Hôm nay,  

Công án tân thời

30/04/202415:50:00(Xem: 3607)
Truyện

chinese-mythology

Ông làm bí thơ, quyền lực trùm một phương, ở triều đình hay ngoài châu quận đều đứng trên vạn người trong thiên hạ. Người ta vẫn bảo ông làm vua một cõi, điều này chẳng phải nói điêu mà thật sự như vậy! Lời bàn tán cũng đến tai ông, ông không nói năng gì nhưng tỏ vẻ hài lòng và mặc nhiên cho là thế.
Ông chẳng phải là nhân viên công quyền mà chỉ là người đứng đầu một bang phái nhưng quyền hành của ông phủ khắp, mọi việc lớn nhỏ đều do ông định đoạt, mọi chức vụ cao thấp do ông đặt để. Thiên hạ gọi ông là ông trùm,không một ai dám trái ý, thuộc hạ và bộ sậu luôn đoán ý buồn vui của ông mà hành xử.
    Xưa nay mọi người vốn là kịch sĩ, trong công quyền ai ai cũng nói giả, cười giả, sống giả… giờ thì càng phải nhập vai hơn nữa. Kẻ nào dại mồm ngoác miệng ra nói khác một tí thì coi như kẻ ấy tự chặt chân mình. Ông biết thủ hạ toàn đóng trò, tung hô nịnh bợ nhưng ông khoái, điều ấy như thể những liều thuốc phiện làm cho ông sung sướng đê mê, hễ thiếu là không chịu nổi. Bản thân ông cũng cười giả, nói giả, làm giả, đến nỗi tụi dân giang hồ kháo nhau: “coi vậy chứ hổng phải vậy”. Đứa nào khù khờ ngỡ thật thì chết không kịp ngáp. Nhớ hồi nẳm, có chú kia mới được bổ về địa phương, tuổi trẻ vốn ngựa non háu đá lại ỷ mình có bằng cấp học thật. Chú ngứa mắt trước những hiện tượng xun xoe bợ đỡ của đám công chức đương quyền đối với ông trùm nên chú ấy viết bài đả phá, châm biếm đăng lên mạng xã hội. Chú em ấy đã phạm sai lầm chết người, dám cắt cơn thuốc phiện của ông trùm, lập tức ông trùm hạ lệnh hạch tội, tổ chức đấu tố cả ngoài đời lẫn trên mạng, chụp cho chú em mấy cái nón giấy, mũ cối: “phản động”, “nằm vùng”, “suy thoái”, “diễn biến hòa bình”… Sau khi ông trùm và đàn em phong sát, chú em ấy chỉ còn mỗi đường về nhà giữ con cho vợ đi làm kiếm cơm, cũng may là chú em còn có thế lực đỡ đòn chứ không thì xộ khám rồi!
    Ông trùm và bộ sậu cũng như toàn thể hội viên của bổn bang đều biết rõ cái lý tưởng bấy lâu nay tôn thờ phong thánh ấy chỉ là đồ giả, mượn đó để làm công cụ giữ ghế kiếm ăn. Ai cũng cười cười là vậy, biết tỏng ruột gan của nhau nhưng cứ vờ vịt với nhau, nói trắng phớ ra là cả bọn cùng thờ bụt ăn oản.
Thuở ông trùm mới vào bang hội cũng máu me lắm, từng đánh bọn con nhang đệ tử chạy có cờ. Bọn thầy bà bói toán, đồng cô bóng cậu xính vính vì ông. Bọn ấy phải nằm im thu mình lại suốt bao nhiêu năm trường. Khi thời thế thay đổi, ông trùm lại quay ra chìu chuộng và tin vào bọn ấy còn hơn tin vợ con trong nhà. Ông xuất công quỹ lẫn tiền túi để phục dựng lại dinh cô miếu cậu, phủ ông hoàng, am bà chúa... hết sức vàng son lộng lẫy. Ông trùm chẳng sợ ai, chẳng tin ai, tuy nhiên trong thâm tâm ông vẫn tin có những vị khuất mày khuất mặt đang phù hộ nên ông mới được như thế. Ông cảm cái ơn ấy nên rất thành tâm nhiệt huyết đi hầu đồng, cầu cơ, xin lộc… Để che mắt thiên hạ cũng như tai mắt triều đình, ông tung tin đi du lịch tâm linh, hành hương thánh địa, tất nhiên là ai cũng biết tỏng nhưng chẳng ai dại mồm để rước họa vào thân. Thật ra mà nói thì đám thủ hạ và bộ sậu của ông trùm cũng tin sái cổ vào đám đồng cô bóng cậu như ông trùm mà thôi.
    Một hôm có kẻ trọc đầu xưng sư ở chùa Đại Hồng đến xin diện kiến. Lão trọc ấy vốn chẳng phải ai xa lạ gì với ông trùm, tuy nhiên gần đây ông trùm có lơ là lão vì quá sủng ái bọn đồng cô bóng cậu. Lão trọc ấy thường bày trò để ông trùm mạnh tay đàn áp những vị sư chân chính, cô lập người trung lương. Lão trọc tự xưng mình đã từng tham cứu tất cả các công án của thiền môn nên đã ngộ. Nay y đến cầu kiến ông trùm:
    – Kính thưa ông bí thơ, ông quả là người tài ba và sáng suốt, nhờ sự lãnh đạo của ông mà địa phương ta ngày càng phát triển. Tôi biết ông thông minh và có khí chất phi phàm vì vậy tôi muốn giới thiệu với ông bí thơ một vài công án để giác ngộ. Bản thân tôi đã giác ngộ công án: “Tiếng vỗ của một bàn tay” nên mới nhìn thấy chỉ có ông bí thơ là bậc cao quý, thân nơi chính trường mà tâm nơi Phật cảnh.
    Lão trọc khéo tâng bốc, miệng lưỡi lươn lẹo như thoa mỡ khiến ông trùm nghe thế sướng rêm cả người. Tuy nhiên ông ta làm bộ xua tay:
    – Quý hóa quá, quý hóa quá! Sư thầy đến đây thăm tôi lại còn chỉ bảo cho tôi những việc cao minh. Chúc mừng sư thầy đã giác ngộ, thật đúng là đại sư của triều đình. Sư thầy có thể chỉ cho tôi vài công án thiền gia để tôi thử sức tham cứu xem sao.
    – Công án: “Tiếng vỗ một bàn tay” vốn là công án của các sư Phù Tang chế ra, nó cũng chẳng có gì cao siêu, bọn sư ấy dùng để gạt người nhẹ dạ chứ gạt sao được tôi! Nhiều người mê hoặc nên cứ tham cứu rồi diễn dịch này nọ. Âm thanh của một bàn tay rất rõ ràng trong mắt tôi, nói một cách dễ hiểu là khi ông bí thơ giơ bàn tay lên, lập tức có vô lượng âm thanh phát ra. Nó có thể là âm thanh hoan hỷ để khen thưởng hay phủ dụ. Nó có thể là tiếng cảnh cáo những kẻ dám nói hay đi lệch hướng. Nó cũng là lời đanh thép để tuyên bố cho thiên hạ biết những gì ông trùm và bang hội đã quyết, thậm chí nó là tiếng gươm đao trừng phạt những kẻ “phản bội”, “suy thoái”, “thù địch”… Trên hết, thanh âm của một bàn tay là tiếng nói chân lý và lý tưởng của ông trùm đang tôn thờ và đang chỉ đạo mọi người, là thanh âm của quyết tâm thức để canh giữ hòa bình thế giới, là tiếng lòng chuyên chính, là âm vang của bạc vàng từ những dự án đang chảy vào túi của ông trùm…Khi ông trùm giơ tay lên, dù chỉ là một bàn tay nhưng tiếng vỗ của bàn tay ấy khiến cho thiên hạ phải nghe lệnh, vâng lời, phục mệnh không một kẻ nào dám cưỡng lại…
    Ông trùm nghe lão trọc tán một hồi như thế thì lòng dạ nở từng khúc ruột, tâm trí bay bổng còn hơn phê thuốc, tuy nhiên ông trùm giả vờ khiêm tốn:
    – Ấy chết, sư thầy quá lời, công án nhà thiền tôi nào dám đụng đến, tôi không có cao vọng ngộ công án như thầy vừa chỉ điểm. Tôi chỉ hy sinh dâng hiến đời mình vì dân vì nước nào ngờ lại hợp tông chỉ của công án đến như thế!
    – Ông trùm khiêm tốn quá, công án làm sao bằng được công đức của ông trùm, bọn dân đen ghi tâm khắc cốt ơn ấy. Công án chẳng qua là để ông trùm thư giãn và khai minh trí huệ về sau.
    – Cảm ơn sư thầy, sư thầy quá khen, nhờ sư thầy giới thiệu cho tôi vài công án để tôi thử sức mình, bình sinh tôi cũng yêu thích thiền vì thiền rất là trí tuệ. Tôi cũng muốn tham cứu công án để tâm thanh tịnh hơn.
    – Thật quý hóa, thật là hồng phúc của dân tộc, việc dân việc nước ngập đầu mà ông bí thơ vẫn không quên việc tu thân sửa tánh. Tôi phục ông bí thơ vô cùng, vậy thì lúc rảnh rỗi ông bí thơ hãy tham cứu công án mới này nhé, đó là công án: “Ánh quang minh của màu đỏ”
    – Cảm ơn sư thầy, công án này có vẻ rất lý tưởng.
    – Ông bí thơ quả thật thông minh và sáng suốt, năng lực có thừa, nếu muốn thì ông hãy tham cứu thêm công án thứ hai: “Công lực của một ký tự” như thế vừa tiết kiệm thời gian quý báu, vừa không lãng phí công sức của ông bí thơ, vừa được ngộ nhiều hơn.
    – Sư thầy nói chí phải, tôi sẽ quyết tâm tham cứu hai công án này.
Cuộc hội kiến giữa lão trọc và ông trùm kết thúc trong sự hỉ hả, cả hai đều hết sức hài lòng. Tiễn lão trọc ra tận xe, ông trùm quay vào và ngay lập tức vận công tham cứu liền, kể từ bữa đó ông trùm bế môn để tham thiền. Ở nhà, ông trùm treo bảng “cấm quấy rầy”, ở văn phòng cơ quan, dán biển “miễn tiếp khách”. Ông trùm quyết chí phải tham cứu để ngộ cho bằng được, nếu trước kia vì ngộ lý tưởng mà ông tôn thờ và theo phò một đời, những mong sự nghiệp đời đời sống mãi. Nay ông trùm muốn ngộ công án để liễu sanh thoát tử và từ đó mà ngày ngày chứng kiến sự nghiệp muôn đời của mình. Ông trùm từng nhiều lần tâm sự với bọn đàn em: “Chẳng phải mỗ ham ghế cao hay tham giàu mà tích trữ tài sản; danh vọng vốn phù phù du, của cải vật chất rất vô thường, chẳng qua là vì không nỡ phụ lòng tín nhiệm của chưởng môn nên giữ ghế và vì lòng yêu mến của mọi người mà tạm giữ số của cải phù du ấy”

    Từ hôm nhận hai công án từ lão trọc, ông trùm tuyên thệ phải tham cứu để ngộ, nếu không ngộ ra thì sẽ từ bỏ chức bí thơ, không làm ông trùm nữa! Ngày ngày ông trùm vận dụng hết những phương pháp lý luận vốn bẩm sinh và một phần từ học được ở trường chính trị cao cấp. Ông dùng ý chí sắt đá  mà cả đời đã xài để đấu tranh giai cấp. Ông tập trung cao độ đến mức có thể thần giao cách cảm với lão trọc và bọn đồng cô bóng cậu, tất nhiên là ông trùm cũng cầu khẩn nhờ đến trợ lực của các  vị khuất mày khuất mặt để giúp ông chóng khai ngộ. Ông dùng cái lối tư duy khoa học của giai cấp công nông để làm nền tảng cho việc tham cứu. Ông quyết tâm cảnh tỉnh chính bản thân để khỏi sa vào bẫy diễn biến hay lệch hướng tư tưởng bởi hậu quả phụ của việc tham cứu  tôn giáo gây ra. Ông giữ vững quan điểm tiến bộ và kiên quyết của người công nông vào việc tham cứu công án. Vợ con ở nhà, thủ hạ ở cơ quan, đồng liêu chốn công quyền… tất cả đều biết ông trùm đang tham cứu công án nên không một ai dám quấy rầy, thậm chí bọn họ còn liên tục đi hầu đồng, tiến cúng hậu hĩ cho dinh cậu, miễu cô, phủ ông hoàng… để hy vọng thánh thần giúp ông trùm sớm khai ngộ, phần nữa cũng để thiên hạ thấy mình cũng phục thiện biết thờ thánh thần chứ chẳng phải như lũ vô thần côn đồ vô lại.
    Thấm thoắt bốn mươi chín ngày trôi qua cái vèo như nước qua cầu, như lá rụng hoa rơi...Bốn mươi chín ngày vừa qua như thể một giấc mơ. Ông trùm bừng tỉnh, hoàn toàn khai ngộ. Ông đã thâm nhập vào cốt tủy của hai công án ấy. Ông đã đắc được thiền cơ… Ông trùm thấy người nhẹ nhõm bay bổng, tinh thần lâng lâng sảng khoái, trí óc sáng láng, tư tưởng vững chãi hơn, quan điểm kiên cố hơn và niềm tin bất diệt. Ông trùm nhắn tin cho sư thầy chùa Đại Hồng đến để bàn bạc tổ chức buổi lễ trình pháp và ấn chứng. Hai người bàn thảo cặn kẽ từng chi tiết nhỏ nhặt nhất cho đến những vấn đề lớn có thể ảnh hưởng đến lý tưởng, đạo pháp và sự trường tồn của bổn bang. Ông trùm bảo đảm mọi chi phí do công quỹ chi, còn chùa Đại hồng và lão trọc chịu trách nhiệm trang trí, mời sư khách, thầy pháp…
Đúng lịch trình, ngày bảy tháng bảy vào lúc bảy giờ, bảy phút, bảy giây, tại chùa Đại Hồng. Lão trọc tuyên bố khai mạc buổi lễ ấn chứng. Quang cảnh chùa thật lộng lẫy vàng son như hoàng cung, cờ đạo bay dưới cờ đời, chánh điện hương hoa ngào ngạt, trên bệ thờ tượng Phật đồng ngồi với tượng ông kẹ. Dưới sàn bọn nữ nhân trẻ đẹp mặc áo dài mỏng tang đang lượn lờ múa may. Bọn hồng tăng đắp cà sa lụa vàng viền cạp điều đỏ, ngực đeo đầy huy chương, mề đay, mặt mày bóng lưỡng và hí hửng thấy rõ. Quan khách công quyền vận đồ tây, mặt nghiêm như những ông thần giữ cửa. Đám bộ sậu và mật vụ lăng xăng chạy tới chạy lui lo an ninh cho ông trùm. Trong thâm tâm không ít kẻ cười thầm nhưng không dám nói ra, có hai gã đàn ông trung niên vốn dưới trướng ông trùm nhưng đang nuôi lòng bất dị, hai kẻ ấy xì xầm với nhau: “Bố khỉ, tham cứu công án, tham thiền rách việc!  cạp không chừa thứ gì, ghế cao ngồi mãi không nhích đít, may ra công án cán bộ ông tham cứu công của thì đúng hơn!” . May cho hai gã ấy, kẻ nghe được lời ấy vốn là kẻ không ưa ông trùm, tuy theo ông trùm kiếm ăn nhưng vẫn nuôi lòng chờ chủ khác, kẻ ấy bỏ nhỏ: “Xin hai vị giữ mồm giữ miệng, ông trùm nghe được thì khốn!” hai kẻ ấy giật mình, cảm ơn hắn ta. Kẻ ấy thấy có vẻ đồng hội đồng thuyền, nhân đó xin theo làm đệ cho hai người. Cả ba tiếp tục rỉ tai nhiều bí mật cho nhau trong lúc bọn mật vụ quấn quýt nhặng xị coi trong ngó ngoài, xem xét từng cử chỉ và nét mặt của những người vào ra chùa. Những kẻ được chỉ định phát biểu lo lắng đi gặp trưởng ban tổ chức để nhận lại bài phát biểu vốn phải nộp để duyệt trước. Đám truyền thông và những youtuber, Blogger đệ tử ruột hay nhóm dư luận viên mới được phép tham dự. Bọn ấy xăng xái quay phim, chụp hình, like stream, zoom…nhặng xị cả lên.
    Ông trùm bước lên bục với tất cả sự bệ vệ vốn có, nay trang bị thêm chút thư thả giả tạo cho có vẻ thiền cơ một chút. Mọi người đứng dậy vỗ tay và hoan hô cung nghinh ông trùm như sấm dậy. Ông trùm khẽ nghiêng mình một tí xá xá pho tượng Phật tổ và tượng ông kẹ trên bàn thờ, sau đó quay xuống nhìn một lượt quan khách, hai tay nắm chặt lại giơ lên chào mọi người. Ông trùm bắt đầu những lời thưa hỏi khách sáo, rào trước đón sau và những lời đao to búa lớn như thường lệ, sau cả mươi phút mới đi  vào vấn đề:
    – Mỗ cả đời tôn thờ lý tưởng, cống hiến cho sự nghiệp, dù gì cũng đã một bí thơ, mình có sao thì người ta mới đối đãi mình như thế! Quý vị thử nhìn xem, có bao giờ được như thế này chăng? Mỗ mãn nguyện lắm rồi. Gần đây mỗ được sư thầy chùa Đại Hồng giới thiệu những công án mới, mỗ cố gắng tham cứu để thanh tịnh tâm. Mỗ quyết tâm với khí thế của một chiến sĩ tiên phong, không khoan nhượng, không thỏa hiệp, không lùi bước trước bất cứ thế lực nào. Mỗ đã tham thiền để ngộ nhập vào công án bằng tất cả sức lực quyết thắng, ngoài đời mỗ đã thắng thì mấy công án này cũng phải thắng. Phật tổ, các vị khuất mày khuất mặt đã hỗ trợ mỗ rất nhiều, nhờ thế mà mỗ đã thâm nhập được mật nghĩa sâu xa, khai phá được năng lực huyền bí đầy mầu nhiệm của hai công án: “Ánh quang minh của màu đỏ” và “Công lực của một ký tự”. Việc tham cứu công án khá nặng nề trong khi mỗ đã có tuổi, công việc quốc gia đại sự lu bu, gia đình vợ con đùm đề, đồng liêu trong triều ngoài quận đa đoan… Nhưng cuối cùng mỗ đã vượt qua tất cả. Suốt bốn mươi chín ngày đêm tham cứu và mỗ đã ngộ ra yếu chỉ thiền tông, mật ngôn công án, tâm pháp tổ sư. Màu đỏ là màu mạnh mẽ nhất, rực rỡ nhất, nóng bỏng nhất. Màu đỏ là sự tinh tấn, là nhiệt huyết mang tính chiến đấu, là chiến thắng trăm vạn quân địch và thắng bản thân mình. Phải dùng trái tim đầy máu đỏ để xây dựng thiên đường hạnh phúc chưa từng có trên mặt đất này, màu đỏ chiến thắng sự tối đen ngu si, chậm tiến, lạc hậu, phản động...Còn một ký tự cho dù nhỏ nhất, ngoằn ngoèo nhất, xấu nhất đi nữa nó cũng có công lực của nó nếu nó được viết hay ký bởi một người đã dành hết cuộc đời cho chiến đấu, trung thành với lý tưởng. Một ký tự nó có sức mạnh vạn năng, có thể quyết định sanh tử của một người hay một dân tộc. Một ký tự đơn sơ nhưng nó có thể xây dựng hay hủy diệt một quốc gia, có thể làm thăng hay đọa đối với ai đó...Một ký tự đơn giản bởi nó là một ký tự, đừng nhìn ký tự với cái tâm dính mắc, bản thân ký tự vốn không là gì cả, chẳng qua là mượn nó để biểu tỏ cái mình muốn. Mỗ đã ngộ ra, đã thâm nhập vào tận tầng sâu thẳm nhất của công án, tâm thức mỗ giờ đây như được ánh quang minh của mặt trời rực rỡ soi rọi, tuy nhiên mỗ không biết dùng ngôn từ hay ký tự gì để diễn giải sự giác ngộ này, rất may mắn là có sư thầy Đại Hồng điểm chứng sự khai ngộ của mỗ.
    Ông trùm thao thao bất tuyệt hơn hai giờ đồng hồ, hội trường im phăng phắc, mọi người nghe ông trùm, nhìn ông trùm cứ như thể một thiên sứ hay một vị Bồ Tát nào đó hóa thân để đến độ người. Sư thầy chùa Đại Hồng cũng hoan hỷ sung sướng cao độ, thỉnh thoảng cứ tự xoa đầu, vuốt giải điều đỏ nẹp viền cà sa vàng, tuy giữ lễ tiết oai nghi nhưng thỉnh thoảng quan khách vẫn bắt gặp sư thầy len lén quan sát mọi người. Trong phút chốc ông trùm ngưng một tí để nhấp ngụm nước và lấy lại hơi, chợt dàn loa khọt khẹt phát ra tiếng trẻ con:
    – Ơ, ông trùm đây mà! Tớ vẫn thấy ông ấy trên ti vi hằng đêm ở chương trình thời sự, nãy giờ ông ấy nói gì vậy? hiểu được chết liền!
    Một giọng trẻ con khác:
    – Cậu vốn thông minh mà không hiểu thì bố thằng nào hiểu được!
    Cả hội trường chết trân, bọn mật vụ lập tức tỏa ra truy lùng thì phát hiện hai thằng oắt con con của các vị quan chức tham dự buổi lễ. Hai đứa chui vào khu vực phát thanh ghi hình, chúng nghịch ngợm mà không biết lời của chúng vô tình vang khắp hội trường.
 

– Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0424

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.