Hôm nay,  

Tại Sao Yukon?

25/08/200800:00:00(Xem: 9678)
1.-   CỘNG ĐỒNG, ĐẤT NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ

Từ  ngày 1 đến ngày 3 tháng 8 vừa qua, tại thành phố Whitehorse, thủ phủ của địa hạt Yukon, diễn ra lễ hội “Whitehorse Heritage Festival and Grand March”. (tạm dịch “Lễ hội Di sản và diễn hành Whitehorse”).  Trong cuộc diễn hành, các đoàn tham dự là cộng đồng các sắc dân sinh sống tại Yukon.  Lễ hội nầy là “Lễ hội di sản” (Heritage Festival) của các cộng đồng công dân Canada, chứ không phải là “Lễ hội quốc gia”, hay “Lễ hội Quốc tế”.  Nhân đây có ba khái niệm căn bản cần phải phân biệt.  Đó là cộng đồng, đất nước và chế độ trên đất nước đó.

Cộng đồng là tập hợp một nhóm người có một mẫu số chung như địa phương, sắc tộc, chính trị, hay tôn giáo… Ví dụ Cộng đồng người Hoa, Cộng đồng người Do thái… Đất nước hay quê hương là nơi xuất phát của cộng đồng sắc dân, hay tổ tiên của thành viên trong cộng đồng sắc dân.  Ví dụ Cộng đồng người Việt gồm những thành viên xuất phát từ nước Việt Nam, hay là con cháu của những thành viên đến từ Việt Nam.  Chế độ chính trị là tổ chức cai trị của một đất nước hay quốc gia.  Chế độ của mỗi đất nước có thể thay đổi theo những hoàn cảnh chính trị. Vì vậy, tuy xuất phát cùng một đất nước, hay cùng một sắc dân, nhưng theo những chế độ chính trị khác nhau nên có những cộng đồng khác nhau.  Ví dụ Cộng đồng Hồng Kông, cộng đồng Quảng Đông…

Những định nghĩa trên đây có thể còn thiếu sót, nhưng rất căn bản để nhìn vào vấn đề Cộng đồng người Việt trên đất nước Canada thanh bình nầy.

2.-   CĂN CƯỚC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở CANADA 

Người Việt ở Canada trước năm 1975 rất ít.  Ít đến nỗi có thể đếm trên đầu ngón tay.  Trước  năm 1975, nước Việt Nam bị chia thành hai nước, theo hai thể chế chính trị khác nhau.  Bắc Việt là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), theo chủ nghĩa cộng sản.  Nam Việt là Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) theo chế độ tự do dân chủ.  Được Cộng sản Quốc tế viện trợ, Bắc Việt chủ động xua quân tấn công Nam Việt từ  năm 1956, và chiếm toàn thể VNCH từ ngày 30-4-1975. 

Sau ngày 30-4-1975, do chính sách độc tài của chế độ cộng sản, nhiều người Việt ở miền Nam bỏ nước ra đi.  Nhân đó, có một số người miền Bắc cũng ra đi.  Tất cả người Nam hay người Bắc Việt đều ra đi vì lý do chính trị, mới được Cao uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp quốc cho đi định cư.

Từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, theo thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người Việt bỏ nước ra đi và đến được các nước tự do là 989,100, cả đường biển lẫn đường bộ.  Số người tử nạn trên đường vượt biên phỏng chừng từ 400,000 đến 500,000 người.  Nhiều nước trên thế giới đã bao dung, đón nhận thuyền nhân Việt Nam.  Trong số nầy, Canada là nước sớm trở thành quê hương thứ hai của những người tỵ nạn cộng sản Việt Nam.  Chính phủ Canada còn cho phép người tỵ nạn bảo lãnh gia đình đến định cư, nên người Việt càng ngày càng đông. 

Bỏ nước ra đi sau năm 1975 để tỵ nạn cộng sản chính là căn cước của Cộng đồng người Canada gốc Việt hiện nay ở Canada.  Sau năm 1975, phải là người tỵ nạn chính trị, chính phủ Canada mới chấp nhận cho vào định cư ở Canada.  Những người được bảo lãnh cũng bắt nguồn từ việc tỵ nạn chính trị của thân nhân của mình.  Chỉ có một số rất ít ra đi theo cách kết hôn.  

Theo thống kê, trên toàn quốc Canada ngày nay có khoảng 180,000 người Canada gốc Việt.  Cộng đồng Người Việt tỵ nạn cộng sản đã đóng góp không ít cho nhà nước Canada.  Ví dụ điển hình gần đây nhất là chiếc huy chương vàng đầu tiên của Canada tại Thế vận hội Bắc Kinh ngày Thứ Bảy 16-08-2008 là thành tích của Carol Huỳnh, một phụ nữ trong một gia đình ở Sài Gòn trước đây, đã vượt biên và định cư ở tỉnh bang British Columbia.

3.-   CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT VÀ CHẾ ĐỘ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 

Chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) ở trong nước hiện nay là hậu thân của chế độ VNDCCH, theo chủ nghĩa cộng sản.  Quốc hội Âu Châu, họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg ở đông bắc nước Pháp, đã đưa ra nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại và vi phạm nhân quyền tập thể.  Chế độ CSVN ở trong nước hiện nay giống như các chế độ cộng sản khác, đã vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng, mà ai cũng biết qua những vụ án lịch sử, như Các cuộc thủ tiêu chính trị năm 1945, Cuộc Cải cách ruộng đất (1955-1956), Nhân Văn Giai phẩm (1956), Tết Mậu Thân (1968), và gần đây, hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng ở trước tòa án Huế ngày 30-3-2007, làm cho cả thế giới bàng hoàng.

Khi phải lìa bỏ quê hương ra đi, người Việt tỵ nạn cộng sản mang theo trong tâm trí mình hình ảnh quê hương, gia đình, bạn bè, trong đó đặc biệt là hình ảnh Lá Cờ vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho chế độ tự do dân chủ của Việt Nam trước khi đảng Cộng Sản chiếm quyền ở miền Bắc năm 1954 và trước khi Cộng sản chiếm quyền ở miền Nam năm 1975. 

4.-   TẠI SAO YUKON" 

Theo công pháp quốc tế, chế độ cộng sản CHXHCNVN hiện nay là đối tác chính thức của chính phủ Canada.  Không ai chối cãi điều nầy.  Tuy nhiên, CĐNCGV đang sinh sống, làm việc, thực hiện nghĩa vụ công dân, và đóng góp cho sự phát triển của Canada là một thực thể không thể phủ nhận được.  Các cấp chính quyền Canada cần phân biệt rõ ràng giữa Cộng đồng người Canada gốc Việt (CĐNCGV) với chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay trong nước là hai thực thể hoàn toàn khác nhau.  Đừng đồng hóa CĐNCGV tỵ nạn cộng sản ở Canada với chế độ cộng sản CHXHCNVN.

Trong khi chính phủ Canada bang giao, trao đổi mậu dịch với CHXHCNVN, thì CSVN đã lợi dụng cơ hội này để đưa cán bộ cộng sản vào Canada qua nhiều phương tiện khác nhau, nhằm tiếp tục tuyên truyền, rỉ tai, đe dọa những người Canada gốc Việt tỵ nạn cộng sản. Chính phủ Canada đã vì lợi ích của mình trong việc bang giao với CHXHCNVN, nhưng thủ tướng Stephen Harper đã từng tuyên bố tại Hà Nội năm vừa qua rằng Canada không đổi những giá trị nhân quyền để lấy dollar, thì chính phủ Canada cũng nên trực tiếp can thiệp, bảo đảm quyền lợi và sự an toàn cho CĐNCGV ngay tại Canada, để họ có điều kiện bảo tồn di sản của họ, mà trong đó Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là điều tối ưu tiên.  Nước Canada nổi tiếng là nước đa văn hóa.  Chính phủ Canada nổi tiếng tôn trọng nhân quyền.  Không có lý do gì chính phủ Canada từ chối việc thừa nhận di sản văn hóa của CĐNCGV.

Các cấp chính quyền Canada cần lưu ý rằng Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng văn hóa, tâm linh thiêng liêng của CĐNVGC.  Đối với CĐNCGV tỵ nạn cộng sản, Lá Cờ Đỏ Sao Vàng của chế độ CHXHCNVN không khác gì lá cờ của Đức Quốc Xã đối với các Cộng đồng Do Thái.  Người Do Thái kinh hoàng và căm ghét lá cờ Đức Quốc Xã như thế nào thì người Việt tỵ nạn cộng sản kinh hoàng và căm ghét lá cờ của chế độ cộng sản Việt Nam như thế đó.  Đó là lý do tại sao mà CĐNCGV cương quyết tranh đấu cho Lá Cờ Vàng tại Whitehorse Heritage Festival and Grand March ngày 02-08-2008.

(Toronto, 20-08-2008).

Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.