Hôm nay,  

Về Miền Trung

06/08/200900:00:00(Xem: 8573)

Về Miền Trung

Hình ảnh hào hùng một thời với Quảng Trị.


Giao Chỉ, San Jose


(Về miền Trung, miền thùy dương, bóng dừa, ngàn thông. Thuyền ngược suôi suốt một dòng sông dài.
Ôi quê hương, xứ dân nghèo, ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ...)
Phi lộ
Đây là bài thứ ba chúng tôi viết về trận Quảng Trị 37 năm về trước với dự trù đi tìm dữ kiện để thực hiện 1 bộ phim lịch sử tiêu biểu cho cho cuộc chiến tại Việt Nam.
Lịch sử đất nước chúng ta đã từng có cuộc chiến Nam Bắc phân tranh hết sức khốc liệt giữa Trịnh và Nguyễn cho đến khi chia đôi tại con sông Gianh miền Trung Việt Nam. (Đây sông Gianh, đây biên cương thống khổ, Đây sa trường, đây nấm mộ trời Nam...)
Năm 1954 đất nước lại chia đôi hai phe Quốc Cộng tại sông Bến Hải. Cây cầu Hiền Lương vùng phi quân sự giữa Quảng Bình và Quảng Trị trở thành dấu vết lịch sử trên 20 năm chinh chiến lầm than.
Nhưng càng viết lại càng thấy thiếu nhiều kiến thức và tin tức. Nhờ bằng hữu, chiến hữu bốn phương gửi về đóng góp biết bao nhiêu là tài liệu. Đề tài cứ phải mở rộng ra, chẳng riêng gì một binh chủng mà rất nhiều binh chủng cùng với bao nhiêu đơn vị quân dân chánh cùng tham dự trận Quảng Trị.
Chẳng phải riêng Quảng Trị mà cả miền Trung đều ảnh hưởng. Không phải bên ta mà cả bên địch cũng sống chết và trăn trở vì Quảng Trị. Cũng chẳng phải chỉ có chiến tranh, bom đạn mà còn tình đồng hương, tình đồng đội, tình quê hương, tình yêu đôi lứa, tình nhân loại khi đối xử với kẻ thù, tình cãm giữa người sống và người chết. Và còn cả vấn đề lịch sử. Bởi vì chúng ta muốn làm cuốn phim dành cho quân lực VNCH anh dũng nhưng phải có tính nhân bản và khách quan.
Vì vậy nên lại phải giãi bày nguồn cơn để độc giả, thính giả cùng chia xẻ và tham khảo.
Xin lưu ý, bộ phim sẽ không phải là cuốn binh thư. Cũng không phải là tài liệu đơn thuần về lịch sử chiến tranh. Bộ phim dành cho đời sau, nên chúng tôi sẽ không bị lạc vào thế giới ngôn ngữ thuần túy quân đội. Phim này sẽ dành cho tất cã mọi người, từ người vợ lính năm xưa cho đến con cháu sau này đều có thể  thưởng ngoạn, thông cảm và thương yêu thế hệ cha, anh. Vì vậy phim chiến tranh Quảng Trị sẽ có cã văn học nghệ thuật và đó là mục đích của chúng tôi. Sau cùng, cứ theo cái đà này thì dù rằng cờ bay vào ngày 15 tháng 9 năm 1972 nhưng DVD không thể hoàn tất kịp vào ngày tháng lịch sử kể trên.
Có thể sẽ phát hành vào cuối năm 2009 để chào đón 2010 ghi dấu 35 năm bỏ nước mà đi.
ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VỀ MIỀN ĐẤT QUẢNG
Tuy gọi là miền Trung nhưng Thừa thiên và kinh thành Huế là ngoại lệ rất khác biệt. Phần quan trọng về địa lý nhân văn của miền Trung là 4 miền đất Quảng. Theo thứ tự từ Bắc vào Nam là Quảng Bình, Quảng trị, Quảng nam và Quảng Ngãi. Những tên gọi từ thuở rất xa xưa đã trở nên gần gủi dù địa thế chia đôi bởi đèo Hải Vân. Lại thêm câu chuyện 2 xứ Quảng chia đôi 20 năm bởi con sông Bến Hải. Tất cã vẫn cùng chung danh hiệu xứ Quảng. Có khác biệt về thổ ngữ và chút ít phong tục nhưng vẫn rất gần gủi trong đời sống văn hóa tryền thống.
Trong công cuộc Nam tiến của dân tộc ta, người miền Trung là di dân từ miền Bắc và ở lại. Người miền Nam là di dân từ miền Trung tiếp tục ra đi. Nếu không có miền Trung sẽ không có miền Nam. Không có miền Nam thì không có Việt Nam.
Năm 2007 đại hội sắc tộc Champa tại San Jose, tôi có dịp hỏi chuyện giáo sư Po Dharma từ Pháp qua. Trong niềm hãnh diện pha chút ngậm ngùi, vị giáo sư người Chăm nhắc lại rằng dân tộc và đất nước ông vào thế kỷ thứ 2 đã lập quốc từ Quảng Bình vào đến Biên Hòa. Biên Hòa thời đó là cả miền Đông Nam phần. Miền Tây là nước Thủy Chân Lạp, một sắc tộc gần với dân Cam Bốt. Lúc đó chưa có người Việt Nam sống ngoài lưu vực sông Hồng. Nước Việt và Champa đánh nhau suốt 9 thế kỷ. Khi chiến tranh, khi hòa bình. Công cuộc Nam tiến của người Việt dần dần tiêu diệt đất nước Champa và đồng hóa cả Chân Lạp, chiếm đất của Cam Bốt thành nước Việt Nam ngày nay.
Ngày xưa biên giới 2 nước là dãy Hoành Sơn chia cắt Hà Tĩnh với Quảng Bình. Năm 1069 Nam Việt ép Champa nhường 2 tỉnh Quảng bình, Quảng trị. Năm 1306 vua Chế Mân lại giao thêm 2 châu Ô và Lý cho Việt Nam làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Ô và Lý là toàn bộ lảnh thổ Thừa Thiên hiện nay.
Nước Champa với công chúa Việt Nam thì chỉ còn ở phía nam đèo Hải Vân. Năm 1471 lại phải rút về Phú yên. Đến thế kỷ thứ 17 thì không còn nước Champa nữa. Bây giờ chúng ta chỉ còn nhạc sĩ Từ công Phụng soạn nhạc tình khóc cho con dế buồn tự tử giửa đêm thâu và ca sĩ Chế Linh lên sân khấu Thúy Nga than van mối Hận Đồ Bàn cho dân Giao chỉ vỗ tay tán thưởng.
Và lịch sử củng ghi lại rằng ngày xưa non sông gấm vóc của dân tộc Chàm hết sức hùng vĩ từ dãy Hoành Sơn mà văn sử đã để lại bài thơ Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan. Nhưng phải chờ đến gần 1000 năm sau, vào năm 1802 nữ sĩ của làng Nghi Tàm-Hà nội, chồng chết, bà được triệu vào kinh đô dạy học, đi đến Quảng Bình đã làm bài thơ tuyệt tác :
Bước đến đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Và 2 câu cuối bà đã giãi bày tâm sự :
Dừng chân đứng lại, trời non nước Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Như vậy, ngày xưa Quảng Bình và Quảng Trị là 2 miền đất anh em. Cùng nằm giữa đèo Ngang và đèo Hải vân. Nhưng rồi hiệp định Geneve chia đôi 2 ngả. Trong thời kỳ chiến tranh, 2 tỉnh địa đầu của 2 phe Quốc Cộng là nơi đón chịu nhiều oan nghiệt chiến tranh. Nhưng Quảng Trị chính là chiến trường đau đớn lầm than nhất thế giới. So với cả 2 kỳ thế chiến, chiến tranh Triều Tiên và cuộc chiến Trung Đông ngày nay cũng không đâu bị tàn phá nhiều như Quảng Trị.
Vạn cốt khô
Cho đến ngày nay, 37 năm sau trận 1972 và 34 năm sau thời kỳ 75, Quảng Trị vẫn còn vương vấn khói hương tang tóc.
Cả tỉnh có 72 nghĩa trang, toàn những ngôi mộ phe cộng sản chết vì chiến tranh. Tuyệt đối không có nghĩa trang cho lính miền Nam. Có xã 5.000 dân mà có đến 2.000 mộ liệt sĩ miền Bắc. Cả tỉnh hiện có 18.774 tử sĩ và 10.963 thương binh. Chính quyền thành phố đã khoe rằng vừa tổng kết trao 80.000 huân chương anh dũng cho dân chúng.
Đó là không kể số lượng bộ đội hy sinh thuộc các đơn vị từ miền Bắc tham dự trận mùa hè 72. Con số này đã lên đến 50.000 người. Và cộng sản cũng không thể làm thống kê số thương vong của quân dân miền Nam chết vì Quảng trị. Chiến sử của Hà Nội ghi nhận rằng tổng cộng 5 sư đoàn tác chiến tham dự mặt trận Quảng Trị từ chiều 30 tháng 3 cho đến 15 tháng 9 năm 1972 đã thương vong 80%. Tháng 7-1972, tin tức hòa đàm Paris đang bế tắc đưa về Việt Nam. Hội nghị chờ đợi kết quả trên chiến trường. Vào những ngày cuối tháng 8 năm 1972, tổng bí thư Lê Duẩn ra lệnh đưa mỗi ngày 1 đại đội qua sông tăng viện cho Thành Cổ. Người vào thì có, người ra thì không. Qua đến tháng 9 nước sông Thạch Hãn lên cao, vượt sông hết sức khó khăn và đa số đã hy sinh ngay khi qua sông vì bị hỏa lực phi pháo quá mạnh của miền Nam. Hà nội quyết tâm giữ Thành Cổ bằng mọi gia.Ô
Trong khi đó, Tổng thống Thiệu từ Sài Gòn cũng ra lệnh phải lấy Cổ Thành bằng mọi giá. Trung tướng Ngô Quang Trưởng báo cáo trong tài liệu là 10 ngày sau cùng, mỗi ngày 150 Thủy quân lục chiến đã hy sinh. Cả hai lữ đoàn TQLC thay phiên nhau đưa từng đại đội xung phong vào Cổ thành, hết đợt này đếạn đợt khác. Tổng số TQLC Việt Nam hy sinh trong trận Cổ thành là 3.600 tử sĩ. Riêng 10 ngày sau cùng chết 1.500 chiến binh.
Con số bộ đội cộng sản chết trong Cổ thành còn cao hơn rất nhiều. Hàng ngàn chiến binh tử thủ, nhưng chỉ có hơn 1 tiểu đội thoát về bên kia sông Thạch Hãn và số bị bắt rất ít.
Vì vậy, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến, sự hy sinh trong trận Quảng Trị quả thực hết sức lớn lao, mặc dù Cổ Thành Đinh công Tráng của bên này hay Thành Cổ của bên kia không phải là 1 vị trí chiến lược mà đơn thuần chỉ là một mục tiêu chính trị.
Ở cả hai bên, Nhất tướng công thành, vạn cốt khô.
Những ngày tháng chưa quên :


Nhắc lại lịch sử chiến tranh giữa 2 dân tộc Việt và Champa trong chín trăm năm chắc hẳn chúng ta không quên giai đoạn Việt Nam nghìn năm bị Tàu đô hộ và những xung đột biên giới lãnh hải ngày nay. Nhắc đến Quảng Trị với trận chiến tranh bên bờ sông Bến Hải là phải nhớ đến 100 năm Trịnh Nguyễn phân tranh. Ghi dấu trận mùa hè 72 để học lại bài học lịch sử.
Đất nước chia đôi vì ý thức hệ và miền Bắc quyết tâm đánh chiếm miền Nam. Trận thử lửa kinh hồn đánh vào 40 thành phố miền Nam năm Mậu thân, tuy không chiến thắng nhưng có tiếng vang rất lớn. Từ trận Tết 68 Hoa kỳ bắt đầu hết ý chí chiến đấu và có ý định bỏ Việt Nam. Năm 1972 khi mở 3 mặt trận tấn công miền Nam, cho dù thắng hay bại, cộng sản cũng hoàn toàn bẻ gãy quyết tâm của Hoa Kỳ và toàn thắng trên bàn hội nghị.
Đó là những ngày tháng chưa quên.
30 tháng 3-72 cộng sản nổ súng trên 3 mặt trận. Hỏa tuyến, cao nguyên và miền Đông Nam phần. Một tháng sau, ngày 01 /5/ 72 miền Nam mất toàn thể Quảng trị. Tuyến phòng thủ mới là sông Mỹ Chánh. Đồng thời, Huế và Thừa thiên bị uy hiếp từ phía tây. Sư đoàn 3 bộ binh tan hàng. 300 ngàn dân Quảng Trị trở thành dân tỵ nạn bỏ lại quê hương với một đại lộ kinh hoàng. Binh sĩ rã ngũ làm loạn cả kinh thành. Thảm kịch Quảng Trị trở thành niềm đau của toàn thể miền Trung. Trong khi đó Saigon còn đang mang nặng thương vong ở 2 mặt trận Kontum và Bình long.
Ngày 2-5-72 bỗng trở thành ngày lịch sử dù chỉ là buổi họp giữa 2 vị trung tướng. Ngô Quang Trưởng và Nguyễn văn Thiệu. Ông Thiệu với sự ủng hộ của người Mỹ, quyết định đem ông Trưởng ra Vùng I.
Trung tướng Trưởng ra miền Trung đã thay thế luôn 3 vị trung tướng. Ông thay tướng Hoàng xuân Lãm làm tư lệnh vùng I nhưng đồng thời để thống nhất chỉ huy, 2 vị trung tướng niên trưởng thâm niên của Nhẩy Du,  Dư quốc Đống và TQLC, Lê nguyên Khang được gọi về Saigon. Hai vị đại tá tư lệnh phó của 2 sư đoàn tổng trừ bị mũ đỏ, mũ xanh lên thay và đặt dưới sự chỉ huy toàn diện của quân đoàn I.
Khả năng không yểm và hải yểm của Hoa Kỳ từ Thái lan cho đến đệ thất hạm đội sẵn sàng dành tối đa cho vị tướng gầy ốm, khắc khổ của miền Nam để lấy lại thế chủ động.
Khi đám lính ba gai trở thành loạn quân đốt chợ Đông Ba thì Huế bắt đầu rung động và tìm đường chạy về Đà Nẵng.
Ngày 4 tháng 5-72 tướng Ngô quang Trưởng bay từ Cần Thơ ra miền Trung thì người thượng sĩ già của tiểu khu Thừa Thiên chạy xe đạp dọc bờ sông Hương la lối om sòm. “Xong rồi, bà con đừng chạy nữa, Trưởng hắn ra rồi.”
Và Huế bèn đứng lại đợi chờ.
Ngày 5 tháng 5-72 vị tân tư lệnh thăm phòng tuyến Mỹ Chánh còn tỏ vẽ hết sức lo lắng. Cả 2 sư đoàn Dù và TQLC vẫn chưa hồi phục. Thiết giáp, biệt động quân cũng còn đang tái trang bị. Chỉ còn trông cậy vào sư đoàn 1 bộ binh chống giữ phía tây của Thừa thiên.
Kinh đô Huế 4 năm trước vẫn chưa quên trận Mậu Thân kinh hoàng và không có gì bảo đảm là sẽ bình yên vào năm 1972.
Tuy nhiên sau cơn chấn động bàng hoàng, miền Nam dần dần tỉnh táo trở lại. Trên mặt trận miền Trung, địch quân dường như đã hết sức.
Dù vậy, phía Hoa kỳ ngay từ Bộ trưởng quốc phòng đến Bạch cung cũng chỉ mong Saigon giữ vững được tình hình, không mong gì sẽ phản công và tái chiếm lại Quảng Trị. Nhưng tướng Ngô Quang Trưởng, và các vị đại tá tân tư lệnh tổng trừ bị, đã thấy những vì sao lấp lánh chân trời, cùng các cố vấn Mỹ từ Saigon xuống đến các đơn vị đều nghĩ rằng phòng thủ miền Nam hữu hiệu là phải tấn công.
Giữa tháng 6-72 ông Trưởng bay về Dinh Độc lập với kế hoạch tái chiếm Quảng Trị. Tổng thống Thiệu và các vị trong Hội đồng an ninh quốc gia từ đại tướng Khiêm, Cao văn Viên và Đặng văn Quang đều ngần ngại nên chưa chấp thuận. Tư lệnh vùng I hết sức thất vọng và bày tỏ công khai sự bất bình.
Hai ngày sau, tổng thống mời tư lệnh Vùng I trở lại Saigon, yêu cầu trình lại kế hoạch phản công và được chấp thuận. Chiến dịch Lam Sơn 72 khởi sự từ 28/6/72.
Vùng I dốc toàn lực vượt tuyến Mỹ Chánh. Cuộc chiến bắt đầu được Hà Nội gọi là quân dân Quảng Trị anh hùng đã chống giặc 81 ngày đêm.
Đại tá Nguyễn năng Bảo chỉ huy lữ đoàn 147 TQLC đánh Cổ Thành từ phía đông bắc. Ông là người chúng tôi dự trù sẽ phỏng vấn cho bộ phim Quảng Trị nhưng vừa qua đời tuần qua. Đại tá Bảo sẽ không còn có dịp nhắc lại những giây phút nghiệt ngã nhất của cuộc đời chiến binh tại Cổ Thành.
Những chuyện bên lề trận Quảng Trị có nhiều chi tiết cần hỏi tướng Ngô quang Trưởng. Năm 2005 hãng ASia tổ chức văn nghệ thu hình tại thủ đô, chúng tôi có dịp tham dự.
Tướng Nguyễn duy Hinh có nhã ý chở tôi thăm ông Trưởng nhưng không gặp. Tình cờ lại gặp ông đi coi Asia, ngồi bên cạnh. Trong rạp hát không có cơ hội nói chuyện nhiều. Hẹn lần sau quay lại thủ đô, nhưng người đã đi rồi.
Chuyện xưa còn đó, nhưng nhân chứng một đi không trở lại.
Phần thăng hoa của lịch sử
Có người hỏi rằng QLVNCH đã có bao phen chinh chiến oanh liệt, đánh Cam bốt, đánh Hạ Lào, chiến trường Cao Nguyên, chiến trường An lộc, trận Mậu Thân, Tại sao lại chọn riêng Quảng Trị . Câu trả lời rất thiên vị văn học nghệ thuật. Ngoài yếu tố lịch sử chiến tranh nam bắc thư hùng ở hỏa tuyến. Bản Cờ bay, những bài thơ, những bản nhạc khóc cho phi công Trần thế Vinh đều là những lý do để cho bộ phim thăng hoa. Thêm vào đó khi mất Quảng Trị, trái tim miền Trung là kinh đô Huế tưởng chừng ngưng đập. Chiến thắng Quảng trị làm cho Huế hồi sinh.
Trong cuốn phim sẽ có tiếng ca của cô gái sinh ra tại Đông Hà hát bài Về miền Trung, hay bài Thương về miền Trung. Thị trấn Đông Hà của một thời du khách đến thăm viếng đông cả sư đoàn. Súng đeo vai, đi lên đi xuống. Có cô gái tên Trương Quỳnh Như từ tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ bước ra sân khấu hải ngoại để trở thành ca sĩ Như Quỳnh.
Chúng ta cần phải có hình ảnh của Quảng Trị, Đông hà, Cam lộ trước ngày cộng sản tấn công. Sinh hoạt của miền Trung êm đềm trước giai đoạn chiến tranh khốc liệt. rồi chợt cuộc tấn công bùng nổ đúng như bài ca chính huấn. Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em.
Năm 72 làm hình ảnh êm đềm của miền Trung không còn nữa. Còn đâu là quê hương xứ dân gầy, với bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ.
Có người con gái sông Hương, đêm đêm nghe tiếng đại bác, thương về người tình thủy quân lục chiến. Suốt 6 tháng dài chỉ toàn nằm mơ đi nhận xác chồng từ Quảng trị đưa về.
Có chuyện gia đình vợ  chồng trung úy Thủ Đức. Với tình học trò, cả hai đều sinh ra và lớn lên ở Cam Lộ. Quê nghèo nằm bên cạnh con đường số 9 khi quân ta tiến vào Hạ Lào.
Ra trường tình nguyện về Quảng Trị làm phòng quân báo SĐ3 Bộ binh. Năm 72 tan hàng đã chạy từ Quảng trị vào Đà Nẵng, cùng chiến hữu xây dựng lại đơn vị. Năm 75 sư đoàn 3 lại tan hàng, anh đem vợ con chạy vào đến Cam Ranh thì vợ sinh đẻ ngay trên đường chạy giặc. Bơ vơ giữa xứ lạ quê người, người chiến binh đất Quảng Trị quyết định đành trở về Cam Lộ. Cán bộ địa phương chờ bắt anh đi ngay. Vợ con mới sanh và hai đứa con nheo nhóc vẫn tiếp tục sống trên vùng đất cầy lên sỏi đá suốt 7 năm cho đến khi anh được thả về. Gia đình đoàn tụ tại Cam Lộ, miền quê nghèo nhất của xã hội chủ nghĩa cho đến 1995 thì cả nhà được định cư tại Mỹ.
Gửi anh Lê văn Trạch (Memphis, Tennessee) quê Cam Lộ, Quảng Trị. Sinh viên Thủ Đức 1/69 Sỹ quan quân báo của Sư đoàn 3 Bộ binh, Số phận long đong, Đi lính 6 năm, hai lần tan hàng, 7 năm tù lao cải. Vợ đẻ trên đường chạy loạn, như vậy cháu đã 34 tuổi. 37 năm đã trôi qua, anh vẫn còn nhớ mãi về các nguồn tin tình báo để giúp chúng tôi soi sáng những trang quân sư.Ư Tuy nhiên, phải nói rằng, quan trọng không phải chuyện cánh quân nào tiến trước hay tiến sau. Chính những chuyện đơn giản như cuộc đời của anh chị là niềm cảm hứng cho chúng tôi. Từ gia đình dân quê Cam Lộ, anh chị đã sống bên nhau trong thời ly loạn, cho đến khi chia cắt tù đày. Anh là dân Quảng Trị chân lấm tay bùn ngay từ khi mới ra đời. Rồi khi đi tù về vẫn còn làm ruộng ở Cam Lộ 13 năm cho đến khi qua Mỹ. Hãy cho tôi tất cả hình ảnh về gia dình anh. Bộ phim Quảng Trị này sẽ dành tặng cho những đứa cháu của quê hương Cam Lộ.
Giao Chỉ San Jose

Từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, Triết gia Mạnh Tử (372-289 BC) của Trung Hoa đã nói rằng, “Dân là quý, thứ đến đất nước, rồi tới vua.” Điều đáng nói là Mạnh Tử là người đi theo học thuyết của Nho Gia vốn chủ trương vua là con ông Trời (Thiên tử) được sai xuống nhân gian để trị quốc an dân, vậy mà cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là tối quan trọng của người dân. Thời hiện đại, công pháp quốc tế đã nêu ba yếu tố chính hình thành một quốc gia: người dân, lãnh thổ và chính quyền. Trong đó, thật ra người dân chính là yếu tố then chốt quyết định. Lãnh thổ nếu không có dân ở, không có người quản trị thì không phải là đất nước của một dân tộc. Chính quyền từ người dân mà ra, bởi vì trước khi một người ra nắm quyền cai trị đất nước thì người đó phải là một người dân của đất nước ấy. Hơn nữa, sự thịnh suy của một quốc gia nằm trong tay người dân.
“Phản động lực” mà người Đài Loan thể hiện trong cuộc bầu cử tổng thống vừa rồi khiến tôi, sau những suy nghĩ miên man về chuyện nước non, lại quay về với bài học yêu nước của thời tiểu học với câu hỏi khó, khiến nhiều học trò gác bút: “Em hãy tìm từ phản nghĩa với ‘tôn đại’.” Trung Quốc càng hung hăng đe dọa bao nhiêu, Đài Loan càng quật cường ngạo nghễ bấy nhiêu. Mà nếu Bắc Kinh ngu ngơ hay vờ vịt không biết gì đến định luật này thì, thầy nào tớ đó, Hà Nội cũng mù tịt hay giả bộ tương tự. Họặc mù tịt như thể đã hoàn toàn miễn dịch trước luật này; hoặc đóng kịch như thể không hề sống trong không gian ba chiều bình thường mà là một môi trường nào đó thiêu thiếu, cơ hồ chỉ… hai chiều rưỡi.
Tôi sinh trưởng ở Đà Lạt (Thành Phố Ngàn Hoa) nên sự hiểu biết về hoa lá cũng không đến nỗi tồi. Thế mà mãi tới bữa rồi, nhờ xem trang Trăm Hoa, mới được biết thêm về một loài hoa nữa – hoa ban: “Mùa hoa nở là lúc các cặp đôi nô nức đến thăm Tây Bắc. Hoa ban trắng tượng trưng cho tình yêu chung thủy và sự chân thành, dù tình yêu có gặp nhiều trắc trở, khó khăn thì cũng tự tin vượt qua và sẵn sàng đi đến bến bờ hạnh phúc. Các cặp đôi yêu nhau thường thề nguyện dưới gốc cây hoa ban như một minh chứng cho tình yêu thủy chung, bền chặt.”
Nhìn vào sự xuất hiện, sinh trưởng và tồn tại của chế độ cộng sản ở Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận đã có sự tương đồng với những thông tin tóm lược vừa nói về bệnh ung thư của con người...
Tôi tình cờ nhìn thấy hình Nguyễn Thúy Hạnh đang lơn tơn đẩy một cái xe cút kít đầy ắp bưởi (trên trang RFA) trong một cuộc phỏng vấn do Tuấn Khanh thực hiện, vào hôm 19 tháng Giêng năm 2021. Bên dưới tấm ảnh này không có lời ghi chú nào về thời điểm bấm máy nên tôi đoán có lẽ đây là lúc mà cô em đang hớn hở đến thăm vườn bưởi của họ Trịnh (ở Hòa Bình) vào “thuở trời đất (chưa) nổi cơn gió bụi”!
Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đang phải đối mặt với cuộc tranh chấp nội bộ trong kế hoạch tìm người kế nhiệm lãnh đạo khóa đảng XIV, nhiệm kỳ 2026-31. Những tranh chấp này được giữ kín để tránh hoang mang nội bộ. Chúng bộc phát ngay tại các Đại hội đảng địa phương và các ban đảng từ tháng 10 năm 2023...
Cuộc bầu cử tổng thống lần thứ 8 tại Đài Loan đã được tổ chức vào ngày 13/1 với kết quả là ông Lại Thành Đức Phó chủ tịch Đảng Dân tiến (Democratic Progressive Party, DPP) thắng cử...
Chúng ta đang làm nhân chứng cho một cuộc bầu cử kỳ quặc và đa sự chưa từng xảy ra trong lịch sử đầu phiếu ở Hoa Kỳ. Có thể nói, không chỉ lịch sử, mà rộng lớn hơn, chính là "sự cố" văn hóa chưa từng thấy. Bước vào năm 2024, sự tranh đua giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ càng gay go, khốc liệt với âm mưu, độc kế, thủ đoạn, ám toán, bôi nhọ, mánh mung, để xem ai sẽ là chủ nhân của ngôi Nhà Trắng trong bốn năm tới. Tất cả những ý nghĩ, hành vi đó đều gôm vào chính sách, chiến lược và chiến thuật vận động bầu cử. Bạn đọc sẽ có dịp theo dõi các thầy bàn người Mỹ và thầy bàn người Việt (trong và ngoài nước) phong phú hóa, hư cấu hóa, ảo tưởng hóa về việc bầu cử, tạo ra câu chuyện nửa thực, nửa hư, thú vị, bất ngờ với giận dữ và thất vọng, sung sướng và buồn bã, rung đùi và cụng ly, nguyền rủa và chửi bới, vân vân. Thông thường những luận lý, âm mưu, phê phán, dự đoán đó… được mổ xẻ qua kiến thức và kinh nghiệm tây phương, nơi có hàng ngàn sách vở nghiên cứu chính trường, chính đạo,
Chúng ta đang bước vào năm bầu cử. Năm 2024 sẽ có một cuộc bầu cử có tính quyết liệt, vì các lựa chọn chắc chắn sẽ gây tranh cãi trong nội bộ cộng đồng gốc Việt, trong các gia đình người Việt, giữa các lựa chọn về cấp tiến và bảo thủ, giữa các thế hệ trẻ và già ở hải ngoại. Và chắc chắn là bầu cử tháng 11/2024 tại Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng tới cuộc chiến Trung Đông, cuộc chiến ở Ukraine, và ở cả Đài Loan. Tác động như thế nào, chúng ta khó đo lường hết tất cả các ảnh hưởng. Trong đó, một tác động lớn là từ tin giả, nói kiểu Mỹ là Fake News, tức là tin không thật.
Tôi rất thích khoa nhân chủng nhưng không có cơ may đến trường để được truyền thụ một cách bài bản về ngành học thú vị này. Hoàn cảnh sống, nói nào ngay, cũng không mấy thích hợp cho nhu cầu tự học. Suốt ngày (và suốt đời) tôi chỉ loanh quanh hàng quán nơi mà những kẻ hay lê la thường nói rất nhiều, dù sự hiểu biết của họ vốn không được bao nhiêu. Ngoài giới hạn về kiến thức, mấy ông bạn đồng ẩm còn có cái tật rất hay tranh cãi (và luôn cãi chầy cãi cối) nên mọi thông tin, từ bàn nhậu, đều không được khả xác hay khả tín gì cho lắm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.