cho những đồng bào Việt Nam tỵ nạn còn đang kẹt ở trại, đang bị giam cầm vì chống đối cưỡng bách hồi hương, biết đâu cũng có Quân của nàng trong số đó.
    Phượng mua một ly cafe, đầu óc bỗng tỉnh táo hơn, ngồi viết lại bài thơ trên trang giấy, với niềm tin Quân sẽ đọc được bài thơ vào ngày hai người tương phùng, và ngày ấy chắc không xa lắm, phải không Quân ơi!?
 
PANATNIKHOM NHỚ BIDONG
 
Ở nơi đây không có biển đâu anh
Trại tỵ nạn bốn bề hàng rào vắng
Thailand những buổi trưa hè đầy nắng
Em ước ao nghe sóng vỗ rì rào
 
Những lá thư anh gởi, ôi ngọt ngào
Pulau Bidong bỗng thật gần gũi
Em như thấy anh đứng bên bờ biển
Mắt xa xăm nghe gió gọi tên em
 
Panatnikhom thao thức từng đêm
Em ngậm ngùi xuyến xao bao nỗi nhớ
Đại dương mênh mông đôi mình cách trở
Kể từ thuyền em cập bến Thailand
 
Để mỗi chiều anh dạo bước lang thang
Đến bên cầu Jetty thầm chờ đợi
Cầu tàu đón đưa bao dòng người tới
Mà bóng em vẫn xa thẳm mù khơi
 
Những lá thư trao nhau, tình đầy vơi
Em say sưa nghe anh đang kể chuyện
Kìa Đồi Tôn Giáo những lần cầu nguyện
Hay đêm mưa quán vắng uống cà phê
 
Bãi biển Khu C gió lồng lộng về
Nơi đây em đếm sao trời xứ Thái
Ngôi sao nào có lạc về bên ấy
Nhắn giùm em trăm nhớ với ngàn thương
 
Mong một ngày mình thôi hết vấn vương
Cùng hẹn nhau mừng vui trên đất mới
Bỏ lại sau lưng tháng ngày rong ruổi
Rời xa quê hương, mang phận lưu vong
 
Trại tỵ nạn xưa vẫn ở trong lòng
Dù thời gian phủ bụi mờ, tăm tối
Panat, Bidong cỏ hoang giăng lối
Ký ức ta vẫn rực rỡ hiện về
 
Đất nước mình rồi sẽ qua cơn mê
Mình nắm tay nhau thăm lại chốn cũ
Có một thời Panat buồn khắc khoải
Những đêm dài thương nhớ người Bidong
 
Tháng 3/2024, nghe Biển Gọi …

 

Kim Loan

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.