Hôm nay,  

Diễm Xưa

01/05/202411:57:00(Xem: 5544)
Truyện

ARVN

Thằng Tường uống một ngụm bia, bọt bia trắng viền trên miệng nó thành một viền tròn. Nó đã bắt đầu ngà ngà say. Để chiếc ly xuống bàn chuếnh choáng, nó vung tay nói:
    –  Mày ở nước ngoài về mày có muốn ăn chơi, mày hỏi thằng anh mày đây nầy. Sang trọng, kín đáo, thì dùng đường dây sex tour ở các khách sạn từ ba đến bốn, năm sao. Ở đó an toàn nhưng rất hao địa. Xuống cấp thấp hơn một chút, mầy có thể đi ngủ khách sạn, rồi kêu em tới. Còn mầy sợ sida thì mầy đi phố Diễm Xưa. Ở đây có con phố mang tên giang hồ là phố Diễm Xưa, chứa toàn là những em nhỏ tuổi, xinh đẹp, thổi kèn hết ý.
    Thằng Hạn chen vào:
    –  Thằng Tường là thổ địa ở đây. Nó là kỹ sư cầu đường nên nó rành đường đi nước bước của thành phố nầy lắm. Mày tin nó đi Niệm. Nó dẫn dắt mầy đi chơi thì hết sẫy đó.
    Niệm không phát biểu, anh ngồi im lặng uống bia. Bia Heineken ở đây rẻ, uống được. Không đậm lắm nhưng không nhạt như Tiger hay Sài Gòn. Về thăm quê sau 5 năm ở Mỹ, anh kêu mấy thằng bạn ngày trước cùng học chung một trường trung học, đi nhậu chơi. Niệm thích uống bia, ngồi tán gẫu với bạn bè, nhưng ở Mỹ anh không thỏa mản được điều đó. Anh sợ lái xe mà có mùi bia mà cảnh sát stop lại là tàn đời trai, nên anh chỉ uống bia ở nhà, mà uống ở nhà, ngồi nhìn khoảng trắng bốn bức tường thì chán chết. Ngồi uống bia có người rót, có người đưa khăn lau mặt và nhìn thiên hạ qua lại, anh vẫn thích hơn.
     Thằng Tường và thằng Hạn đều tốt nghiệp kỹ sư ở Phú Thọ ra, nhưng bây giờ thằng nào cũng xuống cấp thấy rõ. Thằng Tường ngày xưa là thằng học giỏi nhất lớp, thi đậu hạng ưu, hạng bình, Tú Tài 1 và Tú Tài 2, học MGP rồi thi đậu vào trường Kỹ Thuật Phú Thọ. Ra trường được mấy năm thì Sài Gòn thất thủ, nó đi vượt biên mấy lần bị bắt ở tù. Nó chán không vượt biên nữa. Nay trên năm mươi tuổi, nó an phận thủ thường ở lại. Nó ăn chơi nhậu nhẹt từ lúc nào không ai hay.
    Niệm muốn mời hai bạn đi uống bia để ôn lại một vài hình ảnh cũ hồi còn trung học. Hình như những hình ảnh đó cứ bám chặt vào anh khi anh ở nước ngoài. Anh muốn biết tin những thằng bạn đã thất tán từ ngày đứt phìm. Nhưng Niệm thất vọng. Hạn và Tường hình như rành các quán xá, như làng nướng Nam Bộ, quán rắn Tri Kỷ, quán vịt Thanh Đa hay các quán bia ôm, các khách sạn có em út, hơn là địa chỉ của những thằng bạn cùng lớp, cùng trường hồi còn trung học.
    Câu nói của thằng Tường đã đánh động tâm hồn Niệm. Không phải vì anh muốn đến một nơi ăn chơi mà thằng Tường vừa kể, mà anh nghe đến tiếng ''phố Diễm Xưa''. Anh nghĩ đến một con phố đẹp, lịch sự, tao nhã. Ở đó sẽ có những cô gái tóc dài, mặc áo dài đủ màu sắc thật dễ thương, sẽ hát những tình khúc mà anh yêu thích, nhất là bản nhạc Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn, mà đã có một thời mê hoặc anh bằng mớ ngôn ngữ tuyệt vời đó. Và một người con gái hát bản nhạc đầu tiên ấy trong tâm hồn Niệm.
 
***
 
Đó là những ngày sau Tết Mậu Thân. Thị xã nơi Niệm dạy học đã trải qua những ngày tháng kinh hoàng của chiến tranh. Đêm tối mịt mùng của những ngày Tết với tiếng đạn AK xé trời. Tiếng hô xung phong của địch khi tiến vào Toà Hành Chánh tỉnh, vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Tiếng đạn phòng thủ bắn trả lại mãnh liệt. Địch không làm chủ được tình hình và sau đó đã phải rút về hướng bờ sông, khu có những hàng phi lao rậm rạp, mong che chắn tầm truy kích của không quân. Trực thăng gunship của quân đội cộng hòa đã bay lên và tiêu diệt. Lần thứ nhất trong đời Niệm nhìn thấy xác chết của địch  nằm la liệt.
     Đó là cuộc Tổng Công Kích của địch trên toàn quốc. Giới nghiêm trăm phần trăm. Sau đó một thời gian, trường anh dạy mở cửa lại, và công tác đầu tiên của trường là tổ chức một buổi trình diễn văn nghệ để lấy ngân quỹ cứu trợ nạn nhân chiến cuộc trong trận Mậu Thân vừa qua. Niệm là giáo sư trưởng ban văn nghệ toàn trường, trường anh sẽ đóng góp một số tiết mục trong buổi trình diễn văn nghệ nầy, cùng chung với các trường trung học khác trong quận. Và hôm đó anh đã gặp Diễm Xưa.
    Cô giáo viên tiểu học có mái tóc dài xoả dài trên vai và lưng. Trông nàng giống như một nữ sinh hơn là một cô giáo. Khi Niệm dẫn các học sinh tham gia văn nghệ vào hậu trường để chuẩn bị trình diễn thì anh thấy nàng. Cái nhìn đầu tiên cho anh cái cảm giác rờn rợn. Nàng mong manh quá. Chiếc áo màu vàng nàng mặc quá nhẹ. Anh nghĩ nếu có một cơn gió nào đó thổi, sẽ hất tung nàng lên. Đôi mắt lớn, đẹp và buồn. Sao cô gái nào có đôi mắt lớn, anh đều có cảm tưởng rằng nàng buồn lắm. Mái tóc buồn theo đôi mắt, mới gặp lần đầu nàng đã làm anh choáng váng. Anh tự trấn tỉnh mình, hãy bình tỉnh lại đi Niệm.
    Đầu tiên của đêm văn nghệ là vũ khúc Tiếng Hát Mường Luông do các học sinh trường trung học Lý Tín biểu diễn. Cô Kim Yên hát rất hay lời bản nhạc trên để làm nền, đệm theo điệu vũ. Hình ảnh những cô sơn nữ bận xà rông, những chàng sơn nam mang gùi làm những động tác của dân sơn cước, làm hội trường rộn ràng hẳn lên. Tiếng hát ''Đây Mường Luông, dốc cao thác ghềnh cheo leo, bóng ai lưng chừng lưng đèo...'' vang vang trong hội trường làm không khí buổi văn nghệ thật sôi động. Tiếng vỗ tay cổ vũ rào rào. Đến khi chương trình của trường Niệm lên trình diễn,  nữ sinh Xuân Thu lên hát bản Cánh Hoa Thời Loạn cũng rất tới. Tiếng vỗ tay rồn rập cả hội trường.
 
***
 
Nhưng đến khi xướng ngôn viên giới thiệu cô giáo Diễm Xưa sẽ lên trình bày nhạc phẩm Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn, lúc nầy hội trường mới như vỡ ra, tiếng vỗ tay ào ào đồng loạt rồi im phắc. Chỉ còn lại tiếng nhạc đệm. Tiếng trống, tiếng trompette rít lên nho nhỏ. Diễm Xưa bước ra sân khấu với áo dài vàng. Tóc dài phủ cả một vạt lưng. Đèn trong hội trường tắt bớt tạo nên một không khí mờ ảo.
    Niệm đứng phía dưới nhìn lên sân khấu, ngó nàng đăm đăm. Anh muốn ghi hình ảnh có một không hai nầy. Tâm hồn anh chao động vô cùng. Nàng cúi đầu chào khán giả rồi bắt đầu cất tiếng ca: Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao. Tiếng hát cất lên như từ một không gian nào đó, lắng đọng, tràn ngập, òa vỡ. Như từ một cõi huyền hoặc nào đó, tuôn tràn vào từng li ti những huyết quản làm mọi người rung động bàng hoàng. Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhớ mãi trong cơn đau vùi làm sao có nhau hằn lên nổi đau, bước chân em đi về mau. Mưa vẫn mưa bay cho đời biển động... Tiếng hát vang vang êm nhẹ len vào trái tim anh, thành hình những giấc mơ, những mộng tưởng huyền hoặc.
    Khi nàng ngưng hát. Phải một chặp lâu, khoảng ba mươi giây đến một phút cũng nên, im lặng. Rồi sau đó là một tràn pháo tay dồn dập, dài, không ngớt. Diễm Xưa cúi đầu chào khán giả và đi vào phía trong cánh gà sân khấu.
    Diễm Xưa là tên nàng hay nàng muốn làm cho người ta chú ý mà nàng tự đặt cho mình tên Diễm Xưa, cùng tên ca khúc. Anh bàng hoàng trong những ý nghĩ bâng khuâng đó.
    Những ngày tiếp theo, Niệm đã trầy lên, trật xuống với những mộng tưởng yêu người tuyệt vọng. Anh đã mua bao nhiêu bản nhạc của Trịnh Công Sơn, của Từ Công Phụng, của Vũ Thành An để biếu nàng. Và anh còn làm thơ nữa. Làm thơ với cả tâm tình anh, cả tấm lòng anh. Nhưng Niệm không chen chân vào được trái tim nàng. Đến một hôm, anh đang ngồi uống cà phê ở quán Đợi. Anh thấy nàng ngồi trên chiếc xe jeep với một chàng sĩ quan trên vai gắn hai hoa mai đen. Anh ngó lơ không nhìn nàng nữa, không gặp nàng nữa, nhưng vẫn quên không được hình ảnh của nàng.
    Thằng Tường kêu thêm hai món nhậu. Tôm nướng và cua rang me. Hai món nhậu nầy bắt lắm. Niệm kêu thêm mấy chai Heineken. Khi cô tiếp viên bận cái robe màu xanh da trời thật ngắn, để lộ cặp đùi trắng nỏn, trông ngon lành, đến rót bia vào ly cho Niệm, cô gái đứng thật gần anh, cặp đùi cô cạ sát vào đùi anh. Niệm nghe nhột nhạt và nóng người lên hôi hổi. Anh đưa ly bia lên nói:
    – Này Hạn, Tường, ba đứa mình uống hết mấy chai bia nầy, rồi mày chở tau đến phố Diễm Xưa. Tau bao trọn gói.
    Tường cũng nâng ly bia lên, giọng lè nhè:
    – Việt kiều số một, number one.
    Một tiếng đồng hồ sau, Niệm ngồi phía sau yên xe cho thằng Tường chở đi tìm phố Diễm Xưa. Con đường chạy dài từ lăng cha Cả, xuống Lê Văn Sĩ, quẹo trái đường Điện Biên Phủ một chiều, 2 chiếc xe Honda Dream của Hạn và Tường có lúc lạng qua lạng lại. Ngồi phía sau, ôm lấy bụng thằng Tường, Niệm thấy như mình đang đi giữa những cơn sóng lượn. Xe chạy ngập đường, đường phố đủ màu sắc. Niệm ôm quanh bụng Tường như ôm một cành cây khô, khẳng khiu, đã cạn đi nhựa sống. Cuộc sống của Tường, một người trí thức, học giỏi nhất lớp, nhất trường ngày trước, bây giờ do đâu mà Tường lại ăn chơi bạt mạng thế nầy. Nghe nói, Tường đi nhậu riết, vắng nhà riết, cuối cùng vợ con cũng đâm chán đi. Tường đi về lúc nào cũng mặc.
    Xe qua cầu Điện Biên Phủ, một khoảng đường rộng như xa lộ hiện ra trước mắt. Đây là khúc đường của xa lộ Sài Gòn Biên Hòa ngày trước, con đường được chia làm hai, ở giữa có con lươn sơn đỏ. Một luồng gió mát thổi từ bờ sông Thị Nghè tràn vào cơ thể Niệm, làm anh nghe như tỉnh rượu hẳn ra. Tường chạy xe chậm lại, quay mặt lại sau nói với Niệm qua tiếng gió rít:
    –  Đây là đường Điện Biên Phủ, đọan nầy có tên là phố Diễm Xưa. Bắt đầu từ đây có quán hớt tóc thanh nữ số một, lấy tên là Diễm Xưa, nên người ta gọi phố nầy là phố Diễm xưa cho tiện việc sổ sách. Tụi mình vào tiệm nầy nhé, mày cứ tự nhiên như người Hà Nội, hớt tóc chỉ là cái cớ. Mày cứ vào đây thư giản, có em út đấm bóp cho mày, lau mặt cho mầy, hát cho mầy nghe, và màn cuối cùng là chơi nhạc...
     Niệm hơi khựng người, anh hỏi lại:
    –  Sao có nhạc vào đây, chắc chiếu video ca nhạc hả?
     Tường quát vào tai Niệm:
     –  Cái thằng Việt kiều nhà quê. Đến bây giờ mà mầy không biết chơi nhạc là gì, thôi để vào trong sẽ biết.
     Hạn và Tường dừng xe lại trước của một quán có tên rất tình: Hớt Tóc Thanh Nữ Máy Lạnh, Diễm Xưa. Chữ được kẻ sắc nét, văn hoa và bay bướm. Cả ba xuống xe thì có 2 cậu thiếu niên từ trong tiệm chạy ra đón lấy xe dắt vào tiệm liền.
     Tường đi gần lại phía Niệm, nó nói nhỏ vào tai anh:
     –  Tau đến đây thường thôi, để tau nói cho mầy biết trước, một suất là một tiếng đồng hồ giá là sáu chục ngàn. Vào trong tiệm sẽ có cả một tá em đợi mầy, mầy muốn em nào thì gọi em đó. Nên nhớ xong cuộc, mầy ''bo" ít thôi, năm chục ngàn là vừa, đó là cái giá chung chung, có người kẹo chỉ bo có hai chục ngàn. Mày đừng làm ra vẻ Việt kiều, nhưng cũng đừng kẹo quá. Thế nào mầy cũng vừa lòng. Mày chi trước cho tau và thằng Hạn đi, để tau bo cho ghẹ.
     Niệm móc tiền đưa cho hai đứa bạn. Xong, cả ba bước vào tiệm.
Khoảng năm sáu đứa con gái, đứa nào cũng thật dễ thương, tròn lẳn, mặt hoa da phấn chạy ra đón khách. Thấy Tường, một đứa con gái la to:
     –  Anh Tường, hôm nay có gọi em không?
     Tường nói lớn, ra vẻ quen biết lắm:
     –   Hôm nay anh dẫn khách mới đến cho các em đây, anh bạn của anh, các em nhớ săn sóc bạn anh tốt nhé.
     Tường và Hạn đã chọn hai cô gái và đi vào phòng trong. Còn Niệm đứng lớ ngớ chưa biết chọn ai. Thật ra anh quá lạ với cuộc chơi nầy. Có thể, đời sống ở đất Mỹ là một đời sống bình an quá. Nó không ồn ào và muôn mặt như ở đây. Có đôi lần, anh vào xem showgirls cho biết, nhưng tất cả đâu ra đó, anh ngồi ở dưới nhìn lên, những đứa con gái đủ mọi dân tộc trên sân khấu nhún nhẩy và từ từ cởi bỏ áo quần. Anh chỉ nhìn và chỉ được nhìn thôi. Không được sàm sở, sờ mó bậy bạ. Đó là quy luật. Còn ở đây, thật là một cảnh như chợ trời.
     Một cô gái còn rất nhỏ, đến nói với Niệm:
     – Lần nầy đến tour em tiếp anh, anh vào trong với em đi.
     Nhìn lướt qua cô gái, cô gái còn bé quá, anh đoán chỉ khoảng mười bảy, mười tám tuổi là cùng. Anh noí:
     – Thôi được, tôi chọn cô.
     Khi Niệm theo cô gái bước vào phòng thì cánh cửa kính cũng tự động khép lại. Bên trong một dãy ghế dựa được kê ở thế nằm. Căn phòng rộng kê khoảng mười ghế, đàng xa kia có một người khách đang nằm trên ghế, một cô gái ngồi kế bên đang xoa bóp cho anh ta, người khách choàng tay qua lưng cô gái xoa xoa sờ mó. Niệm cũng nằm trên ghế, anh thấy thoải mái vì máy lạnh được chạy đều. Từ bên ngoài không khí nóng hừng hực, vào đây như thấy khoẻ hẳn ra. Cô gái cầm cái khăn lạnh đến bên người anh, cô đắp chiếc khăn trên trán anh và lấy hai tay chắp lại đánh đều đều trên trán. Tiếng chách chách nghe thật vui tai. Xong cô tựa sát vào người anh, nàng nói:
     – Anh thấy đở mệt chưa, em lau mặt anh nhé, xong em sẽ mát xa cho anh.
     Cô gái làm việc rất chí tình. Cô tự động kích thích anh. Niệm để mặc cho cô gái làm gì thì làm. Đến khoảng hai mươi phút sau, cô gái chỉ một căn phòng nhỏ kế bên:
     – Anh vào trong với em nghe.
     Niệm nghe rạo rực trong người và ngồi dậy bước theo cô gái. Đây là một cái giường chiếc, dùng cho khách sau khi hớt tóc xong sẽ vào đây gội đâu. Đó là một cách ngụy trang, không có hớt tóc thì làm gì có chuyện gội đầu. Niệm ngẩn ngơ không biết màn hai sẽ là màn gì sắp diễn ra, nhưng anh cũng nằm xuống. Anh nghĩ, cũng là một dịp để biết thêm những mới lạ, mình đàn ông đâu có gì phải sợ hãi. Cô gái đến gần anh, cô kéo cái robe để lộ bộ ngực trần thon tròn cạ trên mặt Niệm. Rồi cô xoay người, cúi xuống phía dưới. Một chốc, Niệm nấc lên.
     Một giờ sau, sau khi anh đã xong xuôi mọi chuyện, anh bo tiền cho cô gái và hôn nhẹ lên đôi mắt đẹp của cô ta, cô ôm anh, nũng nịu nói:
     – Anh hiền và ít nói quá, lần sau có ghé đây chơi, anh nhớ kêu em nghe, em là Mộng Hiền.
     Niệm gật đầu. Anh bước ra khỏi phòng, tiến đến quày trả tiền giờ. Người đàn bà đứng thâu tiền chợt ngước mắt lên. Niệm nhìn sững, A, cô giáo Diễm Xưa, người mà cách đây trên ba mươi năm anh đã từng say đắm. Đôi mắt kia anh không nhầm lẫn vào đâu được. Niệm trả tiền và nhìn trân vào khuôn mặt nàng một lần nữa. Người đàn bà vẫn vô tình, nở một nụ cười thật đẹp, nàng hỏi nhỏ:
     – Mấy em có làm vừa lòng anh không?
     Niệm gật đầu rồi leo lên xe thằng Tường đã rồ máy sẳn.

– Trần Yên Hòa

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.