Hôm nay,  

Đất nước và nỗi lòng cầy lỏn mẹ

14/06/202400:00:00(Xem: 2502)

Capture
Cầy lỏn mẹ và con, một cảnh trong Natural Born Rebels.
 
Nỗi buồn tận huyệt của những đầu óc cải cách lớn nhất của dân tộc cũng giống như nỗi lòng của người mẹ khi thấy đàn con ngày càng suy kiệt. Mà những thách thức họ từng đối phó cũng chính là chướng ngại của người mẹ vì sự nhỏ nhen, ghen tuông của những thứ “cha/dượng” nhỏ nhen, thậm chí chỉ đơn thuần là thứ tiểu nhân mơ làm cha, làm dượng.
 
Tôi nhận ra điều này khi cùng con trai xem phim tài liệu khoa học Natural Born Rebels, chương nói về loài cầy lỏn. Loài thú này, tiếng Anh là moongoose, cái tên từng được CIA chọn làm mật danh cho chiến dịch lật đổ lãnh tụ Cuba Fidel Castro, Operation Mongoose, tuy nhiên tôi không bàn chuyện tình báo. Vấn đề ở đây còn lớn hơn nhiều bởi đó là vận mệnh, là sự sống còn của đất nước bởi những khó khăn hay hiểm nguy mà bậc làm mẹ của loài thú này hằng đối mặt cũng chính là sự “phản động” của những thế lực bảo thủ của đất nước trước những hoài bão đổi mới, đi lên.
 
Giống thú này sống tại Nam Á và Đông Nam Á, tập trung thành những cộng đồng tối đa khoảng 50 con và truyền thống “nội hôn” khiến chúng đối mặt với nguy cơ suy kiệt. Với bản năng làm mẹ, những con cầy cái hiểu rằng để phát triển nòi giống, để cho ra những đứa con khỏe mạnh, chúng phải giao phối với những con cầy đực dồi dào sinh lực khác bầy thế nhưng việc này bị chính bầy đàn của chúng chống đối, nhất là những con đực ghen tuông, sợ bị… sây sớt quyền lợi. Để tránh cảnh đổ máu, những bà mẹ cầy cả nghĩ này phải tiến hành việc phát triển giống nòi trong cảnh vụng trộm, đầy hồi hộp thế nhưng, dĩ nhiên, sự đời không phải lúc nào cũng may mắn cả.
 
Những nhà cải cách của chúng ta – sau khi có cơ hội va chạm với những nền văn minh khác - chẳng đã ưu tư về sự sống còn của dân tộc như thế là gì. Hãy nhớ lại nỗi buồn của Nguyễn Trường Tộ khi bản điều trần dâng lên vua Tự Đức bị đám triều thần ngu si đội mũ cánh chuồn cười cợt, vô hiệu hóa. Hãy nhớ lại nỗi buồn Duy Tân mà Phan Chu Trinh mang theo tận đáy huyệt: văn hóa dân tộc vẫn chưa thực sự chấn hưng, con người vẫn chưa thực sự thay đổi cách học để mạnh lên trước khi nói đến việc giành lại độc lập.
 
Vân vân, lịch sử cận đại đã chứng kiến biết bao con người với viễn kiến như thế nhưng đành bó tay, thúc thủ trước sự cười cợt, chế nhạo và phản đối quyết liệt của những thành phần bảo thủ, cắn phá như thể là đám cầy đực bất an và cả ghen, khăng khăng đòi “tắm ao ta”. Mà hình tượng “ao ta” này lại gợi nhắc hình tượng đã trở thành sáo ngữ trong cái khẩu hiệu “tiến ra biển lớn” hiện đang rôm rả; hết tiến trên kinh tế thì tiến đến văn hóa, văn học, rồi lặt vặt hơn là ẩm thực, thời trang và, thậm chí, cả … nhan sắc.

Nhưng để có thể “tiến ra biển lớn” với những bước đi vững vàng thì đầu tiên là phải mang… biển lớn về với mình, là hấp thụ những giá trị tinh hoa và phổ quát của nhân loại, một cách có hệ thống, tận gốc rễ. Không làm như thế thì hệ quả là chúng ta, từ bên trong, bất quá chỉ là một đám làm dáng, đua đòi còn, nếu đi ra ngoài, cùng lắm chỉ được chú ý, theo dõi như một thứ “đặc sản”.

Ngôn ngữ của chúng ta có tính cụ tượng và suy nghĩ chúng ta cũng nặng dấu ấn của đặc tính này. Nhận diện kẻ thù, chúng ta chỉ chú ý đến sự khác biệt bên ngoài, như Nguyễn Đình Chiểu trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
 
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan
Ngày xem ống khói chạy đen sì toan ra cắn cổ;
 
rồi đánh đuổi kẻ thù, chúng ta cũng nhìn sự độc lập – tự chủ của mình như là sự tự chủ ở cái bề ngoài, như Quang Trung trong Hịch đánh Thanh:
 
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chính luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

nên khi hấp thụ những giá trị bên ngoài, chúng ta chỉ sính những thứ cụ thể, nhỏ nhỏ. Theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trong cuốn Văn học thời toàn cầu hóa, thì thực ra thì chúng ta cũng thích hướng ngoại nhưng, đa số, chỉ thích cái gì nhỏ nhỏ mà đố kỵ với những gì có tính hệ thống, từ tận gốc rễ. Thích những gì nhỏ nhỏ, phơn phớt bề ngoài nên chúng ta khiếp hãi và báo động khi có cảm giác choáng ngợp trước những giá trị ngoại lại, như “dư luận xôn xao” ở miền Nam vào thập niên 1970 trước “hiện tượng sách dịch”, khi số lượng sách dịch qua mặt sách Việt. [1]


Có lẽ chính vì thế nên, cho đến bây giờ, ngã đường “tiến ra biển lớn” vẫn tiếp tục là khẩu hiệu chỉ để hô và cái “biển lớn” mang ra hay mang về chỉ là những gì phơn phớt, có tính trình diễn, như một thứ mì ăn liền.
 
Kể ra thì, gần một thế kỷ trước, đã có một thế hệ chấp nhận đổ máu để mang về một thứ “biển lớn” thật sự, có danh xưng rất oách là “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Đầu tiên là âm thầm, bí mật, sau đó là ồ ạt với sự bảo kê của bạo lực nhưng, như có thể thấy với hậu quả nhãn tiền, nó chỉ mang lại tác dụng duy nhất là tự đày đọa dân tộc mình, tự làm chậm chân đi của đất nước mình. Một thứ “biển lớn” mà cả nơi đã khai sinh ra nó và cả nơi đầu tiên áp dụng đã cho vào hàng phế thải. Còn trên đất nước chúng ta thì, có thể nói, đã chết lâm sàng và chỉ có thể tồn tại với cuộc sống thực vật qua những nghi lễ tế tự gượng gạo, hoàn toàn trái ngược với thực tế lịch sử.

Và cái đám cầy lỏn đực tồn tại theo những nghi lễ tế tự giả tạo kia. Càng yếu sinh lý như những hậu duệ đang sa sút và suy kiệt vì tập tục “nội hôn”, chúng càng bất an trước những khác lạ, dồi dào sinh lực hơn mình. Càng đau đớn làm tình với bóng ma của quá khứ như những con đực bị bệnh bất lực, chúng càng dữ dội trong sự ghen tuông bấy nhiêu. Chúng cảnh giác rình mò. Chúng khăng khăng kháng cự và chúng gầm gừ cắn xé.
 
Tra cứu thêm từ các tài liệu phổ thông tôi được biết thêm rằng, trong những tình thế khẩn cấp, cầy lỏn có thể dũng cảm chiến đấu chống lại cả sư tử, thậm chí từng có việc một con cầy lỏn dũng cảm đối phó trong vòng vây của bốn con sư tử.Vượt qua những giấy phút khiếp hãi ban đầu, con cầy đã trấn tỉnh để lắt léo tránh né nanh vuốt của đối thủ, có khi bất thình lình nhảy ra đối đầu, cắn vào mũi của kẻ thù rồi tẩu thoát. Mà để có thể chống trả kiên cường như thế thì, đầu tiên, con cầy lỏn tinh quái này phải có sức khỏe và phải kiên cường trong ý chí sinh tồn nên, do đó, khó mà tin rằng đó là một sản phẩm “nội hôn”.

Để sinh tồn, tổ tiên chúng ta đã từng đối đầu với con sư tử láng giềng như thế. Láng giềng này, vào đời Tống, đã đạt đến sức mạnh cực đại như một siêu cường của thế giới nhưng đã bị Lý Thường Kiệt đánh cho tan tành và, nhà Lý, vào thời điểm đó, là triều đại đã thực sự mang về cả một “biển lớn” khi công nhận Phật giáo là quốc giáo.

Còn cái bầy cầy chỉ có thể tồn tại theo những nghi lễ giả tạo và vờ vịt thống khoái khi khổ sở làm tình với quá khứ kia. Cứ nhìn cảnh chúng mệt mỏi, máy móc và suy kiệt khi đối đầu với sư tử, ai mà không nhận rằng đó chỉ là thứ sản phẩm nội hôn, sự giao phối nội bộ của những giá trị bảo thủ đã mang về đất nước gần một thế kỷ trước?

Cái tham vọng “tiến thẳng” lên một xã hội lý tưởng chỉ có trên lý thuyết đã thất bại ê chề. Và cái tham vọng “tiến thẳng ra biển lớn” nhất định cũng sẽ thất bại tương tự bởi, nếu chỉ vùng vẫy trong cái ao nhà chật hẹp, làm sao có thể, trong thoáng chốc, tự tin giữa sóng gió của đại dương?

Bởi thế cái chính không phải là vật vã giao hợp với quá khứ hay hò hét những khẩu hiệu giả tạo như một thứ viagara tinh thần. Cái chính là học theo những con cầy mẹ, là thật sự mở cửa về tinh thần, là giao phối với những giá trị tinh hoa và phổ quát của nhân loại một cách có hệ thống, tận gốc rễ, đừng có nông cạn và sốc nổi như thể đám trẻ trâu học đòi.
 
Chú thích:
  1. Năm 1970 là năm mà số lượng đầu sách dịch qua mặt đầu sách Việt tại thị trường sách báo miền Nam và gây nên mối lo âu về “hiện tượng sách dịch”. Tháng 8/1973 tạp chí Văn đã ra số đặc biệt về hiện tượng này, trong đó Mặc Đỗ đã thẳng thừng bài bác, cho rằng sự lo âu này là vô căn cứ.
Văn là bán nguyệt san và trong 11 năm tồn tại đã dành ra 90 số, tức gần 1/3 tổng số phát hành, cho những chủ đề về các tác giả hay tác phẩm ngoại quốc.

Theo Võ Phiến thì một trong những lý do làm nên hiện tượng sách dịch là sự phát triển của các đại học, giúp nâng cao trình độ dân trí. Dân trí cao hơn nhưng do các đại học dạy bằng tiếng Việt, không dạy bằng tiếng Pháp như thời thuộc địa nên trình độ ngoại ngữ của giới tốt nghiệp đại học không cao tương xứng. Dân trí cao hơn mà năng lực ngoại ngữ không tương xứng thì dẫn đến nhu cầu đọc sách dịch.

Võ Phiến (1986), Văn Học Miền Nam – tổng quan, Văn Nghệ, California, trang 240-243.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.