Hôm nay,  

Em Tôi

13/03/202600:00:00(Xem: 2462)

em toi
Chị Em- AI Gemini   
 
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
 
Suốt tuổi thơ, hai chị em có nhiều sinh hoạt chung, khắng khít bên nhau. Hai đứa bé con tưởng tượng mình là ca sĩ, vũ công, dùng kim băng, găm bốn góc của hai cái khăn tắm trên vai làm áo dài. Chúng tôi trình diễn hoạt cảnh có người con gái buông tóc thề, yểu điệu vuốt mái tóc... bum bê cụt ngủn. Hát múa chán chê, chúng tôi chuyển qua nấu nướng. Bộ nồi niêu chén bát đồ chơi bằng nhôm bé tí là gia sản quý báu của hai chị em. Cây trứng cá trong vườn cung cấp đầy đủ “thực phẩm” cho bếp núc chị em tôi. Trái trứng cá non xanh là bầu, trái chín đỏ là cà chua, lá cây là thịt bò. Chúng tôi òn ỉ xin Mạ chút cơm nguội bỏ vào nồi, bắt lên bếp nhôm, hai chị em phì phò đun củi lửa tưởng tượng nấu cơm. Chúng tôi đơm cơm vào chén, làm điệu bộ chan canh bầu và gắp thịt bò xào cà chua. Hai chị em sung sướng lùa mấy hột cơm khô queo vào miệng. Ôi, bữa ăn trẻ thơ sao ngon lạ lùng. Ăn xong, hai chị em mở trường dạy học. Đám học trò là những con thú bằng nhựa. Cô giáo say sưa giảng bài, lũ học trò thú nhựa nằm ngồi ngổn ngang. Tôi làm cô giáo thị uy la rầy, em tôi lồng tiếng cho con khỉ nhựa học trò vội vàng dạ thưa, làm học trò ngoan ngoãn. Hết giờ dạy học, hai chị em ra vườn trồng trọt. Thời tiểu học, chúng tôi không để ý những hoa lá “sang trọng” như hoa Ngọc lan, Trà mi... Chúng tôi chăm bẳm cây hoa “bình dân” Mồng gà màu đỏ thẫm. Bởi, cây hoa Mồng gà cho chúng tôi cơ hội phát triển “tài năng”. Chúng tôi lấy hoa đã già, lảy hạt nhỏ đen bóng, li ti như hạt é, cẩn thận gieo hạt đó đây trong vài ngóc ngách của vườn. Bận rộn chơi ô quan, đánh đũa cách mấy, hai chị em cũng không xao nhãng vườn tược. Khi thấy những cây Mồng gà con mọc nhu nhú, hai chị em vui mừng, ngắm nghía công sức của mình. Sau này, chúng tôi biết, cây Mồng gà rất dễ trồng, hạt rơi, cây tự động mọc lên, chẳng cần đến sự tiếp sức của chúng tôi. 
 
Những trò chơi chạy nhảy, em thường có “kỹ năng” cao hơn tôi. Lúc chơi u mọi, tôi bị phe kia bắt, em u u hơi thiệt dài, mạnh dạn xông vào cứu tôi. Chân cẳng thoăn thoắt, em nhảy cao, nhảy xa rất ngoạn mục khi chơi đi chợ, về chợ, nhảy cò cò, nhảy dây...
 
Tôi vào mẫu giáo, bắt đầu học vần. Rồi vào tiểu học, bắt đầu tập đọc. Tuy sau hai tuổi, em vẫn đồng hành với tôi. Nghe tôi học bài, em chăm chú nhìn tôi, bắt chước đọc theo. Tôi đọc đến đâu, em đọc theo đến đó, mặc dù em chẳng biết mặt chữ. Lên trung học, chúng tôi chơi chung bạn bè của nhau. Tôi theo em và các bạn cùng lớp em đạp xe ra biển Phú Thọ. Em theo tôi và bạn bè cùng lớp tôi đi cắm trại ở Lái Thiêu.
 
Năm 1975, Ba bị đi cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, gia đình tứ tán. Mạ thu xếp cho chúng tôi từ từ vào Sài Gòn với hai chị lớn. Mạ cân nhắc cho tôi vào Sài Gòn trước, vì tôi sắp sửa xong trung học. Em là út gái, ở lại Quảng Ngãi với Mạ, phụ giúp Mạ buôn bán hàng cơm ở bến xe và bới xách thăm nuôi Ba trong trại cải tạo. Hoàn cảnh gia đình ngày càng khó khăn. Tết năm 1977, ở Quảng Ngãi chỉ còn Mạ với em. Anh kế của tôi đi làm xa, tận mãi trên núi Trà Bồng. Mạ mở hàng cơm suốt năm để có thu nhập đều đặn thăm nuôi Ba và chu cấp cho bầy con ở Sài Gòn. Mạ nghỉ bán chỉ mỗi ngày mồng Một tết. Sang mồng Hai, chưa có khách ăn cơm, Mạ bán chè. Nghe tin Mệ nội mất ở Huế, Mạ tức tốc đón xe về quê cho kịp làm đám tang. Tiền bạc eo hẹp. Đầu năm Mạ ngại, không dám hỏi mượn tiền ai. Mạ chỉ gởi gắm em với gia đình hàng xóm. Mạ nấu sẵn 30 chén chè nếp đậu phụng có gừng, dặn em bày bán, để có tiền tiêu trong mấy ngày Mạ vắng nhà. Ở với Mạ thêm một năm, em bị chính quyền địa phương làm khó dễ, việc học hành muôn vàn trắc trở, có nguy cơ thất học. Em đành phải xa Mạ, xa Quảng Ngãi, vô Sài Gòn ở với các chị em.
 
Qua Đức, hai chị em trở lại trường trung học để lấy tú tài. Chúng tôi xin nhà trường cho ở chung phòng trong ký túc xá. Hai chị em học khác lớp, nhưng vẫn luôn bên nhau trong nhiều sinh hoạt. Chơi vũ cầu trong sân sau của trường. Rủ nhau đi xem phim xưa ở rạp xi nê của làng. Tham gia những buổi disco dã chiến của học trò trong ký túc xá... 
 
Ngày tháng trôi qua, tôi lập gia đình. Vài năm sau, em cũng ra riêng. Chúng tôi vừa đi học, vừa gầy dựng gia đình nhỏ của mình. Ngoại trừ người anh cả du học từ năm 1971, vợ chồng em là người đầu tiên trong họ hàng mua nhà ở Đức. Như có sự sắp đặt của Ơn Trên, Ba Mạ và hai thằng em út dọn vào ở chung với gia đình em, trong ngôi nhà mới mua. Ông bà Ngoại đã có được những năm tháng hạnh phúc, vui vầy bên bầy cháu ngoại. Nhà của vợ chồng em là nơi hội ngộ của đại gia đình. Thời gian Mạ lâm bệnh, thường xuyên ra vào bệnh viện và cần chăm sóc đặc biệt, em đã xin bớt giờ làm việc. Mỗi tuần em làm việc bốn ngày, dành một ngày trống để có thể đưa Mạ lui tới bác sĩ. Chồng em ghé vai gánh việc lo cho ba đứa con, để em yên tâm chăm sóc Mạ. Bầy con mười đứa của Ba Mạ ở rải rác từ cực bắc xuống cực nam nước Đức. Chúng tôi thay phiên nhau vào những cuối tuần, ngày lễ, hoặc lấy ngày phép thường niên để về lo cho Mạ. Nhưng em vẫn là người gần Mạ nhiều nhất. Đã bao lần, nửa đêm, nửa hôm, em ngồi trong xe cấp cứu theo Mạ vào bệnh viện. 
 
Hai chị em có cuộc sống riêng của gia đình nhỏ, với chồng, với con. Nhưng chúng tôi vẫn có những lúc “sống chung”. Biết sở thích của nhau, thấy hoa lan đẹp, tôi mua hai chậu, cho em, cho tôi. Em đi coi triển lãm hàng mỹ nghệ, thể nào cũng tìm món quà đặc biệt cho tôi. Hơn nửa thế kỷ trước, hai chị em tôi, hai mái đầu xanh ríu rít bên nhau trong niềm vui trẻ thơ. Ngày nay, tóc trên đầu của cả hai, muối đã lấn tiêu, chúng tôi vẫn có những dịp rù rì kể chuyện nọ, chuyện kia. Hơn hai chục năm, vì công việc, tôi ở cách xa em gần 500 cây số. Bây giờ, duyên lành đưa đến, tôi dọn nhà, hai chị em ở gần nhau. Thả bộ mười phút, chúng tôi gặp nhau, để ngồi tán gẫu hàng tiếng đồng hồ, để trao đổi chậu hoa xinh xinh, để trình làng món ăn mới học...
 
Mới đây, có dịp bốn chị em gái đi chơi chung. Chúng tôi chụp hình cho nhau. Em kể, em khoe tấm hình của tôi với các bạn. Trong hình, tôi đội mũ lát, ngồi nghiêng nghiêng, không rõ mặt. Các bạn em khen xinh, em cười cười: “Không phải tao đâu. Đó là hình chị tao mà.” Tôi mỉm cười, chợt nhớ chuyện ngày xưa của em. Lúc xong tiểu học lên trung học, học trò có lệ tặng ảnh, gọi là để làm kỷ niệm những ngày xa nhau... Hồi ấy, em đã lấy hình tôi tặng cho bạn em. Đó, mấy chục năm sau, em vẫn là nhỏ em ngồ ngộ, đáng yêu ghê chưa.   
 
Hôm nay sinh nhật em. Mừng sinh nhật em. Cám ơn Ba Mạ, ngày này mấy chục năm trước đã mang em vào đời. Cám ơn em luôn tô những màu sắc hài hòa lên bức tranh gia đình. Chúc em được những ngày tháng trước mặt rộn ràng niềm vui, tiếng cười. Em tận hưởng cuộc sống an lành trong ngập tràn yêu thương của gia đình nhỏ, của gia đình lớn, của bạn bè, của nhân gian... nhé em tôi.
 
Hoàng Quân
 

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.