Hôm nay,  

Trăng Thu và Tôi... và Em...

8/25/202410:26:00(View: 3269)

iStock-1465441739
Photo: istock.

                                               

 

Sàigòn cũng như Phan Rang không có 4 mùa, nhất là mùa Thu. Nhưng Sàigòn cũng như Phan Rang đều có những đêm trăng Thu mờ ảo đẹp và buồn giống như mắt của em.

 

   Khi tôi đậu xong tú tài 1 thì em mới băt đầu lớp 3 tiểu học. Tôi vào Sàigòn ở trọ nhà mẹ em, môt người cô họ xa, để theo học ban Triết, trường Chu Văn An. Lúc đó em chỉ là môt em bé mới biết làm toán cộng, đôi khi cũng biết nũng nịu như hoa mắc cỡ. Những ngày đó, mẹ em nhờ tôi kèm em học thêm toán trừ, toán nhân, toán chia. Em thường hỏi tôi tại sao có nhiều thứ toán dữ vậy? Tôi cười trả lời em-ngoài đời còn có nhiều thứ tính toán hơn thế nữa. Em mở mắt to nhìn tôi, em gật đầu và mỉm cười, có lẽ em cũng hiểu được phần nào ý nghĩa của câu tôi vừa nói với em?

 

   Nhà mẹ em ở Bàn Cờ, khu lao động gần Chợ Lớn. Tôi và anh chị của em chia nhau căn gác lửng để ngủ và học hành. Có những buổi xế chiều tôi ngủ trưa, khi thức dậy tôi giật minh khi thấy em gối đầu trên bụng tôi em ngủ say mê. Bây giờ không hiểu em còn có nhớ những lúc ấy không nhỉ. Riêng tôi thì nhớ suốt đời, nhất là đôi má đỏ hồng và đôi lông mi mượt mà của em. Sau 5 năm ở trọ nhà em, tôi thấy em lớn và cao rất nhanh, gương mặt em có những nét gợi cảm vô cùng quyến rũ. Đôi khi tôi thấy em ngồi thẫn thờ môt mình, thì thầm những tình khúc của Trịnh. Em thường nói với tôi về ba em, một kỹ sư hiện ở Paris, ông đã có vợ đầm, bên nội em có quốc tịch Pháp nhiều đời... Khi tôi bắt đầu học năm thứ 3 trường Y-Sài Gòn tôi dọn vào ở trong cư xá sinh viên-Câu Lạc Bộ Phục Hưng- 43 Nguyễn Thống, thuộc quận 3 Sàigòn. Từ đó tôi ít khi trở lại thăm em mặc dầu lúc nào tôi cũng nghĩ về em, có những suy đoán về em, giờ này có lẽ em đang ngồi trong quán cà phê Givral ở đường Catinat hay ở đâu đó, với một anh chàng sinh viên nào đó...

 
   Bẵng đi vài năm tôi nghe tin em đã có chồng. Thú thật khi nghe tin đó tôi thấy mình mất mát một điều gì, lòng tôi xao xuyến lạ thường. Chồng em là một sĩ quan phi công lái trực thăng. Rồi đến lượt em có cô con gái xinh đẹp như em thuở còn nhỏ. Tôi không hiểu tại sao trông em không mấy gì vui mặc dầu em vẫn đẹp như xưa.

 

   Đến lượt tôi cũng có vợ. Vợ tôi một cố gái ngoan hiền. Chúng tôi có môt con trai, cũng nghich ngợm giống tôi lúc còn nhỏ. Lúc đó em thường khen tôi một người chồng phải đạo, môt người cha mẫu mực biết thương con, một người đàn ông biết bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi em nói những câu đó tôi thoáng thấy mắt em buồn. Khiến tôi có cảm tưởng em không mấy vui khi tôi đi lấy vợ.


   Một chiều nào em bắt gặp người con gái lạ đi bên cạnh, ngã đầu vào vai tôi. Em biết đó là ‘người ấy’ của tôi. Em cố nghiêng đầu nhìn cho rõ, em giật mình khi nhận ra ‘người ấy’ là cô con gái ở sau chùa Kỳ Viên. Từ đó em thường lân la đến nhà ‘người ấy’. Không hiểu em nói những gì mà “người ấy’ không còn hẹn gặp tôi nữa. Tôi đành mất ‘người ấy’, không dám trách em môt lời.

 

     Rồi môt lần tôi thấy hai mẹ con em ngồi trong quán ăn, tôi mới hay hiện nay em chỉ sống như bà mẹ đơn chiếc, chồng em đã qua đời. Thế là tôi đã mất ‘người ấy’ cũng như em đã mất chồng. Bây giờ em vẫn uống café một mình. Thỉnh thoảng tôi lên mạng gửi tin nhắn đến em, hỏi em sao rồi? Có tin gì vui không? Em cho tôi hay hiện thời cũng vài người theo đuổi em nhưng em nghĩ rằng chẳng bao giờ em có đươc môt người xứng đáng để tựa vào hay gối đầu trong lúc em cảm thấy cô đơn cần được an ủi.

 

   Nhiều lúc tôi cũng cầm lòng không đặng, tôi lên mang gọi bông đùa với em, tại sao em và anh không ăn ở với nhau như vợ chồng em nhỉ. Tôi chỉ nghe em sụt sùi trong chiếc khăn tay...

 

   Mãi đến bây giờ em và tôi vẫn lên mạng chí chát vơi nhau. Quen rồi. Đến nay em và tôi vẫn thế..

 

   Ngoài kia trăng Thu vẫn đẹp và buồn../.

 

Đào Như

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.