Hôm nay,  

IMF và World Bank

18/04/200700:00:00(Xem: 9809)

  ...Năm nay, tôi có cảm giác bất an vì báo cáo của IMF thì quá lạc quan trong khi dư luận chỉ chú trọng đến tai tiếng xảy ra cho đương kim Chủ tịch WB...

Như thông lệ hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới vẫn có hai phiên họp được triệu tập vào Tháng Tư và Tháng 10 và năm nay, hội nghị đó đã tiến hành ngay tại Thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ. Diễn đàn Kinh tế đài RFA có cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về một số điều đáng chú ý về kỳ hội này trong chương trình chuyên đề do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, mà khi theo dõi các hội nghị quốc tế về kinh tế tài chính, ông có nhận xét gì về hội nghị bán niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới vừa được khai mạc tại Washington D.C."

- Tôi có cảm giác bất an vì sự tương phản giữa thực tế kinh tế của thế giới và những vấn đề mà hai định chế quốc tế này quan tâm, hoặc những gì đang được truyền thông quốc tế loan tải về kỳ hội nghị này.

Để chuẩn bị cho hội nghị, hai định chế ấy đều công bố một số kết quả nghiên cứu, chỉ được phép phổ biến ngay trước hội nghị, và vì hội nghị quy tụ giới lãnh đạo kinh tế tài chính của 185 quốc gia hội viên của hai định chế này, những điều họ thảo luận cũng là chuyện đáng quan tâm cho thế giới. Năm nay, tôi có cảm giác bất an vì báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì quá lạc quan trong khi dư luận lại chỉ chú trọng đến những tai tiếng xảy ra cho đương kim Chủ tịch Ngân hàng Thế giới là ông Paul Wolfowitz. Chỉ nội một việc tìm hiểu các báo cáo và đồn đại này cũng đủ mệt!

- Hỏi: Chúng tôi cũng thấy rằng việc tìm hiểu các báo cáo quá chuyên môn này là không dễ, chưa nói gì đến chuyện tai tiếng của ông Paul Wolfowitz khiến nhiều dư luận cho rằng ông ta nên từ chức.

Nhưng trước hết, xin đề nghị ông giải thích vì sao ông cho là Quỹ Tiền tệ Quốc tế lại có vẻ quá lạc quan trong báo cáo vừa công bố của họ"

- Cả hai định chế này đều được thành lập trong đà tái thiết của thế giới sau Thế chiến II và kể từ đó, tình hình kinh tế thế giới đã có nhiều thay đổi, nhất là từ 15 năm trở lại đây và người ta bắt đầu đặt câu hỏi về mục tiêu và sự hữu ích của hai định chế này, nhất là của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, gọi tắt là IMF. Chúng ta không thấy vấn đề ấy được hai tổ chức này đề cập tới, và phúc trình của IMF về Viễn ảnh Kinh tế Toàn cầu về 2007-2008 lại đặc biệt lạc quan ở những dự báo trong khi lại chẳng đề cập gì tới những rủi ro mà chính định chế này có nói tới ở phần đầu.

Về sự hữu ích của Quỹ IMF trong thực tế kinh tế thế giới ngày nay thì chúng ta cần thấy là thế giới đã có thay đổi với nhiều quốc gia xưa kia gọi là nghèo, chậm tiến hay kém phát triển nay đã là những nước tân hưng, có dự trữ ngoại tệ dồi dào, thậm chí có cả khả năng viện trợ cho nhiều nước nghèo hơn mà không đòi hỏi điều kiện gì về cải cách tài chính hay chính trị, như trường hợp của Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga hay Brazil, thậm chí cả Venezuela. Vì vậy, nhiều quốc gia thấy rằng họ chẳng cần tới sự viện trợ tài chính hay kỹ thuật của IMF, nhất là khi điều kiện viện trợ có thể dẫn tới những cải cách mà lãnh đạo các xứ này cho là gây bất ổn. Vì vậy, cấu trúc tài chính toàn cầu đã thay đổi mà định chế này không ứng phó kịp.

- Hỏi: Trong khi ấy, như ông vừa trình bày, những rủi ro kinh tế tài chính của thế giới thì vẫn còn, mà lại không được báo cáo của IMF đề cập tới"

- Thưa đấy là một vấn đề thứ hai. Như thông lệ, IMF vẫn đưa ra dự báo lạc quan về viễn ảnh kinh tế thế giới, chẳng hạn như sẽ đạt mức tăng trưởng là 4,9% như trong giai đoạn 2003-2006. Chúng ta cần biết rằng nghệ thuật dự báo không phải là một khoa học chính xác, tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế cho thấy là sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh và liên tục, thường là bốn năm liền, thể nào kinh tế cũng sẽ có lúc điều chỉnh, tức là tăng trưởng chậm hơn, bị suy trầm hay thậm chí suy thoái. IMF dự đoán là kinh tế thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong hai năm tới sau bốn năm rất mạnh vừa qua. Điều đáng chú ý là ngay trong phúc trình công bố tuần qua thì định chế này đã đề cập tới nhiều rủi ro khiến cho đà tăng trưởng khó tiếp tục và kinh tế thế giới có thể gặp nhiều bất ổn trong thời gian tới. Đáng chú ý vì sau khi nhận định như vậy, IMF lại không khai triển tiếp trong phần kết luận.

- Hỏi: Ông có thể nói rõ hơn về những rủi ro đó hay chăng"

- Kinh tế thế giới đang gặp một nghịch lý lớn là lệ thuộc quá nhiều vào sức tiêu thụ và nhập khẩu của kinh tế Hoa Kỳ, một quốc gia đang ở trong thời chiến và mắc nợ thế giới vì chi nhiều hơn thu, nhập nhiều hơn xuất khẩu. Viễn ảnh tăng trưởng của kinh tế thế giới tùy thuộc vào yếu tố bất trắc là sự lạc quan tiêu xài của giới tiêu thụ Mỹ. Trong khi ấy, kinh tế Mỹ cũng có triệu chứng bất trắc ngay trong một lĩnh vực mà thế giới và dân Mỹ đã nói tới, đó là sự nguội lạnh thậm chí suy sụp của thị trường gia cư địa ốc. Nếu kinh tế xứ này bị trì trệ vì những yếu tố đó thì đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu không thể tiếp tục là 4,9% như trong bốn năm qua.

Chuyện thứ hai là một vấn đề diễn đàn này đã đề cập nhiều lần mà không thấy IMF kết hợp vào dự báo của họ, đó là phản ứng bảo hộ mậu dịch, thậm chí ngăn chặn trào lưu toàn cầu hoá, không chỉ xuất phát từ chính trường Hoa Kỳ mà còn hiện diện rất mạnh trong các khối kinh tế lớn của thế giới. Và tranh chấp mậu dịch hay bế tắc trong cơ chế WTO về vòng đàm phán Doha là một vấn đề rất là thời sự.

Đó là hai thí dụ nổi bật nhất. Giới kinh tế hay dùng một ẩn dụ của kỹ nghệ hầm mỏ, khi thợ mỏ đem theo con chim gọi là kim tước, hay canary, xuống hầm. Khi thấy chim chết thì phu mỏ biết là không khí có độc để họ kịp thoát thân. Các nhà kinh tế dùng chữ "chim chết dưới hầm" để nói về những biến cố rất nhỏ nhưng lại báo hiệu tai họa rất lớn và họ đã thấy chim chết hàng bầy ở nhiều nơi mà lại không có trong phúc trình của IMF. Chúng ta không quên là đầu năm 1997, IMF cũng có những dự báo lạc quan như vậy mà không thấy ra vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á xuất phát từ Thái Lan vào mùng hai Tháng Bảy năm 1997.

- Hỏi: Bây giờ, chúng ta bước qua một lãnh vực thứ hai đang gây tò mò cho nhiều người là những tai tiếng trong Ngân hàng Thế giới liên quan đến vị Chủ tịch mới nhậm chức chưa đầy hai năm là ông Paul Wolfowitz. Ông giải thích cho bối cảnh của vụ việc này được không"

- Tôi rất ngần ngại đề cập tới chuyện đó vì vụ này có liên hệ đến nhiều yếu tố chính trị chứ không thuần túy kinh tế tài chính.

- Hỏi: Như ông có trình bày trên diễn đàn này vào ngày 22 Tháng Ba năm 2005, sau khi ông Paul Wolfowitz được Tổng thống Hoa Kỳ đề cử vào chức vụ Chủ tịch Ngân hàng Thế giới vào ngày 17 tháng Ba, rằng ông Wolfowitz này gặp sự chống đối của nhiều người, nhưng cũng dự báo là ông Wolfowitz sẽ cải tổ định chế này và chú trọng đến việc giải trừ tham nhũng. Cũng trong chương trình ấy, ông cho biết rằng dù là gốc Do Thái, ông Wolfowitz có bạn gái là nhân viên cao cấp của Ngân hàng Thế giới, là người Hồi giáo gốc Trung Đông tích cực tranh đấu cho nữ quyền, và còn nói là nhân vật này sẽ phải xin nghỉ việc.

Bây giờ, chưa đầy hai năm sau, liên hệ của ông Wolfowitz với bà ta đang là đầu mối của những tai tiếng khiến nhiều người gây áp lực đòi ông ta phải nghỉ việc. Thính giả có thể muốn biết về chuyện đó lắm, khi một công chức cao cấp của quốc tế bị đàn hặc và phê phán về chuyện tham nhũng...

Tôi xin được dè dặt nêu ra nhận xét chủ quan của mình về hồ sơ trên đây. Trước hết, Ngân hàng Thế giới là định chế được nhiều dư luận cho là 'quý tộc của sự nghèo khốn', với nhân viên là công chức quốc tế được lương cao bổng hậu mà lại miễn thuế. Nửa thế kỷ sinh sống bằng nghề viện trợ với tiền của người khác có thể đã tạo ra một tập quán và quyền lực thực tế cho họ. Đấy là một thực tế khiến người ta phải cải cách định chế này. Ông Wolfowitz được đề cử vào chức Chủ tịch cũng là để tiến hành việc cải cách, cho nên nếu có gặp sự nghi ngờ, ác cảm hay chống đối thì cũng là điều hiểu được.

- Hỏi: Tuy nhiên, còn có chủ trương chống tham nhũng và vụ liên hệ đến nữ nhân viên của định chế này"

- Thưa chính vì vậy! Đây là điều chúng ta được biết căn cứ trên những hồ sơ đã được chính Ngân hàng Thế giới công bố ra. Đầu tiên, trước khi nhậm chức, ông Wolfowitz đã cho giới chức định chế này biết mối quan hệ tình cảm của mình với một nữ nhân viên Ngân hàng Thế giới, là nhân viên phụ trách về thông tin và quảng bá trong khối Hồi giáo.

Về tổ chức, nhân viên này phải báo cáo lên thượng cấp trực tiếp là một Phụ tá Phó Chủ tịch, nhân vật này mới báo cáo lên thượng cấp là Phó Chủ tịch đặc trách Trung Đông và Bắc Phi Daniela Gressani. Vị Phó Chủ tịch này mới báo cáo lên thượng cấp trực tiếp là ông Juan Jose Daboud, một trong ba chức vụ gọi là Managing Director, mà ta có thể tạm dịch là Tổng thư ký. Ông này mới tường trình lên Chủ tịch Paul Wolfowitz.

- Hỏi: Nếu như vậy, nữ nhân viên này không phải là thuộc cấp trực tiếp của Chủ tịch Ngân hàng Thế giới và còn phải qua bốn cấp nữa mới lên tới ông Wolfowitz"

- Thưa đúng vậy, tuy nhiên, ông Wolfowitz vẫn tự ý trình bày ngay từ đầu toàn bộ vấn đề lên thượng cấp là 24 Quản trị viên của Ngân hàng Thế giới và tai họa bắt đầu xảy ra từ đó vì ngại rằng có mâu thuẫn về quyền lợi trong công vụ, là điều cho thấy là ông ta quá cẩn thận. Bước kế tiếp là Hội đồng Quản trị lại còn cẩn thận hơn, là cho lập ủy ban đặc nhiệm để cứu xét về đạo tắc, xem có mâu thuẫn hay không. Và ủy ban này kết luận là có, trong khi nữ nhân viên này khi ấy đang ở trong danh sách nhân viên sắp được thăng thưởng. Bây giờ, ta hãy lùi lại mà nhìn vụ việc này.

Vì liên hệ tình cảm với một nhân vật sẽ được bổ nhiệm làm Chủ tịch, nữ nhân viên này có thể sẽ mất việc khi sắp được tăng lương. Các vị công chức quốc tế trong định chế này mới có một quyết định sáng tạo là 'đề bạt', nôm na là đề nghị đánh bạt bà ta qua nơi khác. Nhưng để bù cho thiệt hại bị mất việc, họ đề nghị tăng lương thật cao, theo kiểu đền bù trước khi sa thải mà ngoài doanh trường gọi là severance pay. Suốt tiến trình thảo luận ấy, từ đầu năm 2005, ông Paul Wolfowitz xin yêu cầu là mình không can dự và đến Tháng Bảy năm 2005 mới được thông báo về đề nghị tăng lương và sa thải này, và được ủy ban về đạo tắc yêu cầu ông ta chỉ thị cho Nha Nhân dụng thi hành việc đó. Điều sai lầm nếu có của ông Wolfowitz là cứ tưởng rằng các Quản trị viên và nhân viên ủy ban đạo tắc thành thật tìm giải pháp cho một vấn đề tế nhị do chính ông tự ý nêu ra từ khi chưa nhậm chức. Bây giờ, dư luận cứ nghĩ rằng ông ta dùng uy quyền của Chủ tịch để tăng lương cho nhân tình!

- Hỏi: Như vậy, ông Wolfowitz không dùng thế Chủ tịch Ngân hàng Thế giới để trục lợi cho người thân. Nhưng vì sao ông ta lại bị chống đối nặng như vậy"

- Nhiều nhân viên Ngân hàng Thế giới không ưa vị Chủ tịch đang có chủ trương cải tổ cơ chế này. Phần nữa thì nhiều thành viên góp vốn cho Ngân hàng Thế giới thì không ưa thế lực quá mạnh của Hoa Kỳ và có ác cảm với Chính quyền Bush, và sau cùng thì nhiều dư luận thiếu am hiểu thì phản ứng theo cảm tính.

Dù sao, ngoài Chính quyền Bush thì rất nhiều đại biểu của các nước Phi châu vẫn tiếp tục tín nhiệm ông Wolfowitz, ngược với quan điểm của nhiều xứ Âu châu như Pháp, Anh và cả Đức. Theo dõi chuyện này từ đầu thì ta thấy rằng đây là một vụ phục kích và tiết lộ có chọn lọc để nội vụ nổ tung ngay trước kỳ hội vào tuần qua.

Lúc trẻ, tôi thích Võ Hồng. Khi già, tôi ưa Võ Phiến. Ông viết không nhiều (lắm) nên tác phẩm nào tôi cũng đọc đi/đọc lại đôi lần. Xem xong là quên ngay cái tựa nhưng tên tuổi các nhân vật trong chuyện của Võ Phiến thì cứ nhớ hoài. Họ để lại những ấn tượng rất sâu trong lòng độc giả
Dali_-_The_Sacrament_of_the_Last_Supper_-_lowres Tấm tranh Bí Tích Tiệc Ly vẽ các phụ nữ bên trên là một trong những tác phẩm giá trị nhất của Dali, cũng như tại bảo tàng nghệ thuật quốc gia của Mỹ tại Washington D.C. Bao năm qua người thưởng ngoạn lẫn người Ky-tô hữu vẫn lũ lượt ghé thưởng ngoạn tấm tranh của người họa sĩ cận đại nổi tiếng người Tây Ban Nha Salvador Dali này mỗi khi có dịp đến bảo tàng. Nó như một tác phẩm nghệ thuật của nhân loại, tương tự bức tranh Bữa Tiệc Ly tưởng tượng của Leonardo da Vinci, không thuộc sở hữu hay thẩm quyền của riêng tôn giáo nào. Vậy tại sao ban tổ chức Olympic tại Paris bị chỉ trích, lên án nặng nề khi ý tưởng của họ bị diễn giải là nhại theo bức tranh Bữa Tiệc Ly và màn trình diễn là báng bổ Ky-tô giáo?
Sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời, Chủ tịch nước Tô Lâm nổi lên là ứng viên hàng đầu thay ông Trọng. Nhưng Việt Nam dưới thời Tổng Bí thư Tô Lâm sẽ như thế nào? Thắc mắc này không khó trả lời vì tập quán của CSVN là “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.
Mùa Hè năm ngoái, cũng vào khoảng này đây, gần như mọi cơ quan truyền thông (trên toàn thế giới) đều hớn hở loan tin: đã tìm thấy bốn em bé biệt tăm, sau khi khiến chiếc phi cơ Cessna 206 bất ngờ bị hỏng máy và rơi xuống rừng sâu núi sâu.
Thời đại Nguyễn Phú Trọng đã khép lại sau 57 năm chuyên chính vô sản và tiếp tục độc tài Cộng sản. Ông Trong qua đời ngày 19/07/2024, thọ 80 tuổi, đã để lại một gia sản dở dang “chống tham nhũng” và “xây dựng, chỉnh đốn Đảng”...
Làm thế nào để ngăn chặn Trung Quốc tiến hành một cuộc xâm lược quân sự toàn diện nhằm chiếm Đài Loan bằng vũ lực? Sau đây là một số suy nghĩ cá nhân về vấn đề quan trọng này, tôi trình bày với tư cách là một học giả về Trung Quốc và không phải là đại diện chính thức của chính phủ Úc...
Tôi không thân thiết, và cũng chả quen biết chi nhiều với Trương Văn Dũng (TVD). Thản hoặc, mới có chút chuyện cần – cần phải trao đổi đôi ba câu ngăn ngắn – thế thôi. Tuy thế, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi nghe ông bị “túm”, và bị kết án tù. Dù rất ngại làm mất lòng thiên hạ (và cũng rất sợ gạch đá tán loạn, từ khắp bốn phương) nhưng tôi vẫn phải khách quan mà nhìn nhận rằng ông Tô Lâm chưa hề bắt “lộn” một nhân vật bất đồng chính kiến nào (ráo trọi) nhất là trường hợp của TVD!
Khi bài này đến với độc giả thì Tổng Bí thư đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng đã vắng mặt gần một tháng mà không có lời giải thích nào của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Lần gần nhất công chúng Việt Nam nhìn thấy ông Trọng là khi ông tiếp Tổng thống Putin thăm Hà Nội ngày 20/06/2024. Sau đó ông đã vắng mặt tại các buổi họp quan trọng...
Không ai biết chắc khi nào một đế chế sẽ sụp đổ. Chẳng ai có thể xác định chính xác thời điểm Đế chế La Mã, Bồ Đào Nha, Ottoman hay Anh kết thúc. Trong bài thơ "Waiting for the Barbarians", nhà thơ Hy lạp Constantine P. Cavafy nhiều lần khẳng định rằng những kẻ man rợ sẽ đến hôm nay. Người ta chờ đợi, như thể đây là chuyện thường nhật như việc một công ty sẽ phá sản, hay một buổi lễ ra trường vậy. Nhưng một đế chế thì sao? Liệu vào thời của mình, nhà thơ Hy Lạp Cavafy có thuộc về một đế chế nào đáng để gọi là đế chế không?
Tôi hoàn toàn (và tuyệt đối) không có năng khiếu hay tham vọng gì ráo trong lãnh vực thơ văn/thi phú. Suốt đời chỉ ước mong sao có sách báo để đọc, để thưởng thức những lời hay ý đẹp của giới văn nhân thi sỹ, là vui thích lắm rồi. Sở thích, cùng niềm vui, tuy giản dị thế thôi nhưng đôi lúc tôi vẫn bị lôi thôi vì những câu cú (vô cùng) tối nghĩa:
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.