Hôm nay,  

Ngày Không Còn Mẹ

09/05/202500:00:00(Xem: 2421)
 
 ngay khong con me
 
 
 
                                     …Con biết con mất mẹ
                                            Là mất cả bầu trời…
                                                  ( TS Nhất Hạnh )
      Dù mình bao nhiêu tuổi , ngày không còn mẹ vẫn là ngày đau khổ nhất.
                                                             
*
 
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con :

— Giả bộ này. Giả bộ này…

Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính:

— Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây.

Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu:

— Mẹ ứ đii…

Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin:

— Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào.

 Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.

Bin ngoan ngoãn qua với bà, mắt vẫn không rời mẹ:

— Bye mẹ.
— Cho mẹ thơm cái nữa nào.

An chồm người hôn con, rồi quay sang mẹ:

— Con chào mẹ nhé. 

Chợt nhớ ra, cô nói:

— Hôm nay là Sinh Nhật cu Bin. Mẹ nấu soup cua cho cháu nhé. Trên đường về, con sẽ ghé tiệm mua bánh.

Loáng thoáng nghe mẹ nói mua bánh, Bin vỗ tay, reo:

— Bánh, bánh cho Bin.

Bà mắng yêu:

— Cún của bà chỉ được mỗi cái nết ăn là giỏi!

An cười vẫy tay và bước ra xe.

Xe chạy một đoạn, nhìn qua kính chiếu hậu, An vẫn thấy hai bà cháu đứng trước cửa nhà nhìn theo.

Cả ngày An rất vui. Cô vừa làm vừa hát nho nhỏ. Chỉ nghĩ đến con thôi, là cô đã cảm thấy niềm an ủi dạt dào.

Thoắt đó mà đã hai năm rồi. Lúc ấy, cô tưởng mình đã không vượt qua được cú sốc đầu đời đó. Cô và người yêu còn quá trẻ và chưa sẵn sàng để đón nhận một sinh linh mới. Trong tình yêu, con gái bao giờ cũng chịu thiệt thòi. Người cô yêu vội giũ bỏ trách nhiệm, để mặc cô một mình với nỗi khủng hoảng tăng theo sự lớn dần từng ngày của bào thai. Khi bạn bè háo hức trao đổi nhau dự định chọn trường college nào để ghi danh, thì tương lai cô tưởng chừng khép lại. 

Đã có lần cô nghĩ đến cái chết… 

An lắc đầu xua đuổi những ký ức kinh hoàng. Nếu không có tình yêu thương và khoan dung của mẹ, chắc cô không thể nào vượt qua được. 

Chương trình Medicaid của chính phủ dành cho những sản phụ thiếu điều kiện, cũng đã giúp đỡ An trong những tháng ngày khó khăn vô cùng đó.

Sinh con xong, An bắt đầu xin việc làm. Không còn lựa chọn nào khác, thôi thì đành bùi ngùi xếp sách vở lại, để lo cho đứa trẻ. Cũng may, mẹ làm việc online nên có thể ở nhà trông nom Bin giúp cô.

Bây giờ, cu Bin và mẹ là cả cuộc sống của cô. Người ta vẫn nói, những đứa trẻ bất hạnh thường khôn ngoan hơn những đứa trẻ có cuộc sống bình ổn. Điều đó thật đúng với  Bin. Con ngoan, không bao giờ khóc nhè và rất nhạy cảm. Chỉ cần thấy An mệt, hay không vui, là con đã chập chững bước đến hôn An, miệng thầm thì:

— Yêu mẹ, yêu mẹ. 

Những lời đớt đát thốt ra từ đôi môi chúm chím xua tan tất cả buồn phiền, lo lắng trong An. 

Chiều nay, khi tan làm, An ghé Publix mua bánh cho con. Đứng tần ngần một lúc, An chọn được một chiếc bánh vừa ý. Chiếc bánh phủ đầy chocolate nâu, có chú bé đội mũ đỏ chạy trên thảm cỏ xanh điểm xuyết những bông hoa đủ màu trông thật vui mắt.

— Hôm nay là Sinh Nhật của con trai cháu. An nói với người bán hàng.

Bà bán hàng vui vẻ:

— Xin chúc mừng. Bé tên gì? Mấy tuổi vậy cô?

— Con tên Bin, hai tuổi.

Bà bán hàng hí hoáy viết hàng chữ Happy Birthday Bin lên chiếc bánh. An xuýt xoa khe:

— Đẹp quá. Bà thật khéo tay.

Bà cười và đưa cho An hộp bánh, kèm theo 2 cây nến xanh đỏ:

— Mong là em bé sẽ có một buổi Sinh Nhật thật vui.

— Vâng, chắc chắn rồi. Cảm ơn bà nhé.

An đi như bay ra xe. Cô cẩn thận đặt hộp bánh bên cạnh, rồi ngồi vào tay lái. 

Bầu trời trĩu mây đen và lất phất mưa. An bật cần gạt nước. Mùa này hay có những cơn mưa cuối ngày như thế.

Niềm vui long lanh trong mắt An. Cô nghĩ đến lúc cu Bin nhìn thấy mẹ bước xuống xe với hộp bánh trên tay. Con hẳn sẽ vui lắm, sẽ nhoài người ra đòi mẹ. Tiếng reo của con ắt rộn ràng như tiếng phong linh réo rắt trong gió. Cô nghĩ đến lúc cả nhà ngồi quây quần bên bàn ăn, cùng hát bài Happy Birthday. Lúc đó, Con vỗ hai bàn tay nhỏ xíu vào nhau, đầu lắc lư, ê a hát theo mẹ và bà. Rồi con chu môi, phùng má cố thổi hai ngọn nến. Chắc hẳn những giọt nước mắt của cô sẽ chảy tràn mi vì hạnh phúc khi nhìn hình ảnh đó. 

Chỉ mới tưởng tượng vậy thôi, mà An đã nghe cay nồng đầu mũi.

An biết, cuộc đời của người mẹ đơn thân không dễ dàng gì. Gánh nặng cơm áo gạo tiền oằn trên vai, mà cô thì còn quá trẻ, tương lai còn mập mờ. Đôi lần tình cờ đi qua ngôi trường đại học, An bắt gặp ánh mắt mình đăm đắm nhìn vào khoảng sân thênh thang với những sinh viên tung tẩy cặp sách lượn lờ. Họ cùng trang lứa với cô, nhưng họ hồn nhiên và có lẽ chưa bao giờ đối diện với những gian nan như cô đã từng. Cuộc đời không trải thảm hoa  cho cô. Nhưng tình yêu thương của Bin, với cô là một món quà quý giá vô cùng, đủ để cô có nghị lực vượt qua những khó khăn trước mắt. Một ngày nào đó không xa, cô sẽ trở lại trường, bắt đầu lại tất cả, vì tương lai của Bin. Cô sẽ cố làm tất cả để bù đắp những thiệt thòi cho con, khi con không có một gia đình toàn vẹn. 

Trời bỗng trở gió. Những ngọn gió mạnh làm An lạc tay lái. Chiếc xe chao đảo, trượt một đường dài, lấn sang làn xe bên trái. Một chiếc xe tải trờ tới, hất tung xe An lên cao…

Đầu An đập vào cửa xe rồi bật xuống vô lăng. Một dòng máu chảy dài từ trán An… Trong mơ hồ, An thấy mình đang bay lên, tay cầm chiếc bánh Sinh Nhật. Hai ngọn nến nhảy múa lung linh . Và cu Bin đang chập chững chạy đến. Tiếng con gọi Mẹ ơi ! Mẹ ơi!   nhỏ dần, nhỏ dần… rồi chìm mất hút.
 
Trong bóng chiều xuống dần trên khoảng vườn rợp bóng cây, chú bé con đang ngồi trên bậc cửa, háo hức nhìn ra con đường trước mặt. Miệng em ngậm chiếc ti bằng cao su màu xanh, thỉnh thoảng lại nút chụt chụt. 
 
Có bóng xe trờ tới. Em nhổm dậy nhìn, rồi lại ngồi xuống. Không phải là mẹ.  Mẹ vẫn chưa về.

Em nhớ mẹ lắm. Chỉ chờ chiếc xe dừng lại trước sân, là em sẽ chạy ù ra và hét lên gọi mẹ thật to. 

Từ trong nhà, bà thẩn thờ nhìn ra ngoài. Không biết bao nhiêu buổi chiều rồi đứa cháu nhỏ của bà ngóng chờ mẹ . Ôi, đứa cháu tội nghiệp của bà, thằng bé còn nhỏ quá để biết rằng mẹ nó đã chết và không bao giờ nó còn có thể gặp lại mẹ trên cõi đời này. Nước mắt bà chảy dài trên má. Run run, bà lấy tay lau vội những giọt lệ, nghe trái tim của mình thắt lại.

Bà bước ra sân, cúi xuống vuốt mái tóc cu Bin:

—  Bin vào nhà ăn cơm với bà nhé.

Cu Bin lắc đầu nguầy nguậy:

—  Bin đợi mẹ, đợi mẹ…

Em đập tay vào chỗ trống bên cạnh, ra dấu cho bà ngồi xuống cùng em.

Bà nén tiếng thở dài, ghé ngồi cạnh em. Hình như cu Bin đã thấm mệt, em tựa người vào bà. 

Hoàng hôn ửng cuối trời. Những vầng sáng rực lên và chìm nhanh trong màn mây nhòa nhạt. 

Đàn chim chấp chới bay về tổ. Bóng đêm bao trùm xuống những vòm cây.

Ánh mắt cu Bin cụp xuống. Em mếu máo:

— Mẹ An, mẹ An ơi…

Tiếng đàn muỗi cỏ vo ve chung quanh. Bà quơ quơ tay, đuổi những con muỗi đói đang vờn quanh cu Bin, dỗ dành:

— Bà bế Bin vào nhé. Chừng nào mẹ An về gọi cửa, bà cháu mình sẽ mở cửa cho mẹ nhé. 

Bà cúi xuống xốc lấy cu Bin:

— Bin ngoan nào, bà thương nào.

Bóng hai bà cháu liêu xiêu hắt lên khung cửa vệt tối hắt hiu. 

Vẳng trong tiếng gió lao xao, có tiếng thút thít của cu Bin gọi mẹ.
 
BIỂN CÁT
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.