Hôm nay,  

Vui Thú Yên Hà

23/09/200900:00:00(Xem: 7747)
VUI THÚ YÊN HÀ
Huệ Trân
Các cụ ta thời xưa có những thú tiêu khiển tao nhã mà nay con cháu có tình cờ tìm đọc nơi sách vở cũ cũng … chịu thua vì không thể bắt chước được. Chẳng hạn như, để đón hoa quỳnh nở về đêm, các cụ phải chuẩn bị nhiều ngày. Thời xưa, đó là loại hoa quỳnh hiếm quý, khi kết nụ và tăng trưởng đều đặn, báo hiệu sẽ nở hoa vào một đêm trăng tỏ thì chủ nhân chẳng thể không chia sẻ với bằng hữu.
Ngồi ngắm hoa suông ư" Coi sao được! Tiếp tao nhân mặc khách thì trà quý không thể thiếu. Thế nên con cháu trong nhà sẽ được lệnh mang những bộ tách nung bằng men, bằng sứ ra chùi rửa. Bộ nào cũng có một chiều dài xuất sứ đi theo để tăng thêm phần giá trị.
Nâng tách cổ, uống trà ngon, ngắm hoa quý mà dùng bánh kẹo mua ngoài chợ thì cũng không xứng đáng! Các cụ bèn sai gia nhân nấu kẹo mạch nha để nhâm nhi với trà thơm. Loại kẹo này chủ yếu chỉ là đường, quậy cho đều, khi đường tan ở độ vừa quánh thì thêm vào loại hương thơm nào mà gia chủ ưa thích, như mùi hoa sen, hoa bưởi, hoa nhài v…v.. Thực ra, đây là loại kẹo bình dân, cuốn thành cục tròn tròn trên một cái que bằng tre, thường bán cho trẻ con trong xóm. Nhưng khi được chọn để có mặt trong đêm ngắm hoa thưởng nguyệt thì nó đã được nâng cấp tới mức cầu kỳ.
Nhiều ngày trước, gia nhân đã phải để ý tìm nhặt những hạt sỏi nhỏ, nhẵn, trong, và tròn trịa, mang về ngâm nước muối cho thiệt sạch. Sau đó, lại rửa kỹ bằng nước mưa, chứ không phải nước ao hồ. Khi sạch rồi, sẽ mang phơi nắng, phủ lớp vải thưa mỏng cho khỏi bám bụi. Rồi khi nồi kẹo vừa độ quánh, gia nhân sẽ dùng đôi đũa tre dài, gắp từng hạt sỏi, nhúng vào nồi kẹo, xoay tròn nhè nhẹ cho kẹo dính quanh sỏi. Phải khéo tay để viên kẹo vừa đẹp, vừa không lớn, chỉ đủ ngậm trong miệng, để chất ngọt, chất thơm sẽ tan từ từ đến khi chỉ còn trơ hạt sỏi. Lúc đó các cụ mới nhả ra và uống trà!
Thời nay, con cháu nào mà có thể hầu trà như vậy" Cũng may, không còn bao nhiêu cụ chuộng cái thú tiêu khiển như vậy nữa!
Mới hay, không gì thịnh mà không suy, nên với thời gian, lòng hoài cổ cũng chỉ là “Xếp tàn y lại, để dành hơi” mà thôi!
Tuy nhiên, cũng có những thú vui xưa còn có thể tồn tại. Chẳng hạn thú sưu tầm đồ cổ. Trong lãnh vực này, đồ sứ Giang Tây được nhắc nhở nhiều nhất. Các loại men, loại sứ xuất phát từ đây thường được chọn lọc kỹ càng để giữ được danh tiếng, nhưng vẫn không thể tránh bị làm giả. Ngoài cảnh trí mai, lan, cúc, trúc thường được trang điểm lên sản phẩm, tôi tình cờ được thấy một cái đĩa sứ ở nhà một người bạn. Cái đĩa men xanh, nằm trang trọng trong tủ kính được bạn tôi giới thiệu là đĩa cổ Giang Tây, đã mua được giữa đống hàng hóa bát nháo trong khu chợ trời. Người bán hàng vì không biết giá trị nên bán giá rất rẻ.
Tôi đứng ngắm chiếc đĩa quý không vì những tình tiết mà bạn tôi giới thiệu, cũng chẳng quan tâm hàng thật hay hàng giả. Tôi bị chiếc đĩa thu hút vì hai câu thơ khắc trên đó:
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen.”
Lát sau, tôi nhìn bạn, buột miệng nói một câu mà tôi nghĩ, có thể làm bạn thất vọng:
- Hay quá! Nếu gặp được chiếc đĩa nay, tôi cũng sẽ mua ngay. Hai câu thơ thật đẹp!
Bạn tôi mua vì men, vì sứ, vì nơi xuất phát. Còn tôi, nếu có mua, chỉ vì hai câu thơ trên đó! Nhưng, thơ văn có làm tăng giá trị khi khắc ghi trên sản phẩm không" Chắc cũng có chứ! Chẳng hạn như chiếc quạt giấy rất tầm thường của tôi mà tôi quý lắm, vì có giòng chữ mực đen ai phóng bút lên đó “Bố là tất cả, Bố ơi! Mẹ chỉ có một trên đời.”

Thật ra, hai câu thơ trên chiếc đĩa men xanh mà bạn tôi tin là đồ cổ xứ Giang Tây cũng chẳng độc đáo cho lắm về ý từ, nhưng tâm tôi dính vào vì hai hình ảnh Mai và Hạc.
Không hiểu sao, tôi lại nhìn hai đối tượng này là hình ảnh của Cha và Mẹ. Tôi từng quan sát gốc mai sau vườn. Chậm rãi, lặng thầm, nhưng những cọng rễ li ti rất chăm chút, cẩn thận đón nắng, chờ mưa nuôi từng cành non, từng lá mới để mùa xuân, muôn hoa nở rộ làm đẹp cho đời; khác chi lòng mẹ âm thầm nuôi con nhiều tháng năm dài, mong khi khôn lớn con sẽ là người tài đức.
Còn cha, núi Thái Sơn ở đâu, cao bao nhiêu, rộng nhường nào, tôi không biết! chỉ là trí tưởng tượng về một cái gì cao lắm, rộng lắm, nhưng sự cao rộng đó lại bất động! Trong khi, với riêng tôi, cha luôn là những hình ảnh năng động tuyệt vời. Thuở tôi thơ dại, cha là ngưồi cầm tay, dạy tôi tô từng nét A, B trên cuốn vở đầu đời, là người chạy theo để kịp đỡ khi tôi té ngã trên những vòng xe đạp loạng quạng, vụng về. Cha đưa tôi về quê nội, thăm quê ngoại để biết quý hạt cơm có từ ruộng, manh áo có từ tằm. Khi tôi lớn, mà chưa khôn, cha chỉ cho tôi đâu là những bàn tay sắt bọc nhung, đâu là những vòng cung tên tẩm độc, chứ chẳng phải cây cong! ….
Cha không phải là núi Thái Sơn ở đâu đó, xa xôi, thinh lặng, mà cha là cánh hạc gần gũi tôi từng thấy. Cánh hạc mạnh mẽ, mới bên bờ đá mà thoáng chốc đã vỗ cánh vút cao. Không gian kia mênh mông, bao la thật, nhưng chỉ bằng sức mình, hạc vẫn nhẹ nhàng tung cánh bay bổng trong không gian đó. Hạc nói với trăng rất xa, với sao rất tỏ, rằng ý chí trong cái đầu bé nhỏ này, trong đôi cánh đơn sơ này là tiềm năng vô hạn có thể chạm tới trăng, với tới sao.
Cha cho tôi niềm tin đó trên những bước đường cha đi. Có những trang sách đáng hãnh diện về đời cha mà tôi chỉ được lật tới khi cha không còn nữa! Với những trang sách đó, tôi từng nức nở khóc, khi quấn lên đầu chiếc khăn tang trong ngày được tin cha ra đi:
“Đại Ca ơi, hết thật rồi!
Tin xa cuồng xé tơi bời ruột gan
Đại Ca bỏ cuộc sao đang!"
Hận đau nước mất, nhà tan còn đầy!...”
Tôi tưởng chỉ có tôi nhìn Mai, nhìn Hạc thấy hình ảnh mẹ cha. Ấy thế mà có lần, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một vị Thượng Tọa viết về tình cha với những hình ảnh rất mới mẻ. Bài thơ khá dài nhưng mới đọc lần đầu, tôi đã nhớ ngay bốn câu kết:
“Cha ơi cha! Bóng cha như cánh hạc
Bay trên cao, mãi mãi ở trên cao
Là cội tùng, là vách đá trăng sao,
Là bầu trời rộng rạt rào vô tận.”
Tác giả bài thơ “Vu Lan nhớ cha” là Thượng Tọa Thích Nguyên Siêu, vị thầy tôi vẫn thỉnh thoảng viếng thăm mà lại không ngờ thầy làm thơ thâm trầm thế! Suốt bài thơ dài, tôi cảm nhận hạnh phúc vô biên của thầy vì đã được hưởng trọn vẹn những gì cao quý nhất của tình phụ tử.
Công cha nghĩa mẹ tựa như trời biển nhưng trong thế giới văn chương nhân gian, tìm những lời ngợi ca mẹ rất dễ, mà những gì về cha được ghi lại thì rất khiêm nhường! Điều đó không phải cán cân thiên lệch đâu, mà vì mẹ luôn có nhiều thì giờ gần gũi với con hơn cha, nên trong tâm thức, khi con cần chia xẻ thì mẹ luôn hiện hữu trước.
Chỉ là thế thôi, nên những đứa con, từ khi ấu thơ được cha mẹ nuôi nấng, che chở, trải suốt chiều dài, tới khi chính các con ở tuổi già xế bóng thì cha mẹ khi xưa vẫn như gần gũi quanh đây:
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen.”
Huệ Trân
(Đại Ẩn Sơn, Lộc Uyển Tự, đầu thu 2009)
         

Từ ngày nước Mỹ lập quốc, chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại bị đối thủ mang ra mổ xẻ, tấn công với những lời lẽ không phù hợp với tư cách một người tranh cử vị trí lãnh đạo quốc gia. Nhưng ngược lại, cũng chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại trở thành niềm hy vọng cho một đất nước đang đối đầu với mối nguy hiểm “duy nhất suốt 248 năm” (theo lời cựu Phó Tổng Thống Dick Chenny.) Đó là nụ cười của Kamala Harris – Một nụ cười đang ngày càng thay hình đổi dạng cuộc tranh cử tổng thống kinh điển của nước Mỹ.
Cựu Tổng Thống Donald Trump đã trình bầy kế hoạch kinh tế của ông tại Economic Club of New York trước đám đông các kinh tế gia, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà báo vào 5-9-2024 vừa qua. Buổi nói chuyện này nằm trong chiến dịch tranh cử. Kế hoạch kinh tế trong nhiệm kỳ 2 nếu ông thắng cử bao gồm nhiều chính sách mà ông đã thi hành trong bốn năm đầu cầm quyền. Ông tuyên bố sẽ loại bỏ nhiều chương trình của chính quyền Biden. Ứng cử viên tổng thống của Cộng Hòa quảng cáo chương trình của ông với thuế nội địa thấp, thuế nhập cảng cao chưa từng thấy, giảm bớt luật lệ, và kinh tế phát triển mạnh. Nhưng nhiều chuyên viên đã nghi ngờ giá trị của chương trình kinh tế này. Nhiều người đã lên tiếng chỉ trích đề xuất kinh tế của Trump như chúng ta sẽ thấy trong những phần dưới đây của bài báo này.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 sắp tới không chỉ định hình tương lai chính trị của quốc gia trong vài năm tới mà còn đặt ra những câu hỏi căn bản về bản sắc và tương lai của chính nước Mỹ. Trong khi kết quả bầu cử sẽ quyết định nhiều vấn đề quan trọng, những xung đột sâu sắc về bản chất của nước Mỹ đã được phản ảnh rõ nét qua đường lối, chính sách nêu ra tại hai đại hội Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vừa qua.
Tôi đã xem qua cả trăm bài viết với với nội dung và ngôn từ (“đầu đường xó chợ”) tương tự nhưng chưa bao giờ bận tâm hay phiền hà gì sất. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, các bạn DLV đều không quen cầm bút nên viết lách hơi bị khó khăn, và vô cùng khó đọc. Họ hoàn toàn không có khái niệm chi về câu cú và văn phạm cả nên hành văn lủng củng, vụng về, dài dòng, lan man trích dẫn đủ thứ nghị quyết (vớ vẩn) để chứng minh là đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn luôn đúng đắn. Họ cũng sẵn sàng thóa mạ bất cứ ai không “nhận thức được sự đúng đắn” này, chứ không thể lập luận hay phản bác bất cứ một cáo buộc nào ráo trọi.
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.