Hôm nay,  

Bố Ơi, Đi Lăng Quăng Thôi!

21/11/202500:00:00(Xem: 1557)

đi-lăng-quăng-
 
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này.
 
Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại. Cuộc đời xoay vòng là vậy…
 
Hành trình “lăng quăng” của hai bố con trong một hai năm nay chỉ khoảng ba dặm, do sức khỏe của bố xuống nhiều. Chủ yếu là quanh block đường Dale-Chapman-Magnolia-Lampson. Hồi còn minh mẫn, bố đặt tên block đường này là “Đợi- Chờ- Mặc Nó Líu Lo- Lắm Sự” (theo cách đọc trại sang tiếng Việt tên của bốn con đường). Bố tỏ ra thích thú với việc đặt tên Việt “tiếu lâm” cho những con đường mà mình đi qua. Đường Katella có tên Việt là “Kể Tên Lạ”; Bushard là “Bút Sa Gà Chết”…
 
Hành trình ba dặm có vẻ ngắn, kéo dài khoảng nửa giờ, nhưng đủ để bố ôn lại những điều vẫn nhớ ở tuổi 103. Tai gần như điếc, mắt chỉ còn thấy lờ mờ, những điều hai bố con nói với nhau là những câu chuyện lập đi lập lại trong nhiều năm qua. Những câu chuyện có liên quan đến một đời người kéo dài hơn một thế kỷ; sinh ra lớn lên ở một ngôi làng ngoại thành Hà Nội; di cư vào Nam để viết văn, dạy học; cho đến khi nhắm mắt lìa đời ở miền Nam Cali.
 
Bố vẫn nhớ làng Cót có cây si đầu làng chứ không phải cây đa. Đi từ đầu làng vào sẽ qua miếu Chợ, miếu Chùa, mộ Vua, miếu Cả, ao Cậy, ao Cầu… Đầu làng có con sông Tô Lịch; nay đã thành ruộng rau muống, nên bố đọc lại 4 câu thơ:
Sông xưa giờ đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…
 
Rồi từ làng Cót, bố liên tưởng đến làng Láng của mẹ, cách nhau chỉ khoảng hai cây số, nơi có ngôi nhà với khu vườn bao quanh bốn mặt của cụ nhạc phụ Tú Mỡ có tám người con:
Năm trai ba gái tám tên
Trung, Hiền, Thảo, Dũng, Hùng, Chuyên, Vĩ, Cường
 
“…Cả tám người đều ra người thiên cổ cả rồi…Bố con mình không ai nằm mơ thấy mẹ; chắc là mẹ về với cõi Phật rồi. Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…” Bố vẫn nói vậy…
 
Nhắc đến Tú Mỡ, bố nhắc Việt Nam có hai nhà thơ tên Hiếu: Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, là người Sơn Tây, nơi có núi Tản Viên, sông Đà Giang, cho nên lấy bút hiệu là Tản Đà. Rồi bố đọc một lèo bài Thề Non Nước từ câu đầu “Nước non nặng một lời thề…” cho đến câu kết “…Non non nước nước không nguôi lời thề…”, và kết luận rằng bài thơ có  “…vũ trụ nhân sinh quan trùng trùng duyên khởi…”
 
Bố nhớ ngày xưa học trung học ở Hà Nội có thầy là cụ Vũ Đình Liên, nhà thơ nổi tiếng với bài thơ bất hủ Ông Đồ Già. Bố đọc dõng dạc bài thơ, ngân nga dài giọng ở hai câu cuối: “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…”
 
Bạn bè văn nghệ thì nhóm Sáng Tạo là nhất. “Thất tinh nay chỉ còn nhị tinh” là Trần Thanh Hiệp và Doãn Quốc Sỹ. Năm người ra thiên cổ là Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế. Trong đó bác Mai Thảo là tếu nhất. “Ngài” có bài thơ bất hủ là:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Nhìn ở sao trời sẽ hiểu thôi
 
Bố cười đắc chí: “Bây giờ thì Ngài đã hiểu rồi!...”
 
Bố rất thích bài thơ ghép chung với chú Nguyễn Đình Toàn. Bốn câu đầu của chú Toàn:
Lúa Thủ Thiêm ngọn chìm ngọn nổi
Gió xa lộ lúc thổi lúc ngưng
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Vui thì vui vậy biết chừng nào xa…
 
Sáu câu sau là của bố:
Đỉnh trời vằng vặc gương nga
Long lanh soi tỏ lòng ta lòng mình
Gương trong mình lại soi mình
Thấy tình thăm thẳm, thấy hình phù du
Nẻo đời gió bụi kỳ khu
Biết ai còn mất tình thu võ vàng
Sáu câu này được in lại trong thư cảm tạ trong tang lễ của bố; là tâm tình biệt ly với người đi xa, như bố giải thích: “…thoạt đầu là lạc quan vì tin rằng người đi xa nhưng tình thì vẫn luôn còn mãi; nhưng nói vậy chỉ là để dối lòng thôi, chứ kẻ ở vẫn cứ man mác buồn…”
 
Bạn bè văn nghệ bố cũng thường nhắc đến Nhã Ca, Trần Dạ Từ, hỏi tôi giờ đang ở đâu. Khi tôi trả lời Thụy Điển, bố gật gù “Bắc Âu quanh năm tuyết phủ trắng xóa…”
 
Bố rất tâm đắc với nghề đi dạy học của mình. Dạy ở ba trường đại học là Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, nên học trò đông vô số kể. “…Lương nhà giáo thì thanh đạm thôi, nhưng tình thầy trò là vô giá…”
 
Bố vẫn thuộc lòng một số bài ca dao. Khi đọc hết bài:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen….
…Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Bố dí dỏm kết luận: “Giúp thế anh là chú rể rồi còn gì! Cô gái sẽ nguýt và mắng là nỡm! Cà chớn!...”
 
Đi tù 12 năm, nhưng không nghe bố kể sống trong tù cực khổ ra sao, chỉ thường nói: “… Bố ở tù cộng sản hai lần, một lần bốn năm, một lần tám năm. Nghiệp nặng đã trả xong, bây giờ vui với con cháu…”
 
Hai bố con thường ghé vào chùa Quán Thế Âm trên đường Magnolia. Một chị làm công quả ở chùa biết ông già 100 tuổi hầu như ngày nào cũng vào chùa lễ Phật, phục lăn. Thấy bố đến, chị đon đả ra chào, rồi giới thiệu với những Phật tử viếng chùa, nói rằng hình ảnh hai bố con dắt nhau đi chùa làm chị rất ngưỡng mộ. Khi lễ Quan Âm, thường thì tôi đọc trước, bố đọc theo: “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Nhưng có những ngày như trong tiềm thức vọng về, bố niệm dõng dạc theo cách riêng của mình: “Nam Mô tầm thinh cứu khổ cứu nạn linh cảm Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát; Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát; Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”.
 
Gần 10 năm, hành trình “đi lăng quăng” và câu chuyện chỉ có thế. Không thấy phiền muộn, chỉ toàn niềm vui. Nó có thay đổi theo sức khỏe yếu dần của bố. Khi bắt đầu quên nhiều hơn, bố nghe tôi “nhắc tuồng” vài chữ đầu trong mỗi câu chuyện để nói theo. Vài tuần trước khi mất, khi bố nắm tay tôi để bước đi, tôi cảm giác được sức tựa ngày càng nặng hơn.
 
Một tuần trước khi mất, một chiều tôi đến để rủ “đi lăng quăng”, bố vẫn nằm trong giường. Tôi ngồi cạnh hỏi to: “Bố ơi, đi lăng quăng không?” Bố vẫn nhắm mắt, trả lời “Không!” Hỏi ba lần đều trả lời như vậy, điều chưa bao giờ xảy ra với tác giả của truyện “Đi”. Tôi biết ngày đó đang tới gần…
 
Dạo gần đây thỉnh thoảng bố ôm bụng, nhăn mặt, nhưng hỏi thì bảo không đau. Thứ Sáu 10 tháng 10, y tá tới nhà khám, không định ra bệnh, đề nghị đưa vào nhà thương để chẩn đoán. Trưa Thứ Bảy gọi 911 đưa vào bệnh viện West Anaheim. Sau khi CT scan, bác sĩ cho biết có một khối u ở ruột già có thể làm nghẽn đường tiêu hóa, hỏi gia đình có muốn chữa trị không? Các con đều đồng ý là không chữa trị, chỉ cần giảm đau. Chủ Nhật bắt đầu tiêm morphine. Thứ Hai bố bắt đầu thở nặng kiểu người hấp hối, gia đình dự định mời các sư cô chùa Đại Bi đến vào sáng hôm sau để đọc kinh cầu an. 9:55 phút sáng Thứ Ba, tôi vẫn còn nắm tay bố niệm Phật, thấy hơi thở của bố đã nhẹ lắm rồi. Sau đó, tôi đi xuống cổng bệnh viện để đón hai sư cô đến lúc 10:00. Khi đi thang máy lên phòng ở lầu ba, sư cô còn hỏi “Hôm nay là cầu an hay cầu siêu?” Tôi trả lời “cầu an” vì bố còn sống. Lên đến giường bệnh thì bố đã ra đi lúc 10:05 ngày 14 tháng 10. Lễ cầu siêu diễn ra ngắn gọn ngay sau đó.
 
Lúc đó trời Nam Cali bỗng dưng đổ cơn mưa như để gột sạch đường trần thế…
 
Tôi nhớ vào tối Chủ Nhật ngồi bên giường bệnh, nắm tay bố để niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Thỉnh thoảng, tôi ghé vào tai bố nói rằng: “Bố sống đời hiền đức, nay bố ra đi bình an, bố nhớ theo ánh sáng của Phật Di Đà…” Tay tôi nắm tay phải của bố để hộ niệm. Chỉ ít phút sau, tự nhiên bố đưa tay trái sang nắm chặt tay của tôi. Giống như cái nắm tay lúc “đi lăng quăng”. Cái nắm tay lúc cận tử thật chân tình. Tôi cảm nhận được sự bình an truyền sang cho mình…
 
Trăm năm một đời người của bố kết thúc nhẹ nhàng như thế. Sống cả đời lo cho con, cuối đời chẳng làm phiền con cháu, lúc ra đi cũng vậy…
 
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết lời ca “…Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”
 
Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong Rong Khúc về hành trình sau cái chết của mình “…Ta vứt sau ta những nẻo đường trần, Ta vút bay theo những nẻo đường tiên…”
 
Bố tôi thì thích “đi lăng quăng” lúc cuối đời. Đi chỉ để mà đi, thong dong, an nhiên, tự tại. Sau một ngày làm việc, “đi lăng quăng” không phải là bổn phận của con đối với bố, mà là những giây phút tôi tìm thấy an lạc cho chính mình.
 
“Đi lăng quăng” là cách nói giản dị, khôi hài kiểu của bố. Nhưng cả cuộc đời của bố là một con đường thẳng tắp, thanh thản đi qua một thế kỷ bể dâu của dân tộc. Tôi nhớ lại lời bố nói về mẹ: “Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…”
 
Tạm biệt bố. Ở một thế giới nào đó, rồi hai bố con sẽ lại có dịp “đi lăng quăng” với nhau…
 
Doãn Hưng
14/11/2025
 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.