Hôm nay,  

Cõi Đó

25/08/200800:00:00(Xem: 11348)
Cách đây mấy năm, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài "Sự Chết và Đời Sống Vĩnh Cửu" do Viện Triết Thần tổ chức tại California. Đang lúc ai cũng ham sống, tìm cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có gì hấp dẫn"! Vậy mà khóa đã thật sống động, nhiều điều mới lạ và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.

Thì mỗi ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi đó. Kìa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ  Kỳ chết bộn người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Kìa trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy lạnh nên đã biếu tử thần mấy trăm mạng rồi... 

Xem ra tôi vẫn đọc tin như vậy một cách bình thản, dù đôi khi cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ gì cả. Lý do dễ hiểu là vì ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Mình hơi buồn vì họ chết mà trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!

 THỜI ĐIỂM TẬP CHẾT TRONG KHÓA TRIẾT THẦN 

Thú thực, trong suốt khóa học, tôi được nghe nhiều tư tưởng hấp dẫn, nhiều khám phá mới mẻ của nhiều nhà thông thái lỗi lạc, nhưng tôi lại bị, hay được một đoạn thật ngắn gây xúc động bất ngờ. Hình ảnh cứ lảng vảng bên trong suốt mấy ngày. Đó là khi giáo sư Nguyễn Thái Hợp nhắc tới câu chuyện nhà thơ Du Tử Lê ngồi đối diện với quan tài của người mẹ thân yêu đã suốt đời khổ nhục mà nay sắp tan vào bụi đất. Ông đã trăn trở với vấn nạn thẳm sâu nhất của một đời người:

 Chưa bao giờ tôi thấy,

tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế.

thầy M.G. nói, chết là về nhà

ông quên chỉ, ngôi nhà nào đây"

trên mặt đất hay sâu lòng địa ngục"

Tôi hình dung ra cảnh chính mình một ngày nào đó cũng đóng vai trò Du Tử Lê phải từ biệt người mẹ thân yêu nhất đời, vĩnh viễn hay có ngày gặp lại" Đúng vậy, chỉ khi nào đụng chạm tới những gì thân thiết nhất, mình mới nhận ra rằng những điều suy nghĩ trước đây dù sao vẫn chỉ là những cái ở ngoài, còn bây giờ "cái đó" đã trở thành "cái này" rồi. Hơn nữa, cứ tưởng tượng mà coi, chiếc quan tài kia lại đang chứa thi hài của chính mình, nằm bất động giữa bao nghi lễ và thủ tục đang diễn ra... rồi cũng được di chuyển tới nghĩa trang. Cõi đó, riêng tôi. Một mình...

Vũ Khắc Khoan trong "Đọc Kinh" đã khắc khoải nói lên: "Cái đó, cái mà cho đến hôm nay, chưa một vị thiện-trí-thức, chưa một vị bồ tát nào mô tả được hình tượng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như mưa và nắng, hiện hữu rất tự nhiên  -mặt trời lại mọc lúc đêm tàn- nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện vô lường, vô lượng danh hiệu... Những nửa khuya tỉnh giấc, cái đó - chính nó- đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi, hóa trang thành những lời tra vấn trớ trêu, những tại sao ray rứt, lãng đãng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nhòa dần, biến hẳn tuyệt mù."

Và Vũ Khắc Khoan đã khơi dậy câu hỏi ngàn đời nay trở thành câu hỏi chính mình: "Cõi đó, lạ lạ quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó, riêng tôi. Một mình." (Đọc Kinh, An Tiêm xuất bản, trang 40)

 ĐI VÀO CÕI LỚN 

Muốn lý luận gì thì lý luận, nhưng đứng trước quan tài của một người thương yêu, mình mới thấy thấm thía. Thân xác đẹp đẽ có quấn quít mấy rồi cũng thối rữa. Cái gì còn lại" Câu nói từ thực chứng não nề của Du Tử Lê có uy lực lay động con tim, thay đổi nhãn quan cua cả một đời người: "Chưa bao giờ tôi thấy, tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế." Vợ chồng dù có trở thành một xương một thịt, rồi cũng đến một lúc thấy chẳng phải vậy khi một trong hai phải bước đi lên xe hoa là chiếc quan tài mà bay vào cõi đó. Một mình.

Anh dẫn Em vươn tới miền an tĩnh

Cho bớt mông mênh cõi sinh mệnh buồn

Ở nhịp trần gian, quay cuồng...

Anh đã nghe vang tiếng gọi càn khôn

Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn...

Anh dắt tay Em đi vào Ngàn Mai

Anh khoác vai Em bước về Ngàn Xưa.

(Phạm Duy, Rong Khúc Hát Cho Năm 2000)

Ai mà chả có một lần ra đi. Sinh ký tử qui: sống gửi thác về. Nhưng về đâu, quê nào, nhà nào, thì vẫn là một câu hỏi khúc mắc nhất. Cõi lớn nào, Ngàn Mai nào, Ngàn Xưa nào" Đó là một niềm tin hay một ảo tưởng" Có lần tôi đã tâm sự với nhạc sĩ Phạm Duy như vậy trong Đêm Hàn Mặc Tử ở New Orleans, khi thấy Hàn Mặc Tử đã cảm nghiệm được cõi đó là cõi sáng của tình yêu rung động lớp hào quang: 

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

Không u ám như cõi lòng ma quỉ

Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị

Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh. 

Đúng là đứng trước cái chết, con người mới thấy niềm tin quan trọng tới cỡ nào. Niềm tin sống gửi thác về gắn liền với sinh mệnh người mình. Vì thế mà nhiều người lớn tuổi thản nhiên mua trước cỗ quan tài để sẵn trong nhà, như sắm sẵn một chiếc xe để đi về quê mẹ sau những chiều chiều ra đứng ngõ sau vọng nhìn canh cánh ruột đau chín chiều.

 TIN VUI NẮM BẮT ĐƯỢC CHÌA KHÓA

Khóa Triết Thần này cũng nhằm trả lời cho câu hỏi ngàn đời trên. Giáo sư Như Hạnh Nguyễn Tự Cường, nhà Phật học có thế giá vào bậc nhất hiện nay, cũng góp phần diễn tả niềm tin vào Cuộc Sống Vĩnh Cửu là cõi Tịnh Độ, cõi Niết Bàn, theo quan niệm Phật giáo. Thần học gia Phan Đình Cho thì thao thao về một Đức Kitô là thân mình vũ trụ (Cosmic Christ) theo hướng "Bài Ca Vũ Trụ" (Hymn of the Universe) của Teihard de Chardin. Cái nhìn rất hiện đại này đã được thi sĩ William Blake hé mở từ lâu:

Thấy được cả đất trời trong một hạt cát nhỏ

Và thấy cả thiên đàng trong một bông hoa dại.

Hãy chứa đựng cõi vô biên trong lòng bàn tay

Và nắm bắt được vĩnh cửu trong một tiếng đồng hồ.

Như vậy, Quê Mẹ, Cõi Lớn, Ngàn Xưa, Ngàn Mai... đã bắt đầu từ giây phút hiện tại trong cuộc sống đời thường; đồng thời cũng vượt qua không gian và thời gian mà đi vào vĩnh cửu. Bởi vì chính Chúa Trời là cõi đó, là ngôi nhà hằng thể, là bến đậu vĩnh hằng, là nguyên thủy và là cùng đích, là Alpha và là Omega: Chúa là gia nghiệp đời con, như thánh vịnh từng diễn lên.

Chân lý của Chúa thì trường tồn, nhưng cần được diễn đạt cho hợp với văn hóa mỗi dân tộc cũng như cảm quan thời đại; vì thế mà cần đến suy tư thần học. Mỗi khía cạnh về Đức Kitô cũng được nhấn mạnh theo cảm quan đó. Tuy nhiên tất cả cũng chỉ là những suy tư để mở rộng nhãn giới, để hội nhập môi trường. Điều quan trọng vẫn là có gặp gỡ được chính Chúa trong tương giao thân tình hay không. Vì thế mà trong Tin Vui tuần này, Chúa Giêsu đã hỏi cho rõ: "Người ta bảo Con Người là ai"" Nước Trời tức Cõi Đó đang hiển hiện nơi đây là nơi Chúa đang hiện diện. 

Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, là Êlia, là Giêrêmia hay một vị ngôn sứ nào đó. Người thì bảo là Đấng Giải Phóng mang công bằng xã hội, là Thân Mình trời đất v.v. Nhưng Chúa muốn biết liên hệ tình nghĩa của từng người. Chúa muốn mỗi người nhận ra Chúa không do một mớ lý thuyết hay ý niệm nào cả, mà như một người thân thương có con tim biết rung động: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai"" (Mt 16:15). Đây là lúc người tin Đạo nhìn sâu vào con mắt rưng rưng cảm động của Chúa mà trả lời như thánh Phêrô, và đó cũng là nắm bắt được then chốt của triết thần. Nhìn được như vậy là được trao chìa khóa Nước Trời (Mt 16:19) mà mở cửa bước vào quê nhà ấm êm gặp gỡ chính Chúa vẫn luôn sống động hiện hữu đây: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16:16).

 PHÚT CHỜ BÃO EL NINO

 Nhà thơ Du Tử Lê sau nhiều trăn trở đã bước tới cảm nghiệm thật lạ trong thi tập Hoa Nào Tin Quả Đắng Đến Không Ngờ. Trong lúc chờ cơn bão El Nino chụp xuống, mọi vật mọi loài đều biết tìm cách trú núp, phương chi là con người.

thì ra, không chỉ em và, tôi

ngay thời gian / chim muông / mây, gió / ... /

cũng cần một nơi

để treo / móc /

những đồ lỉnh kỉnh

cuối đời chúng.

Mong ước của cả một đời người là tìm được "một chỗ cất dấu rất an toàn" nơi tình yêu, nơi mái tóc, nơi trái tim, nơi nụ cười. Đúng vậy, tình yêu tinh ròng thì đi vào vĩnh cửu, vì Thượng Đế chính là tình yêu, như Thánh Kinh đã tỏ lộ. Bến đậu vĩnh hằng nơi quê trời đây không còn như một khối lực vô vị tẻ lạnh đến rợn người như kiểu tượng muối hòa tan trong biển cả mênh mông, mà là một Thượng Đế Tình Yêu trong tương giao ấm áp cõi lòng với rung động con tim như Du Tử Lê cảm nghiệm:

 tất cả những nơi cất dấu nọ

(ngay linh hồn tôi)

lại được cất dấu an toàn:

- trong bàn tay Thượng Đế.

 Lm. Trần Cao Tường

Mời vào Mạng Lưới Dũng Lạc www.dunglac.org.

“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.