Hôm nay,  

Khánh Ly - Tiếng Hát và Tấm Lòng

27/06/202500:00:00(Xem: 5392)

Khánh Ly hát trong 'Quán Văn' sau vườn nhà
Khánh Ly hát trong 'Quán Văn' sau vườn nhà
Lần đầu tiên tôi được nghe kể chuyện về ca sĩ Khánh Ly là vào khoảng 10 tuổi. Lúc đó, bố tôi là giáo sư trường Sư Phạm Sài Gòn. Vào một buổi tối, nghe nói Khánh Ly được mời về trường hát. Trong nhà tôi, chị Khánh được theo bố đi nghe nhạc, khuya về kể rằng bố được giao nhiệm vụ tặng hoa cho Khánh Ly. Khi nhận hoa, cô ca sĩ nổi tiếng này còn hỏi rằng: “…Trong truyện Giòng Sông Định Mệnh, tại sao anh không cho Thiệu và Yến lấy nhau?”
 
Chị Khánh mê Khánh Ly lắm, cho nên ở nhà thỉnh thoảng còn được gọi là “Khánh Lỳ”. Chị có mấy cuốn băng cối, hình như có tên là “Khánh Ly Hát Cho Quê Hương Việt Nam”. Chị còn chép lời vào một cuốn nhạc gồm đủ loại tác giả, trong đó có nhiều nhạc Trịnh Công Sơn. Nhờ vậy mà từ nhỏ tôi đã được nghe Khánh Ly hát Ca Khúc Da Vàng, có lời để hát theo, cho nên nhập tâm lúc nào không hay…
 
Lớn lên một chút, sau 1975, người hay kể chuyện về Khánh Ly nhất là anh Trần Đại Lộc. Đi tù cải tạo về từ năm 1978, anh đến nhà tôi chơi, rồi từ đó trở thành “anh Hai Lộc” trong nhà. Anh kể thời làm Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Đường (CPS), trong Bộ Dân Vận Chiêu Hồi đã tổ chức nhiều chương trình có Khánh Ly hát, cho nên trở nên thân thiết. Anh Lộc cũng chụp hình chân dung cho Khánh Ly khá nhiều. Đối với anh, Khánh Ly là một ca sĩ sống đặc biệt có tình nghĩa với bạn bè. Dù dư luận văn nghệ sĩ trong nước có một số người nói những điều không hay về người ca sĩ đã di tản từ 1975 này, anh vẫn luôn nói rằng đó là một người bạn mà anh luôn quí trọng.
 
Sang Mỹ vào cuối năm 2006, vào làm cho Việt Báo từ năm 2009, tôi gặp chị Khánh Ly lần đầu tiên là trong tòa soạn, và bắt đầu làm quen với chị từ dạo ấy. Trong một nhóm bạn nhỏ như vậy, tôi có dịp gần gũi với chị hơn, và tự chiêm nghiệm rằng những điều anh Hai Lộc nói về “Khánh Ly sống có tình với bằng hữu” vẫn đúng cho đến tận hôm nay.
 
Vào Tháng Ba vừa rồi là đêm nhạc kỷ niệm sinh nhật 80 của Khánh Ly, và cũng có thể là lần cuối chị trình diễn trên sân khấu lớn. Chỉ vài ngày trước đó, chị bị stroke nhẹ phải vào nhà thương, tưởng đã không thể có mặt. Nhưng rồi chị cũng đến được, vẫn hát trong tình thương yêu của bạn bè, thân hữu. Sau đó Việt Báo có đăng rất nhiều bài viết về Khánh Ly, người ca sĩ huyền thoại gắn liền với những ca khúc của Trịnh Công Sơn, gắn liền với quê hương Việt Nam “…hai mươi năm nội chiến từng ngày…”, là đề tài không bao giờ cũ trong suốt nửa thế kỷ qua. Tình cảm của những người hâm mộ dành cho Khánh Ly sau 60 năm vẫn còn sâu đậm lắm.
 
Riêng tôi đợi cho chị nghỉ ngơi hồi phục sau cơn bệnh, xin một ngày được đến nhà, ngồi tâm tình riêng với chị. Không phải như một người hâm mộ ca sĩ Khánh Ly, mà chỉ là một người bạn nhỏ, nghe chị kể về những vui buồn của 80 năm cuộc đời…
 
Đặc điểm cá nhân nào đã tạo nên một Khánh Ly với một chỗ đứng không thể thay thế trong nền tân nhạc Việt Nam? Theo chị, đó là một niềm đam mê ca hát không gì có thể đánh đổi được. Không hiểu vì sao từ lúc còn bé cắp sách đến trường, chị chỉ nghĩ đến văn học, nghệ thuật âm nhạc; chỉ có một ước mơ và sẵn sàng đánh đổi tất cả mọi thứ để thực hiện cho bằng được: trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Trong cuốn tự truyện “Đằng Sau Những Nụ Cười”, chị kể lại chuyện mới 12 tuổi đã dám trốn nhà từ Đà Lạt về Sài Gòn để dự thi một cuộc thi tuyển lựa ca sĩ vào năm 1956. Chị hát bài Ngày Trở Về của Phạm Duy, và đoạt giải nhì. Quả là “gan liền tướng quân!”  Cũng may là ước mơ một đời người cũng đã thực hiện được; để ở tuổi 80 chị không có gì hối tiếc khi chấm dứt sự nghiệp. Để trở thành một ca sĩ đi vào lòng hàng triệu người thuộc nhiều thế hệ, ngoài thiên phú về giọng hát, theo chị điều quan trọng trong đời sống hàng ngày là biết quên đi bản thân để có thể vui buồn cùng với mọi người. Trong suốt 60 năm ca hát từ Việt Nam ra hải ngoại rồi lại trở về Việt Nam, niềm say mê của khán giả bao giờ cũng là niềm hạnh phúc của chị. Chị hát lúc nào cũng đam mê như người yêu với tình yêu đầu đời.
 
Kỷ niệm nào là đẹp nhất, đáng nhớ nhất trong 60 năm ca hát? Đó là lần đầu tiên gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS). Vào một buổi tối năm 1964, TCS và một vài người bạn đến nghe chị hát tại một phòng trà ở Đà Lạt; rồi ông tự giới thiệu mình. Hồi đó, chị chưa hề biết TCS là ai, và cũng chưa từng nghe nhạc của ông. Những ngày sau đó, ông hẹn gặp, tự đàn hát những ca khúc của mình: Tiếng Hát Dạ Lan, Nắng Thủy Tinh, Xin Mặt Trời Ngủ Yên… Chị nghe thấy thích và hát theo, học cách người nhạc sĩ diễn đạt những bài hát. Chị bắt đầu hát nhạc TCS tình cờ như vậy đó. Chị không hề cố ý lựa chọn để hát nhạc TCS; mà cũng không chắc là ông có chủ đích chọn Khánh Ly để hát nhạc của mình. Vậy mà nhạc TCS ngấm vào tâm hồn lúc nào không hay, để rồi nhạc TCS trở thành một phần không thể tách rời giọng hát của Khánh Ly. TCS cũng không hướng dẫn chị phải hát nhạc mình như thế nào. Ông chỉ nói là “…Đừng hát giọng óc nữa, nghe khó chịu lắm…!” Thuở mới đi hát, chị hát toàn nhạc tiền chiến: Con Thuyền Không Bến, Đêm Đông… cho nên hát giọng cao; bây giờ có cố hát lại như vậy cũng không được… Trong cuộc đời ca hát, chị hát nhiều thể loại nhạc, nhiều tác giả, và cũng để lại dấu ấn riêng không kém gì nhạc TCS. Nhưng chị nói rằng chỉ khi hát nhạc TCS là cảm thấy thoái mái, dễ dàng nhất.


Khánh Ly và các 'bạn nhỏ'
Khánh Ly và các 'bạn nhỏ' 
 
Ca Khúc Da Vàng và hát tình khúc TCS có gì khác nhau? Mới nghe thoáng qua, cả hai có cùng loại giai điệu đơn giản mà giàu cá tính; ca từ với thứ ngôn ngữ giàu trí tưởng tượng đặc trưng của TCS. Tuy nhiên, chúng khác nhau ở phần hồn. Hát tình khúc TCS là hát cho một người, cho chính mình; trong khi hát Ca Khúc Da Vàng (CKDV) là hát cho nhiều người, hát cho dân tộc, hát cho quê hương Việt Nam. Trong CKDV có cả tình yêu quê hương, dân tộc và cả tình yêu đôi lứa; có cả hạnh phúc, nỗi đau và niềm hy vọng. Chính CKDV mới thể hiện được trái tim, tâm hồn đáng trân trọng của TCS, một người luôn nghĩ đến nỗi đau, niềm vui của những người khác; muốn an ủi và đem niềm hy vọng chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh trong chiến tranh. Có thể vì vậy mà chị dễ đồng cảm với TCS trong CKDV. Khi hát tình ca TCS, chị nghĩ đến bản thân, đến người yêu. Nhưng khi hát CKDV, chị thấy mình có trách nhiệm với quê hương đất nước, với xã hội, với con người, đặc biệt là những người kém may mắn trong chiến tranh.
 
Tình bạn tri kỷ trong âm nhạc với TCS là một mối quan hệ đặc biệt trong cả cuộc đời chị, nhưng chưa bao giờ là tình yêu nam nữ. TCS là một người nhỏ nhẹ, dịu dàng, từ tốn, nghiêm túc. Chị kính nể ông ngay từ lần đầu gặp gỡ, và vẫn giữ sự kính trọng này cho đến ngày hôm nay. Sự tương kính này hình như đã được xác lập một cách tự nhiên, và cả hai đều giữ mối thâm giao theo đúng cách; nhờ vậy mà tình bạn vẫn giữ được tốt đẹp đến trọn đời.
 
Với Khánh Ly, tình bằng hữu là vô cùng đáng trân trọng, không phân biệt giàu nghèo, xấu đẹp. Đã là bạn sẽ là bạn suốt đời, và chị đối với bạn bè lúc nào cũng đầy, bao giờ cũng hết lòng. Nhóm thân hữu NTM có lẽ là những người cảm nhận điều này nhiều nhất. Bất kể tuổi tác, có tiếng tăm hay không, mới gặp hay đã biết từ lâu, những ai đến chơi với chị đều nhận được sự trân quí như nhau. Chị kho cá, muối cà ngon lắm. Làm xong chia thành từng phần, chị nhớ những ai thích, gọi để đến lấy phần. Vườn nhà chị trồng nhiều cây ăn quả. Đến mùa có trái, chị rủ nhóm đến nhà chơi, mời hái cho hết trái cây bơ, cây bưởi. Hình như niềm vui của mọi người cũng là niềm vui của chị. 
 
Và rồi chị chạm đến tuổi tám mươi… Đến cuối đời, rời xa sân khấu, khán giả, quên đi kẻ ghét người thương, quên đi những vinh nhục của “…đời ca hát ngày tháng cho người mua vui…” (Ánh Đèn Màu). Bên cạnh con cháu, chị vẫn còn những người bạn mà chị yêu quí, có dịp là lại quây quần bên chị. Tôi hỏi chị có tiếc điều gì chưa thực hiện được khi đã rời sân khấu hay không? Chị trả lời là có; vẫn còn một số ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn chị rất thích mà vẫn chưa bao giờ trình diễn, như bài Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy. À! Vậy là đối với chị, những bài hát vẫn là niềm say mê đến cuối cuộc đời.
 
Điều quan trọng nhất đối với chị là được hát. Bởi vì giọng hát cho chị tất cả những gì có được trong cuộc đời. Chị tin rằng giọng hát mình có được là do ý chỉ của Thiên Chúa. Tại sao trong hàng triệu Việt người có giọng nói chỉ có một giọng hát Khánh Ly? Cũng vì thế, chị tin rằng đi hát là theo ý chỉ của Chúa; Đức Tin là kim chỉ nam trong suốt sự nghiệp ca hát của chị. Về cuối đời, chị làm nhiều việc thiện cho nhà thờ, đi hát cho cả nhà thờ lẫn chùa chiền; đến thăm viện dưỡng lão, trại mồ côi… đều là cho lý tưởng phục vụ con người.
 
Đến tuổi 80, chị tin rằng mình đã không phung phí điều gì trong cuộc sống, và đã sống trọn vẹn. Chi không còn hối tiếc, không ăn năn, không trông chờ bất cứ một điều gì. Nếu ngoài vườn có một đóa hoa mới nở, chị sẽ ngắm nó mà chẳng nghĩ là hoa nở vì mình. Ngày nào có người thân, bè bạn bên cạnh sẽ vui, mà không có cũng chẳng sao. Tri túc ở tuổi già, chị cảm thấy bình yên, hạnh phúc…
 
Câu chuyện giữa hai chị em kết thúc lúc buổi chiều nhá nhem tối. Tôi lái xe ra về, lòng cảm thấy vui. Là một người mê giọng hát Khánh Ly, thuở bé đã từng mơ ước được một lần được nhìn, được nghe Khánh Ly hát trên sân khấu. Sang đến Mỹ, từng mong có dịp đệm guitar cho chị hát Ca Khúc Da Vàng. Đến nay, những điều này đều đã làm được. Và hôm nay, tôi còn được ngồi với chị, nghe chị kể chuyện buồn vui cuộc đời. Hai chị em cùng ngắm lại những bức ảnh anh Trần Đại Lộc chụp chị từ hồi trước 1975, nhắc lại những câu chuyện về người bạn chung hiền lành, chân tình này. Chị như còn nhắn nhủ với tôi một điều: có những thứ còn tồn tại lâu hơn cả một giọng hát huyền thoại. Đó là tình bằng hữu, là tấm lòng yêu thương nhân ái. Như câu hát chị đã từng nhiều lần ngân nga:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì, em biết không?
Để gió cuốn đi…
 
Doãn Hưng
  

Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) trân trọng thông báo lịch chiếu phim của Viet Film Fest, và vé đã bắt đầu bán. Là liên hoan phim quốc tế lớn nhất tại hải ngoại chú trọng đến các phim mang chủ đề về con người và văn hoá Việt Nam, Viet Film Fest 2026 sẽ kéo dài chương trình chiếu phim lên 4 ngày, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 10 tại rạp Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, Ste. 100, thành phố Santa Ana; tiếp nối là chương trình chiếu phim online từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 10. Năm nay, số phim gửi về tham dự đạt kỷ lục với 20 phim dài và 45 phim ngắn. Viet Film Fest 2026 sẽ giới thiệu các câu chuyện đến từ 13 quốc gia: Hoa Kỳ, Việt Nam, Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, và Đài Loan.
Phan Tấn Hải là một nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu Phật học, nhà thơ. Mười năm trước 2016, mười bài Thiền Ca của ông được nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ thành ca khúc in trong tập nhạc Hoa Bay Khắp Trời và CD Hoa Bay Khắp Trời với nhiều giọng ca. Trong buổi ra mắt tập nhạc và CD, tài tử Kiều Chinh đã nhận xét rằng cuộc hôn phối giữa thơ Phan Tấn Hải và nhạc Trần Chí Phúc là mối lương duyên đẹp. Những Phật Tử nghe 10 bài Thiền Ca mang âm hưởng nhẹ nhàng, một không khí sâu lắng trong tâm với những lời ca đậm nét Phật giáo.
Hình như khá lâu rồi, xã hội Mỹ mới có những ngày tháng chậm lại để cùng hoài tưởng về một nhân vật. Cảm giác như trên một chiếc bàn địa cầu, người ta đang quây quần với nhau để ôn lại những kỷ niệm về một tiếng hát trong vắt như sương sớm của đồng quê, một nụ cười sáng bừng lan tỏa đến những người bên cạnh, một nghệ sĩ đa tài, đa năng, một cuộc đời trọn vẹn ý nghĩa của sống và yêu. Cô Bé Trong Căn Nhà Gỗ Một Gian. Bà sinh vào tháng 1/1946, là người con thứ tư trong gia đình 12 chị em, trong một căn nhà gỗ một gian giữa dãy núi Smoky ở miền Đông Tennessee. Gia đình nghèo đến mức có khi phải trả công cho ông bác sĩ bằng bột bắp. Người mẹ xoay sở từng miếng vải để làm sao đủ ấm cho cả gia đình.
Tuy không có con số thống kê cụ thể, đề tài chiến tranh Việt Nam đã được khai thác dưới nhiều góc độ. Riêng trong lĩnh vực phim ảnh, đã có hơn một trăm dự án lớn nhỏ. Mời quý vị theo dõi cuộc trò chuyện với Phạm Văn Nam - nhà sản xuất phim tài liệu Vietnam War, Untold Stories - Chiến Tranh Việt Nam, Những Chuyện Chưa Kể - để hiểu rõ vì sao cuốn phim này nên có một chỗ đứng trang trọng qua những chi tiết được tường thuật sau hơn một nửa thế kỷ kể từ khi cuộc chiến chấm dứt.
Tối Thứ Bảy 22-8-2026 tại rạp hát Louis B. Mayer của Đại học Santa Clara University, kế cận thành phố San Jose California, 500 khán giả ngồi kín, yên lặng thưởng thức chương trình nhạc giao hưởng kỷ niệm 70 năm Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và cũng kỷ niệm 30 Năm Dàn Nhạc Thính Phòng Sài Gòn ở Thung Lũng Hoa Vàng San Jose. Dàn nhạc giao hưởng thính phòng Sài Gòn gồm những cựu học viên môn vĩ cầm, dương cầm, Tây ban cầm, kèn, sáo... của trường nhạc Sài Gòn năm xưa lưu lạc tới tận Mỹ Quốc và một vài nhạc sĩ Hoa Kỳ.
Nghệ sĩ Alison Nguyen sẽ trình chiếu tác phẩm điện ảnh mới Prior Occupants vào ngày 8 tháng 9 trên High Line, New York, trong một công trình do High Line và Quỹ Văn Hóa Chanel (Chanel Culture Fund) đặt thực hiện. Bộ phim tìm lại một lớp lịch sử ít được nhắc tới của Westbeth Artist Housing, khu nhà dành cho giới nghệ sĩ nằm gần công viên High Line ở phía tây Manhattan.
Nắng tháng tám Cali bắt đầu dịu lại mang theo vài con gió nhẹ se lạnh dịu dàng, báo hiệu một mùa thu bắt đầu ghé về. Chiều xuống, nhịp sống chậm dần, nhường chỗ cho cảm xúc lắng đọng, cho văn chương và một buổi ra mắt sách. Thứ Bảy ngày 8 tháng 8, năm 2026, vào lúc 3 giờ chiều tại Coffee Factory, Little Saigon, Nam Cali, US. Nhà Thơ Nguyễn Đức Tùng đã giới thiệu cùng các độc giả và bạn hữu một tác phẩm tiểu thuyết mới mang tên "Thuyền".
Khoa Hà hy vọng rằng hành trình đi tìm di sản văn hóa của bản thân mình không đơn độc. Còn nhiều bạn trẻ khác cũng thuộc các gia đình văn nghệ sĩ vang bóng một thời của Việt Nam. Cuốn phim tài liệu “Y Vân: The Lost Sounds of Saigon” có thể chỉ là dấu hiệu của một hành trình về nguồn chung lớn hơn.
Thuyết cho rằng Van Gogh chết vì bị sát hại (hay ngộ sát) lần đầu được nêu ra một cách nghiêm túc vào năm 2011, trong một cuốn tiểu sử công phu của hai nhà văn Mỹ, Steven Naifeh và Gregory White Smith. Trong cuốn "Van Gogh: The Life" (Van Gogh: Cuộc Đời), hai ông viết rằng Van Gogh bị bắn vào bụng ngày 27 tháng 7 năm 1890, do René Secrétan, một thiếu niên 16 tuổi đang nghỉ hè ở Auvers-sur-Oise, người thường chọc phá họa sĩ. Van Gogh lảo đảo về được tới quán trọ, và hai ngày sau chết vì vết thương. Hai tác giả xây dựng thuyết này dựa trên một cách diễn giải đầy tưởng tượng về một cuộc phỏng vấn Secrétan trả lời năm 1957, chỉ vài tháng trước khi ông qua đời.
Cách đây vừa tròn hai thập niên, nhân viên quan thuế biên phòng Pháp, trong một cuộc xét kiểm soát thường lệ, đã chặn giữ một chiếc xe toan vượt biên giới sang Thụy Sĩ. Trong xe, người ta khám phá ra nhiều họa phẩm chở lậu, không có giấy phép xuất cảnh, trong số đó có một bức tranh khắc của danh họa Nga Marc Chagall. Những kẻ chuyên chở lập tức bị bắt giữ và phạt vạ, còn các họa phẩm thì bị tịch thu. Kể từ đó, chúng bị bỏ quên trong kho quan thuế, chìm vào quên lãng, theo tường thuật của ký giả Adam Sage trên nhật báo Times of London
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.