Hôm nay,  

Tú Tài

26/09/202500:00:00(Xem: 4040)

tu tai 1
Tin trên báo về việc áp dụng thi Tú Tài IBM năm 1974.

Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.

Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi. Khoa Quý Mão (1903), ông đồi tên thành Trần Cao Xương để xả xui nhưng chân đạp vỏ chuối vẫn cứ dính vỏ chuối. Ông nổi cáu thành thơ: “Trách mình phận hẩm lại duyên ôi! / Đỗ suốt hai trường hỏng một tôi / Tế đổi làm Cao mà chó thế / Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi!”. Tôi thuộc loại chữ Hán ăn đong nên khựng lại với câu thơ cuối. Nghĩa nó là chi? Hỏi ông Google ông giải thích: “"Kiện" là một danh từ chỉ đơn vị đo lường, ở đây dùng để ám chỉ một vật gì đó rất nhỏ bé, "trông ra tiệp" ý nói nhìn mãi vẫn không thấy, ám chỉ sự vô vọng, không tìm ra lối thoát”. Hỏi ông AI (Trí Tuệ Thông Minh), ổng lại nói khác: “Kiện” chỉ những người đi thi. “Trông ra tiệp” có nghĩa là trông mong, trông đợi vào một kỳ thi để “tiệp” là “tiếp” hoặc “đạt được”. Ý nói là mong được thi đỗ”. Thôi thì xin lãnh hội hết mà trong lòng vẫn phân vân

tu tai 2

Cái danh Tú Tài thời ông Tú Xương chẳng ra chi, dở dở dang dang, không được thi Hội, không được bổ làm quan, chỉ làm được giáo quèn tại quê. Muốn được bổ làm quan phải đậu Cử Nhân. Muốn có Cử Nhân phải đậu 4 kỳ thi Hương tức 4 lần Tú Tài, sau đó vào Huế dự kỳ thi Hội để có thể lấy bằng Cử Nhân hoặc Tiến Sĩ. Người chỉ đậu 2 Tú Tài gọi là Tú Kép, 3 Tú Tài gọi là Tú Mền, 4 Tú Tài được gọi là Tú Đụp. Nhà thơ Tú Xương thi cả thảy 8 lần nhưng không đậu đủ 4 phùa nên về…làm thơ!

Việc thi cử ở nước ta khởi đầu vào năm 1072, thời nhà Lý nhằm chọn người tài ra giúp nước. Trước đó, việc tuyển chọn người ra làm quan chỉ là tùy tiện, không có phép tắc chi. Trong “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, chương Khoa Mục Chí, có ghi: “Con đường tìm người tài giỏi, trước hết là khoa mục, phàm muốn thu hút người tài năng, thì người làm vua một nước không thể nào không có thi cử”. Thời kỳ manh nha của thi cử tại Việt Nam, tỷ lệ thi đỗ quá thấp, việc học lại quá từ chương, khiến có nhiều sĩ tử lận đận cả đời với thi cử. Ông Đoàn Tử Quang bắt đầu dự thi từ năm 20 tuổi, thi tới 21 lần, mãi tới tuổi 83 mới công thành danh toại. Ngặt nỗi mỗi ba năm mới mở một kỳ thi nên cơ hội không nhiều. Ông nội của Ngô Tất Tố đi thi 7 lần, bố Ngô Tất Tố khăn gói dự thi 6 lần. Ông Ngô Tất Tố hên hơn, chỉ phải thi có 2 lần. So với tiền nhân, nỗi buồn thi cử của ông Tú Xương nào có thấm chi!

Chữ “Tú Tài” được vua Minh Mạng ban ra vào năm 1828. Trước đó người đậu kỳ thi Hương được gọi là “Sinh Đồ”. Tới thời Pháp thuộc, bằng tốt nghiệp trung học Pháp được gọi là “Baccalaureat”, mượn từ chữ La Tinh thời Trung Cổ “Baccalaureus” có nghĩa là “Thanh niên quý tộc muốn trở thành hiệp sĩ”. Niên khóa 1926-1927, nhà cầm quyền mới lần đầu tiên tổ chức kỳ thi “Bacalaureat de l’Enseignement Secondaire Local”, người ta dùng ngay chữ “Tú Tài” thành “Tú Tài Bổn Quốc” tuy hai chữ “Baccalaureat” và “Tú Tài” chẳng ăn nhậu chi với nhau. Baccalaureat tại Pháp thi hai kỳ: Bacalaureat I và II trong khi Tú Tài Bổn Quốc thoạt đầu chỉ có một kỳ duy nhất. Tuy chỉ có một kỳ nhưng thí sinh vất vả hơn nhiều vì phải học nhiều môn mà Tú Tài Tây không có như: văn chương Pháp và Việt, Triết Đông và Cận Đông, triết Tây, toán, khoa học, chữ Nho, sử địa tây lẫn ta. Thí sinh học ná thở. Thi cực khổ như vậy nhưng không phải tự nhiên mà thực dân tạo ra kỳ thi Tú Tài Bổn Quốc. Các cụ thời đó phải tranh đấu mới có chuyện thi bằng này. Cụ Bùi Quang Chiêu với tờ La Tribune Indochinoise, cụ Nguyễn Phan Long với tờ Echo Annamite, công kích kịch liệt nhà nước áp dụng chế độ ngu dân chỉ cho dân chúng học tới trình độ Trung học Đệ Nhất Cấp chứ không cho học cao hơn nữa. Tới niên khóa 1937-1938 bằng Tú Tài Bổn Quốc bị bãi bỏ. Tú Tài Tây được tổ chức thi thay thế. Tú Tài Tây nên ngôn ngữ chính là tiếng Tây. Năm 1945 Hoàng đế Bảo Đại ra đạo dụ dùng chữ Quốc ngữ trong các kỳ thi Tú Tài nhưng phải qua tới thời Đệ Nhất Cộng Hòa tiếng Việt mới được đưa vào làm ngôn ngữ chính trong các kỳ thi Tú Tài.

Khi di cư vào Nam vào tháng 7/1954, tôi theo học lớp Đệ Tam tại trường Chu văn An và tham dự kỳ thi Tú Tài I vào mùa hè năm 1956. Tôi theo học ban Văn Chương, gọi là ban C. Tôi không thích các môn toán, lý, hóa và vạn vật nên không theo các ban A và B. Khi thi Tú Tài I hệ số của các môn chính Việt văn, Anh văn và Pháp văn có hệ số 3, các môn khác có hệ số 1 hoặc 2. Toán hay Lý Hóa nếu làm đúng rất dễ được điểm 18/20 hoặc 19/20. Nhân với hệ số 3 vì đó là các môn chính của các ban A và B. Kết quả là dễ đậu hơn ban C. Ban C các môn chính có hệ số 3 là Việt văn, Anh văn và Pháp văn khó mà được điểm 12/20 hoặc 13/20. Năm tôi thi Tú Tài I, số thí sinh trúng tuyển của ban C chỉ có 10%. Mười anh chị ứng thí chỉ có một được nêu danh. Ngày đó có lối tuyên bố kết quả thi rất đau tim. Tới giờ tuyên bố, thí sinh và phụ huynh tập họp trong sân trường hồi hộp theo dõi xướng tên người trúng tuyển trên máy phóng thanh. Khi chiếc máy phóng thanh è è kêu, mọi con tim treo lên trong hồi hộp. Con số báo danh được đọc nhảy như cóc. Có lúc nó nhảy qua cả một phòng không có ai đậu.

Được xướng tên chưa chắc đã thành Tú Tài vì còn kỳ thi vấn đáp. Thi vấn đáp tựa như ra tòa án. Trực tiếp đối diện với các phán quan mặt sắt đen xì. Theo tôi nhớ thì trong các kỳ thi vấn đáp ngày đó tôi không bao giờ gặp một nữ giáo sư. Nếu được đối diện với mặt hoa da phấn chắc sẽ dễ chịu hơn. Phần lớn các giám khảo hỏi vấn đáp đều làm theo lương tâm nghề nghiệp, cho rút thăm câu hỏi, dành 10 phút cho thí sinh sửa soạn trước khi mặt đối mặt trả lời. Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tôi đã kể đâu đó vài trường hợp mà chính tôi và chú em tôi gặp, nay chỉ nhắc lại qua loa. Hung thần của môn vấn đáp Pháp văn hồi đó là Giáo sư Võ văn Lúa, có vợ đầm. Gặp ông phần lớn là…lúa đời! Vậy mà tôi gặp ông. Khi tôi đang ngồi sửa soạn câu đáp, bỗng nghe thấy ông đập bàn rầm rầm quát anh bạn đang thi: “Nếu anh là con trai tôi, tôi sẽ tát cho anh một cái!”. Tôi ngồi run như cầy sấy. Tới lượt, tôi lên bảng trả lời khá trôi chảy, ông cám ơn, tôi liếc cây viết trên tay ông, thấy ông ghi số điểm 13/20. Nhưng chuyện sau đó mới vui. Một anh bạn cùng lớp không qua khỏi kỳ thi viết, chưa bao giờ vào vấn đáp, bỏ học ngang nhưng thành công trong cuộc sống với nghề phóng viên nhiếp ảnh chiến trường cho các hãng thông tấn Mỹ, sau này mời tôi đi ăn cưới anh. Cô dâu bữa đó chính là con gái thầy Lúa! Chú em tôi bị một ông Thầy dạy Pháp văn đì khi theo học ông trong lớp Đệ Nhị tại trường Chu văn An. Khi ông thấy tên chú được vào vấn đáp, ông cất công đi tìm phòng thi của chú. Khi thấy chú ngồi, ông ngang nhiên vào rỉ tai ông thầy đang hỏi vấn đáp. Và ông này đã đánh rớt. Sau này cả ông thầy đánh rớt và chú em tôi bị nhốt chung trong tù cải tạo của cộng sản. Hai người chung một đội. Khi chú em tôi được thả, tôi hỏi có nhắc lại chuyện xưa không, chú lắc đầu. Khi đó cùng chung cảnh tù tội, làm khổ thêm nhau làm chi. Hai ông này hồi đó đều là giáo sư trẻ khá nghênh ngang. Họ coi trời bằng vung bỏ quên lương tâm nhà giáo. Năm thi Tú Tài II, tôi gặp một ông giáo sư cũng cùng băng trẻ nhưng dạy Anh văn. Năm đó ông hỏi vấn đáp 13 thí sinh. Tôi trả lời câu hỏi theo những gì được học trong chương trình lớp Đệ Nhất C. Ông dè bỉu cho đó chỉ là những kiến thức căn bản, ông muốn câu trả lời sâu hơn. Chương trình học không dậy, lấy đâu kiến thức sâu hơn. Ông tặng tôi con số 3 điểm, điểm loại. Năm đó tôi rớt vấn đáp. Không chỉ tôi dẵm vỏ chuối, tất cả 13 thí sinh gặp ông đều nhận số điểm loại 3/20. Khóa thi thứ hai năm đó, ông bị cấm chấm thi. Sau này, khi Hội Cựu Học Sinh Chu Văn An tại Montreal tổ chức họp mặt, có quầy sách mà các Giáo sư và cựu học sinh là tác giả, ông có vài cuốn sách dịch và ngồi ký sách cạnh tôi. Dĩ nhiên ông không nhận ra tôi nhưng tôi sao quên được ông. Tôi cũng chẳng nhắc chuyện xưa làm chi. Cùng tha hương, vui chi mà làm buồn lòng nhau.

Các ông giáo sư trẻ ngày đó mà tôi kể trên đã ngông nghênh không kể chi tới đám học sinh chúng tôi. Không biết sau này các ông ấy có lúc nào nghĩ lại chuyện ác đức các ông làm khi thời của các ông đang thịnh. Họ đùa giỡn trên công sức học tập ngày đêm đến võ vàng của học sinh. Họ hủy hoại tương lai của học sinh khi chúng tôi phải cắm đầu học dưới đôi mắt săm soi của ông Bùi Đình Đạm. Đại Tá Bùi Đình Đạm, sau này lên tướng, là Giám Đốc Nha Động Viên. Nếu thi rớt sẽ nhận được giấy mời của ông tướng này ngay. Chưa có tấm bằng Tú Tài I trong tay sẽ được nhập trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế để ra Trung sĩ. Đây là một đau xót thành thơ. “Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ / Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con / Mai sau xong chuyện nước non / Khi về anh có Mỹ con anh bồng”. Trong bản nhạc “Thà Như Giọt Mưa”, Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên cũng não nùng không kém khi rớt Tú Tài: “Ta hỏng Tú Tài / Ta hụt tình yêu / Thi hỏng mất rồi / Ta đợi ngày đi / Đau lòng ta muốn khóc / Đau lòng ta muốn khóc”. Bài thơ cùng tên của Nguyễn Tất Nhiên không có đoạn bi ai này. Phạm Duy đã thêm vào khi phổ nhạc.

Đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, chuyện tòng quân là chuyện của mọi thanh niên. Tuy nhiên nhà cầm quyền vẫn phải duy trì sự phát triển của quốc gia. Thế hệ chúng tôi ngày đó cắm đầu học không phải để trốn tránh việc mặc áo ka ki nhưng với kiến thức thu thập được, chúng tôi sẽ phục vụ hữu hiệu hơn. Những người có bằng cấp, trở thành những chuyên viên, trước sau cũng khoác áo lính, nhất là khi có lệnh tổng động viên sau trận tổng công kích của Việt cộng vào dịp Tết Mậu Thân. Sau thời gian huấn luyện ở quân trường, giáo sư và chuyên viên được biệt phái về nhiệm sở cũ để những con người văn võ toàn tài tiếp tục đem hết khả năng ra giúp nước.

tu tai 3

Cái bằng Tú Tài như nấc thang cần thiết để chúng tôi leo lên cho địa vị cá nhân cũng như cho sự cống hiến hữu hiệu hơn cho đất nước. Vậy mà cuộc tuyển lựa thật gian truân. Tỷ lệ đậu không nhiều. Tôi đã cố tìm kết quả các kỳ thi Tú Tài trong thời kỳ này nhưng tài liệu thu thập được chưa vừa ý. Theo Wikipedia thì năm 1964, tỷ lệ trúng tuyển Tú Tài I là 22%, Tú Tài II là 32%. Theo một tài liệu khác thì tỷ lệ đậu Tú Tài I chỉ vào khoảng 30% tới 35%. Tỷ lệ đậu Tú Tài II  khá hơn, khoảng từ 35% đến 45%. Điều này dễ hiểu vì trình độ học sinh lớp Đệ Nhị không đồng đều bằng trình độ học sinh lớp Đệ Nhất vì đã được gạn lọc trong kỳ thi Tú Tài I. Tỷ lệ đậu của học sinh trường công thường cao hơn học sinh trường tư vì học sinh trường công đã được gạn lọc khi thi vào lớp Đệ Thất. Tỷ lệ đậu nói trên là tính chung cả ba ban A, B và C trong mỗi kỳ thi. Nếu tính riêng thì tỷ lệ đậu của thí sinh ban C ít hơn nhiều.
Kết quả ban C của Hội đồng thi Sài Gòn năm tôi dự thi vào cuối thập niên 1950, chỉ có khoảng 50 Tú Tài trên khoảng 500 thí sinh. Tỷ lệ là 10%. Sáng hôm sau, các báo đăng kết quả. Tên thí sinh vượt qua vũ môn được in chữ hoa trang trọng trong một khung hoa văn được đặt tên là: “Bảng Hổ Đề Danh”.
Thi như vậy là thi loại bỏ chứ không phải là thi kiểm tra trình độ của học sinh. Có lẽ giới chức giáo dục cũng nhận thấy như vậy nên các kỳ thi được cải tổ dần. Niên khóa 1968 bỏ phần thi vấn đáp. Năm 1973 bỏ kỳ thi Tú Tài I. Năm 1974 thi Tú Tài được tổ chức theo lối thi trắc nghiệm IBM. Tỷ lệ thí sinh vượt vũ môn tăng hẳn.

Thời gian chúng tôi vác bút đi thi Tú Tài, ông nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng ngày đó có bản “Mùa Thi” rất thấm thía. “Hôm nay: ngày thi / Bao nhiêu người đi / Xe! rộn rịp / Lớp! tràn người niềm vui vấn vương / Thi ơi là thi! / Sinh "mi" làm chi! / Bay, Nghẹn ngào / Bám, ồn ào / Buồn vui vì "mi" / Đây, bao bộ mặt cười ra nước mắt than câu: "Học tài thi phận" / Đây, bao tiếng cười đắc chí khoe rằng: "Phen này tao trượt thì ai đậu cho" / Hôm nay còn thi / Mai kia còn thi / Ôi! Đời đời khóc cùng cười hòa theo mùa thi”.

Hôm nay còn thi. Mai kia còn thi. Tính từ ngày tôi khổ sở lấy cho bằng được cái Tú Tài, tới nay đã ngót nghét bảy chục niên. Vậy mà tôi vẫn còn thi Tú Tài. Trong những cơn ác mộng!
                                                                                                
09/2025                                                                         
Website:
www.songthao.com
 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.