Hôm nay,  

Tình Đầu Tình Đau

20/03/202600:00:00(Xem: 3018)

tinh-dau-tinh-dau
Hình minh họa AI 
 
Buổi sáng chúa nhật, tôi còn nằm nướng trên giường thì có phone của John, hốt hoảng:

-         Cô Laura ơi, biết tin gì chưa ?
-         Tin gì ? Cô mới đi vacation về là có chuyện rồi á!
-          Gianna đêm qua uống thuốc ngủ tự tử, may quá đã được phát hiện kịp thời, đang nằm ở bệnh viện trường Đại Học …
-         Nó điên à ?
-         Cô có rảnh thì đến ngay nhe, em chờ ngoài cửa chính. Tội nghiệp, nó chỉ nghe lời an ủi của cô thôi đó!

Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là  … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
 
Nhóm Dược Tá ca chiều, có hai người cố định là tôi và John, cậu trai trẻ người da trắng dễ thương, cái miệng dẻo quẹo và vui vẻ với tất cả mọi người trong tiệm thuốc, nên được gọi là “John Ngoại Giao”. Bên cạnh đó còn có nhóm Dược tá làm “part time”, họ đến làm, cỡ một vài năm, rồi đi, bởi đa số là những sinh viên Đại Học, họ xin vào làm để vừa có thêm kinh nghiệm bỏ vào “hồ sơ xin việc” vừa kiếm thêm tiền trang trải cuộc sống sinh viên . Nhóm sinh viên này khá đông, khoảng 5-6 người tùy vào thời điểm mỗi năm, nổi bật là chàng Mick người Ấn Độ là sinh viên Dược năm thứ hai, và cô bé Gianna người Phi Luật Tân là sinh viên ngành Y Tá . Chàng Mick cao ráo, có đôi mắt đẹp của người Ấn trên khuôn mặt rất thông minh duyên dáng đã làm nàng Gianna cảm mến ngay lập tức, mặc dù ai cũng biết Mick đã có người yêu là cô bạn sinh viên cùng lớp .

Gianna, tuổi 18, như nhiều cô gái thích ca hát, vui nhộn, lí lắc, hoạt bát, không ngần ngại bày tỏ tình cảm với Mick bất chấp Mick là “hoa đã có chủ” . Hễ đến giờ nghỉ giữa “ca”, Gianna chủ động đi mua bubble tea hoặc chạy qua tiệm Tim Hortons bên cạnh mua một ly cafe nóng hổi mang về cho Mick .

Có những hôm tan ca 10 giờ tối, vào mùa lạnh, Gianna còn mạnh dạn “nhõng nhẽo” nhờ Mick lái xe đưa nàng về một đoạn đường, nơi trạm xe bus gần nhà nàng thay vì phải lấy hai chuyến bus dài .

Mick biết tình cảm của Gianna nên luôn cư xử đúng chừng mực như hai người bạn đồng nghiệp, cả tiệm thuốc ai cũng biết thế, chỉ riêng Gianna vẫn vô tư làm theo tiếng gọi của con tim rung động, dầu sao Mick cũng chưa có vợ, chỉ là có bạn gái thôi mà .
Một ngày kia, tôi vừa đến làm, John thì thầm vào tai tôi:

- Hôm nay Gianna vui sướng, líu lo.
- Ủa, có chuyện gì vui ?
- Chàng Mick vừa chia tay người yêu.
- Cậu rành chuyện người ta quá hen?
- Vì tui theo dõi facebook và instagram của họ mà! Họ đã xóa sạch hình ảnh của nhau, tui cũng hỏi Mick và chàng đã buồn bã xác nhận, nhưng Gianna thì vui hớn hở . Nỗi đau của người này là niềm …hạnh phúc của người kia ..hihi …

Nàng Gianna tươi tắn rộn ràng hơn, đi làm trang điểm đậm hơn, và dĩ nhiên, quan tâm đến Mick nhiều hơn nữa, để xoa dịu trái tim tan vỡ của chàng, rồi sau đó nàng sẽ vào chỗ trống trong tim chàng, chớ còn ai!

Mick cũng đi ăn uống với Gianna, lái đưa đưa nàng về bến xe bus thường xuyên, tôi có hỏi riêng Mick:

- Nè, cậu biết Gianna yêu cậu, bây giờ cậu “available” rồi, cậu có dự tính nghiêm túc với tình cảm của Gianna, cho nàng ấy một cơ hội không ?
Mick thẳng thắn:

- Ngay từ đầu, Gianna không phải là mẫu người tôi lựa chọn, dù tôi “available” hay không! Thời gian này, Gianna thường rủ tôi, hoặc cả nhóm Part time đi chơi, xem phim, cafe, tôi đi để khuây khỏa nỗi buồn, và không hề có ý gieo hy vọng cho cô ấy. Gianna dễ thương, tốt bụng, tôi cũng mong cô ấy sẽ tìm được ý trung nhân.

Vậy là quá rõ ràng, tôi và John cũng mập mờ nói cho Gianna nghe tâm tư của Mick, nhưng nàng nào có nghe, (vì nàng nghe tiếng gọi của con tim nàng mà thôi!). Trước đây Mick có người yêu, Gianna vẫn hy vọng, nay chàng đã độc thân thì hà cớ gì nàng phải từ bỏ niềm hy vọng ấy!

Lời khuyên của tôi xem ra chẳng giá trị gì, thì thôi, hãy để thời gian và số phận an bài, biết làm sao hơn .


Nàng sống trong vui sướng, hạnh phúc mỗi lần được nhìn thấy Mick và chăm lo cho Mick, được vài tháng, ngay trước hôm tôi đi Texas thăm gia đình, John lại thì thầm vào tai tôi:
- Gianna đang đau khổ cô Laura ơi! Mick và người yêu đã tái hợp, gương vỡ lại lành …
 
Tôi tính sau khi đi Mỹ về sẽ tìm lời khuyên Gianna thì ai ngờ lại ra cớ sự này, sao nàng lại dại dột thế!

Tôi lái xe đến cổng bệnh viện, tìm chỗ đậu xe thì John chạy lại, rồi cùng tôi bước vào gian sảnh, nơi có quầy bán hoa, bánh kẹo, và những tấm thiệp chúc “Get Well” để người thăm viếng mua tặng cho người bệnh .

Chúng tôi ngắm các bó hoa, xem từng tấm thiệp để lựa chọn, nhìn mấy con gấu bông để giữa giàn hoa, tôi nhớ Gianna thường treo con gấu bông bé xíu ngoài backpack của nàng, lòng tôi dịu lại, bao nhiêu lời la mắng dự định dạy cho nó một bài học bỗng tiêu tan. Tôi tự nhủ, nó mới 18 tuổi, ngày xưa tôi ở tuổi ấy cũng từng rung động đầu đời, rồi buồn bã thất vọng, thấy đất trời sụp đổ, tưởng cả thế gian chỉ có …người ấy! Gianna cũng thế thôi, nó cần thời gian đứng dậy, chữa lành vết thương lòng đầu tiên của cuộc đời, nó cần một vòng tay ôm ấp thương yêu, cần một chỗ dựa tinh thần, mà chút nữa tôi và John chắc chắn sẽ mang đến cho Gianna cùng con gấu bông và một bó hoa tươi đỏ thắm .
 
Và bây giờ, tôi lại kể tiếp một mối Tình Đầu ở trại tỵ nạn . Bữa đó, cô bé chung trại tỵ nạn tôi quen trên facebook,  nhắn trên messenger:
“Chị Loan ơi, hôm nay là kỷ niệm ngày chị đến Canada đó nghen!”

 “Ủa, sao em nhớ ngày định cư của chị vậy?”

“ Dạ chị ơi, chiều hôm đó, em cũng ra cổng tiễn chàng của em đi Canada chung chuyến bay với chị, vì chị làm ở Bưu Điện và văn phòng Cao Ủy nên em nhận ra chị liền, mặc dù bữa đó em khóc như mưa! Em ghi nhớ mãi ngày này, ngày em xa anh ấy, cũng là ngày em mất anh ấy, vì đó là lần chia tay mãi mãi, anh ấy nơi đất mới, sau vài lá thư, là im lặng bặt tăm luôn! Em đã đớn đau biết dường nào, dù bây giờ thời gian trôi qua đã lâu, em cũng yên bề chồng con, nhưng mỗi năm đến ngày này, em lại nhớ, và vết thương xưa, tuy đã lành, nhưng đôi lúc cũng làm em …bồi hồi, tê tái..”

Và cô em kể lại cho tôi nghe câu chuyện tình ấy, để tôi viết bài thơ này cho riêng em, và cho những mối tình đầu dang dở:
 
TÌNH ĐẦU-TÌNH ĐAU
Em mười tám và anh hai mươi
Chúng mình đã như đũa có đôi
Trại tỵ nạn khiến xui gặp gỡ
Cả anh và em, tình đầu đời
 
Chợ Lào là nơi chốn hẹn hò
Bên đời tỵ nạn những buồn lo
Hàng cây phượng vĩ trưa bóng mát
Hay buổi chiều nào chợt đổ mưa
Hai đứa vẫn hồn nhiên mơ nhiều
Chỉ thấy quanh mình một chữ yêu
Chỉ mong mỗi ngày qua thật chậm
Từng phút từng giây mình có nhau
 
Cơm gạo Cao Ủy nuôi em lớn
Nắng gió Thailand, anh trưởng thành
Buồn vui theo tháng ngày gian khó
Tưởng như không bao giờ cách ngăn
 
Anh đậu thanh lọc nhiều mộng ước
Em mịt mờ chẳng biết tương lai
Vì đâu số phận lại oan nghiệt
Dang dở đường tình, mộng chia hai
 
Chiều tiễn anh đi, lệ em rơi
Nhìn nhau thôi, không nói nên lời
Vẫy tay chào, mà như níu lại
Nhưng em không giữ được anh rồi
 
Đường ra phi trường anh chơi vơi
Nặng trĩu hành trang nhớ một người
Chuyến bay nửa đêm, anh thao thức
Biết em cũng chưa ngủ, em ơi…
 
Máy bay dừng ở Đức nghỉ chân
Xứ lạ lạnh lùng, anh bâng khuâng
Lang thang tìm mua tấm postcard
Gửi về em nỗi nhớ trào dâng
 
Đến Toronto mùa đông lạnh
Tuyết trắng rơi ngập cả hồn anh
Trại tỵ nạn vẫn còn hơi ấm
Anh mang theo suốt cuộc hành trình
 
Những lá thư đầu nhiều nhung nhớ
Đong đầy tình anh từ phương xa
Kỷ vật anh trao, em cất giữ
Theo em hồi hương về quê nhà
 
Hai cuốn album (anh nhớ chưa?)
Mua ở Chợ Lào (hình đôi ta…)
Và thêm những tấm hình anh gửi
Có Ngũ Đại Hồ, thác Niagara…
 
Anh đứng đó, bên trời gió nổi
Bơ vơ giữa đường phố thênh thang
Sao gió không là cây cầu nối
Sao gió không đưa em bên anh?!
 
Rồi càng ngày anh càng vắng thư
Chẳng thấy hồi âm, em vẫn chờ
Xa mặt cách lòng, đời là thế
Anh chẳng khác gì thiên hạ kia!
 
Lời yêu anh viết vẫn còn đây
Bao năm màu mực vẫn chưa phai
Tờ thư em giữ làm kỷ niệm
Dù lời anh hứa theo gió bay
 
Thời gian trôi qua, em đã quen
Quên một bóng hình, một cái tên
(Dẫu đôi lúc có người nhắc đến…
Giận hờn, em khóc…một mình em)
 
Chuyện tình xưa đã là quá khứ
Anh và em, sông chảy ngược dòng
Ngàn lời xin lỗi còn chưa đủ
Khỏa lấp trong em vết thương lòng
 
Thôi thế là mình đã mất nhau
Bóng chim tăm cá biết ở đâu
Nếu anh nhớ đến thời tị nạn
Anh có nhớ em, một tình đau ?!

Edmonton, Tháng3/ 2026
KIM LOAN
 
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.