Hôm nay,  

Công Cha Như Núi Thái Sơn

12/06/201000:00:00(Xem: 8367)

Công Cha Như Núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra...    

Bùi Văn Đỗ
Sau 35 năm tỵ nạn, người Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới đang có một vấn nạn, mà chúng ta đọc thấy trên các cơ quan truyền thông đại chúng, báo, internet, làm cho mỗi người chúng ta đều suy tư, nhất là những người đang bước vào số tuổi của người cao niên.
Thật vậy, 35 năm trước đây trong những năm tháng loạn ly của đất nước, khi cộng sản miền Bắc, nhờ thế lực giúp đỡ về vật chất mạnh mẽ của khối cộng sản quốc tế là Trung Quốc và Liên Xô. Và cũng do thế cờ chính trị, khi Mỹ đã bắt tay được với Trung Cộng, bỏ rơi miền Nam Tự do, vì thị trường Trung Quốc béo bở, lời lãi hơn với hàng tỷ dân, trong khi Việt Nam kể cả hai miền mới trên 50 triệu người. Nhờ vậy miền Bắc Việt Nam đã đưa quân vào gọi là “giải Phóng” miền Nam khỏi nạn kìm kẹp của “ Mỹ Ngụy”, giải phóng cái miền Nam đang giầu có, xuống nghèo đói ngang bằng với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vì cái duyên cớ đó mới có làn sóng tỵ nạn của người Việt Nam lan tỏa đi khắp thế giới tự do.
Những người tìm đường thoát thân khỏi miền Nam trước ngày 30-04-1975, được các tàu chiến của Mỹ đón ở ngoài biển khơi, là những nạn nhân bén nhậy, theo dõi sát nút tình hình. Số đông chạy vì thua trận. Một cơ hội thật bằng vàng cho những người thua cuộc, không phải nếm mùi gian truân trong các nhà tù cải tạo, không phải nếm mùi ăn cơm độn với bo bo, khoai, sắn, khi kinh tế miền Nam bị đảng hạ thấp xuống đến tột cùng, vì đánh tư sản mại bản và chính sách đổi tiền. Không phải đi dép vỏ xe, đạp xe còng lưng ngay trên hệ thống xa lộ Sài Gòn, Biên Hòa mà mới ngày nào trước đây còn lái xe hơi, hay chạy xe honda phon phon với quần là áo lượt, giầy da bóng láng. Không phải chứng kiến những chiếc xe đò được biến chế, gắn những bình than to và nặng nề, mỗi khi khởi hành thì ì ạch rời bến, phun khói lên bầu trời không khác nào một nhà máy phát điện loại lớn. Không phải tối tối đi họp tổ dân phố, ngồi nghe những cán ngố nón cối dép râu lên lớp dậy bảo “đánh thắng giặc Mỹ rồi, ta sẽ xây dựng miền Nam tiến bộ gấp mười ngày nay”.
Những người sau ngày 30-04-1975 tìm đường vượt biên, vượt biển, phải nói được là những người can trường, sẵn sàng chấp nhận mọi nghịch cảnh để được tự do. Những người đã có những thời gian sống chung với cộng sản, nếm mùi khốn khổ, cay cực do cộng sản tạo ra cho cả miền Nam, họ mới phải tìm đường ra đi. Những người đầy nhiệt huyết, can trường năm đó, bây giờ đã ở lớp tuổi 60, 65, 70, lớp già nhất cũng  vào khoảng 80, cái tuổi đã về hưu, không còn lao động, hiện có những người ở nhà có con, cháu gần gũi, hay họ đang ở trong các nhà dưỡng lão, vì con cái đã trưởng thành, phải đi làm việc, không ở gần gũi để săn sóc.
Có một điều cần phải viết ra, những người cao niên ở hải ngoại đa phần là buồn, một phần do thiếu bạn bè, không có người đồng hương ở gần, phải dùng ngôn ngữ người bản xứ. Nhất là những người phải ở trong các nhà hưu dưỡng. Phần đông lớp người tỵ nạn ban đầu, khi đến đất nước người đã ở lớp tuổi trên 30, thì việc học và nói ngôn ngữ của người bản xứ đa phần không nhuần nhiễn dễ dàng như lớp trẻ. Nhất là ở những quốc gia không dùng tiếng Anh hay tiếng Pháp, mà dùng các ngôn ngữ bản xứ như: Đức, Hòa Lan, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển hay Phần Lan. Ngôn ngữ là một khâu quan trọng trong đời sống, nếu không dùng lưu loát được, đến tuổi già mà phải ở trong các nhà dưỡng lão người bản xứ thì thật rất buồn vì khâu giao cảm, giao tế. Về điểm này, kể cả những người định cư ở các nước dùng tiếng Anh hay tiếng Pháp cũng gặp phải, nếu người di dân đến đây khi đã lớn tuổi, chỉ có trình độ văn hóa thật giới hạn khi còn ở Việt Nam, khi phải học một ngôn ngữ khác không phải là dễ.
Cái diễm phúc của người cao niên Việt Nam đang ở nước ngoài.
- Không phải lệ thuộc con về vấn đề tài chánh, người nào trên 65 tuổi cũng có tiền hưu bổng hay trợ cấp của xã hội. Con không phải làm việc lo nuôi bản thân, gia đình và phải nuôi cả bố mẹ như ở các quốc gia còn chậm tiến khác như Việt Nam. Ở Việt Nam, vì chưa có cuộc sống an sinh xã hội cao, nên cha mẹ khi đến tuổi già, thường phải lệ thuộc vào con, do con nuôi ăn, chăm sóc về mặt sức khoẻ. Cho nên, những gia đình giầu có thì không đề cập đến. Đại đa số dân Việt là người nghèo, người nghèo, đi làm công nhân, hay làm nông nghiệp, lo cho bản thân, vợ và con đã chật vật. Nếu phải nuôi nấng và chăm lo sức khoẻ cho cả cha mẹ thì càng gặp khó khăn hơn. Con, cháu có no thì cha mẹ mới không bị đói, con cháu còn thiếu thốn thì cha mẹ làm sao đủ ăn được, bệnh hoạn tiền đâu để thuốc thang ! Đó là chưa nói đến cái mặc, các dịch vụ cho người già như mắt mờ phải khám mắt và đeo kiếng, phải có xe lăn, xe đẩy khi đến tuổi đi lại gặp khó khăn.
- Sống ở các nước tiên tiến ngoài Việt Nam, người cao niên tuy có buồn, có trở ngại về ngôn ngữ. Nhưng thật sung sướng và đầy đủ, không phải lệ thuộc vào con về cái ăn, nơi ở, cái mặc, không phải lệ thuộc vào con mỗi khi đau phải đi khám bệnh và mua thuốc. Người cao niên có đầu lương riêng đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, nếu phải vào nhà hưu dưỡng ở chung để có người săn sóc đêm ngày thì cũng có tiền để chi trả cho đến lúc qua đời. Ở trong các trung tâm của người cao niên, có đầy đủ các phương tiện thể thao, giải trí, sinh hoạt, tâm linh, kể cả các phương tiện đi dạo, xe lăn, xe đẩy, và phòng nào người cao niên cũng còn có thể cài đặt hệ thống điện thọai, ang ten truyền hình và cả đường truyền tải internet. Chưa kể các hệ thống nhà tắm, nhà vệ sinh riêng thật tiện nghi và sạch sẽ.
Người Việt cao niên ở hải ngoại nên chuẩn bị.
Chuẩn bị cái gì " Đây không phải là chuẩn bị tích góp tiền của để hòng khi phải vào nhà hưu dưỡng có tiền để chi trả, mà là chuẩn bị cho mình những phương tiện để giải trí khi đến tuổi cao niên, và phải đến ở trong các nhà hưu dưỡng. Hay ở các tư gia, cũng là những phương tiện để truyền thông với nhau, giữa người với người, giữa mình và thế giới văn minh, không bị lạc lõng, cô đơn, cũng không bị trở ngại vì ngôn ngữ, vẫn dùng tiếng Việt, đọc và nghe cũng bằng tiếng Việt, rồi lại còn có thể chia sẻ, góp ý kiến, nói lên nguyện vọng và ước muốn của mình, cũng bằng tiếng Việt, và được truyền tải đi khắp bốn phương trời, để nơi đâu có người Việt Nam, có xử dụng hệ thống này thì họ đều tiếp nhận được cả. Tập xử dụng phương tiện mà người già nào cũng có thể sắm và mua được, nếu không thì con, cháu nó cho những phương tiện nó đã xử dụng, chê là cũ và chậm. Người cao niên xử dụng vẫn tốt và tiện. Đó là tập xử dụng phương tiên thông tin khoa học ngày nay: INTERNET.
Không có gì khó khăn cả, chỉ khó có mỗi một điều là chúng ta có muốn hay không mà thôi. Khi đã muốn, không cần đến trường lớp mà chỉ nhờ con, cháu nó chỉ cho cách xử dụng:
- Mở máy.
- Dò tìm chương trình.
- Mở chương trình.
- Nghe được thật nhiều đài phát thanh tiếng Việt trên khắp thế giới, từ BBC, VOA, RFA, RFI, nghe và xem các chương trình truyền thanh, truyền hình bằng tiếng Việt ở Mỹ, Úc, Nhật, Các đài phát thanh của các tôn giáo như Phật Giáo, Tin Lành, Vatican Mẹ Hằng Cứu Giúp, Triết Lý Việt (đài Chân Lý Á Châu phát thanh từ Phi Luật Tân), và nhiều đài và chương trình khác mà người cao niên muốn, theo nhu cầu của từng vị.
Xa hơn một bước.
- Mở hồ sơ cá nhân của mình (phần này, nhờ con cháu nó mở cho người cao niên một hộp thư điện tử, quen gọi là email).
- Khi đã có địa chỉ hộp thư, người cao niên có thể liên lạc với nhiều người, thứ nhất trong hàng con, cháu, bạn thân, thân hữu và có thể nhận và chuyển tải các tâm tư của mình với nhiều hình thức: viết thư, tâm sự, viết bài, gợi ý, hay hỏi ý kiến. Nhất là qua mục này người cao niên gặp được nhiều người bạn cũng cao niên ở nhiều nơi khác trên thế giới, họ cống hiến chỉ dẫn cho ta nhiều phương cách ăn, uống thế nào cho hợp với tuổi già, cách giữ gìn sức khoẻ, tập thể dục, du ngoạn đó đây trên thế giới qua các danh lam thắng cảnh, mà người khác đi gởi hình ảnh về cho mình, ngồi tại nhà thưởng ngoạn.


- Mở thế nào, thì từng bước tắt máy cũng lần lượt như vậy.
Chúng ta là những người may mắn, sống vào thế kỷ này. Những cái chúng ta đang có, những thế hệ trước chúng ta, ở vào thời gian đầu thế kỷ hai mươi, lúc đó, nó chỉ là những ước mơ, mang tính giả tưởng. Đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, những viễn tưởng đó đã thành hiện thực như Internet, máy hướng dẫn chỉ đường nằm trong các xe, điện thoại di động, truyền hình màu và màn ảnh mỏng. Và vô số những phát minh mới không thể kể ra đây hết được, nhằm phục vụ cho con người. Cơ may này, người cao niên chúng ta phải nắm ngay lấy, để đến tuổi già ta không phải cô đơn buồn tẻ, trông con, chờ cháu từng giờ, từng ngày, từng tháng, có người đến từng năm. Đây là một phương tiện giải trí, truyền thông, tránh cô đơn cho lớp người cao niên Việt Nam ở trên toàn thế giới, nên nắm bắt ngay lấy kẻo bỏ mất một cơ hội ngàn vàng của tuổi cao niên.
Ngày nay mọi ngành nghề đều phát triển, nhất là những ngành liên quan đến mặt khoa học kỹ thuật. Nhưng một số ngành nghề, một số mặt xã hội khác thì xem ra chúng ta không quan tâm hay quên đi. Chúng ta chỉ quan tâm đến tuổi trẻ, đến người trẻ, mà quan tâm ít, hay quên mất người cao niên, nhờ những lớp người này mà mới có thế hệ hôm nay, lớp trẻ bây giờ. Khi cha mẹ của chúng ta. Nhất là cha mẹ Việt Nam, những lớp người đầu tiên ra đi tỵ nạn, tìm tự do ở các nước tiên tiến, các ngài lúc đó đã ở lớp tuổi 30, 40, tiếp nhận với các ngôn ngữ mới thật là khó khăn, nên chỉ học qua loa ít chữ rồi lăn lưng đi kiếm việc làm, kiếm tiền để lo cho tương lai con của họ, và giúp đỡ thân nhân còn sống trong lòng chế độ cộng sản. Không nghĩ đến tương lai xa, khi mình về già, phải sống chung trong các nhà hưu dưỡng người bản xứ, phải xử dụng ngôn ngữ của họ một cách nhuần nhiễn thì mới tránh được cô đơn. Đây là điểm mấu chốt mà các thế hệ thứ hai thứ ba sống ở nước ngoài phải quan tâm đặc biệt, để giúp đỡ cha mẹ các bạn vào lúc tuổi già, ở trong các nhà hưu dưỡng, bớt được cô đơn.
 Một vài đề nghị cụ thể.
Đã có dịp làm việc trong một nhà hưu dưỡng 7 năm, được nhìn tận mắt, đôi khi trực tiếp phục vụ mới nhận ra rằng, người cao niên dù là người bản xứ, khi ở nơi đây cũng rất buồn, dù họ có những sinh hoạt hàng ngày;  rất mong có người đến thăm như con, cháu và người thân, nhất là vào những ngày kỷ niệm riêng của họ và những ngày cuối tuần. Đó là chưa kể đến người nước ngoài, ngôn ngữ không rành rẽ mấy phải sống chung ở đây. Tôi đã chứng kiến và thấy tỏ tường. Họ rất cô đơn, muốn nói năng điều gì cũng khó khăn, khi ngồi ăn, uống cùng bàn với những vị cao niên đồng viện, họ khó diễn tả những tâm tình tự nhiên của mình, nói nôm na là tâm sự, chia sẻ với nhau những nỗi vui buồn lúc còn xuân trẻ, hay nỗi cô đơn trông con, chờ cháu vào những ngày cuối tuần khi phải sống ở đây. Tuổi cao niên, ở không, buồn miệng đã hay nói, mà nói ra không được, vì phải diễn tả bằng ngôn ngữ của người, đôi khi nói ra phát âm không đúng, hay phát âm trật vào những từ tục làm mọi người mắc cười, còn người nói thì mắc ngượng, từ cái ngượng làm cho các vị cao niên không phải là bản xứ ít nói, trầm ngâm, người Việt Nam có tính hay cười trừ là vậy.
Cho nên quan tâm đến những người cao niên Việt Nam, những người thân, nhất là con, cháu cần:
- Tìm một nhà hưu dưỡng ở gần nơi gia đình bạn ở, để đưa cha mẹ của các bạn vào đây.
- Hàng tuần nên có lịch trình định kỳ vào một ngày cuối tuần chẳng hạn, nên có ít là một người, vợ, chồng, hay con, vào thăm viếng. Đọc và điền giấy tờ cần giúp các ngài.
- Các ngày lễ tết Việt Nam, sinh nhật của các ngài, cả gia đình nên ghé vào nhà dưỡng lão để mừng sinh nhật cha hay mẹ.
- Những dịp đặc biệt của gia đình như ngày thành hôn của con, phải mời các ngài về chủ lễ, hay dự lễ.
- Cách báo ơn, báo hiếu tốt nhất đối với cha mẹ của chúng ta vào tuổi già, dù ở nhà tư hay đã ở trong nhà hưu dưỡng, là chúng ta năng lui tới thăm viếng hàng ngày hay hàng tuần. Đừng để các ngài cô đơn.
- Ở các nước tiến tiến, người cao niên không thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc, nhưng thiếu thật nhiều tình thương mến của con, cháu.
Đặc tính chung của con người thuộc mọi thời đại, không phân biệt chủng tộc là luôn có lòng biết ơn, biết và nhớ ơn người đã giúp mình cách này hay cách khác, dù một việc thật nhỏ như ly nước lạnh trong lúc ta đi đường trường, mà thời tiết oi bức nóng khi cơn khát đến. Đến những việc lớn hơn như cô, thầy dậy cho ta biết chữ, hoặc ân huệ hơn nữa khi trên đường ta vượt biển, gặp biển động, sóng ta gió lớn, con tàu mong manh nhỏ bé của ta bị vùi dập muốn chìm nơi biển khơi, gặp được con tàu mà trên đó có người thuyền trưởng đầy lòng từ tâm, chạnh lòng thương mà cứu vớt chúng ta. Chuyện nhớ ơn cứu tử này đã bước sang đến thế hệ thứ 2, thức ba của người tỵ nạn Việt Nam mà vẫn còn được nhắc nhở tới. Cứ mỗi khi đến ngày kỷ niệm tàu vớt trên biển là cha mẹ, ông bà lại nhắc nhở con cháu, và nhờ con, cháu chở tới thăm lại vị thuyền trưởng thủa xưa, để tỏ lòng cám ơn.

Nhưng cái nhớ ơn sâu đậm trong mỗi con người là công ơn sinh thành của cha mẹ chúng ta. Thật là 9 tháng cưu mang, ba năm bú mớm, chăm sóc từng giờ, từng ngày, từng đêm; rồi những năm cắp sách đến trường, ngày có nơi, có nước hai buổi đưa đón, có nơi có nước ngày bốn lần đưa đi đón về, cơm, sữa vỗ về, nâng như giữ trứng, hứng như cánh hoa, sợ con đau, con té, con bị trầy trượt. Bước qua tuổi 12 để vào trường trung học, tuy cha mẹ bớt đi công việc phải tắm rửa, đánh răng rửa mặt phụ, nhưng lại lo toan những việc khác có phần vất vả và tốn công, tốn của hơn. Lo cho con học chăm, có khi phải dậy kèm, không đủ giờ, đủ khả năng thì phải bỏ tiền ra mướn thầy dậy thế. Phải bỏ tiền túi ra cho con học những môn nhiệm ý như: đá banh, võ thuật, bơi lội, âm nhạc . . . . Phải đưa con đi chơi, đi nghỉ hè vào những kỳ nghỉ; phải mua sắm may mặc, không phải mặc lành, mặc ấm mà là mặc đẹp, hợp với thời trang kẻo thấy con mình thua kém con người, nhiều những bộ đồ cha mẹ không dám bỏ tiền ra để mua mặc. Nhưng con muốn là cha mẹ chiều lòng ngay. Sau những năm trung học, mài miệt những năm học nghề, hay mài đũng quần tiếp trên bậc đại học, có khi  năm, mười năm. Cha mẹ vẫn hy sinh đến cùng để lo, để phụ tài chánh cho con ăn, con học, đến bao giờ cầm được mảnh bằng thì cha mẹ mới an lòng, bớt lo. Ở những nước nghèo và tham nhũng như Việt Nam, còn phải lo chạy chọt lo lót cho con có một chỗ làm tốt cho ấm tấm thân. Sau đó vẫn chưa yên nếu con chưa có vợ hay chưa chịu lấy chồng.
Tấm lòng của cha mẹ thì qủa tình không thể nào kể ra hết được, nhan nhản chung quanh chúng ta đầy dẫy những tấm lòng chan chứa tình thương ấy. Nhưng khi thành nhân, ra đời, lập nghiệp, có vợ có chồng và có con. Hầu như chúng ta quên ơn xưa cha mẹ đã dành cho chúng ta. Khi đến lượt cha mẹ cần chúng ta nhất là vào tuổi lão niên, hay lúc phải ở trong những nhà hưu dưỡng, đôi khi trông con, chờ cháu đến mỏi mòn mà cũng không thấy đứa nào tới thăm, nó bận đi làm thì ít, nhưng bận đi chơi, đi nghỉ hè cuối tuần thì nhiều.
Các bạn trẻ thân mến, khi mới vào đời, nếu chúng ta không có bàn tay của người mẹ săn sóc đêm ngày, của người cha ân cần vất vả chăm lo, thì làm sao các bạn có ngày hôm nay. Đến lúc cha mẹ cần đến các bạn, giúp chỉ cho cách mở, đóng, sử dụng phương tiên truyền thông mới Internet, để các ngài biết mà giải khuây trong tuổi già ở nhà hay khi phải vào nhà hưu dưỡng, vì sau khi nghỉ hưu các ngài có nhiều thời gian. Và các bạn đừng bỏ rơi các ngài phải sống hưu quạnh cô đơn tại các tư gia hay trong các nhà hưu dưỡng. Đó là cách nhớ ơn, đáp nghĩa Công Đức Sinh Thành của những người con đối với cha mẹ của mình./-

Kamala nhắc lại Donald Trump đã cảm ơn Tổng Thống Tập Cận Bình về những gì ông ta đã làm trong thời gian đại dịch COVID. Bà nhớ cả nội dung Trump đã viết trên Twitter: “Thank you, President Xi” và đọc lại cho chục triệu người dân Mỹ đang xem màn hình. “Khi chúng ta biết rằng Tập Cận Bình phải chịu trách nhiệm vì không cung cấp và cung cấp không đầy đủ cho chúng ta sự minh bạch về nguồn gốc của COVID.” Kamala nhắc lại cả việc Donald Trump đã mời Taliban đến David Camp, “là một nơi có ý nghĩa lịch sử đối với chúng ta, với tư cách là những người Mỹ, một nơi mà chúng ta tôn vinh tầm quan trọng của ngoại giao Hoa Kỳ, nơi chúng ta mời và tiếp đón các nhà lãnh đạo thế giới được kính trọng. Và cựu tổng thống này với tư cách là tổng thống đã mời họ đến David Camp vì ông ta, một lần nữa, không biết tầm quan trọng và trách nhiệm của tổng thống Hoa Kỳ. Và điều này quay trở lại vấn đề ông ta đã liên tục hạ thấp và coi thường các quân nhân của chúng ta, những người lính đã hy sinh...
Từ ngày nước Mỹ lập quốc, chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại bị đối thủ mang ra mổ xẻ, tấn công với những lời lẽ không phù hợp với tư cách một người tranh cử vị trí lãnh đạo quốc gia. Nhưng ngược lại, cũng chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại trở thành niềm hy vọng cho một đất nước đang đối đầu với mối nguy hiểm “duy nhất suốt 248 năm” (theo lời cựu Phó Tổng Thống Dick Chenny.) Đó là nụ cười của Kamala Harris – Một nụ cười đang ngày càng thay hình đổi dạng cuộc tranh cử tổng thống kinh điển của nước Mỹ.
Cựu Tổng Thống Donald Trump đã trình bầy kế hoạch kinh tế của ông tại Economic Club of New York trước đám đông các kinh tế gia, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà báo vào 5-9-2024 vừa qua. Buổi nói chuyện này nằm trong chiến dịch tranh cử. Kế hoạch kinh tế trong nhiệm kỳ 2 nếu ông thắng cử bao gồm nhiều chính sách mà ông đã thi hành trong bốn năm đầu cầm quyền. Ông tuyên bố sẽ loại bỏ nhiều chương trình của chính quyền Biden. Ứng cử viên tổng thống của Cộng Hòa quảng cáo chương trình của ông với thuế nội địa thấp, thuế nhập cảng cao chưa từng thấy, giảm bớt luật lệ, và kinh tế phát triển mạnh. Nhưng nhiều chuyên viên đã nghi ngờ giá trị của chương trình kinh tế này. Nhiều người đã lên tiếng chỉ trích đề xuất kinh tế của Trump như chúng ta sẽ thấy trong những phần dưới đây của bài báo này.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 sắp tới không chỉ định hình tương lai chính trị của quốc gia trong vài năm tới mà còn đặt ra những câu hỏi căn bản về bản sắc và tương lai của chính nước Mỹ. Trong khi kết quả bầu cử sẽ quyết định nhiều vấn đề quan trọng, những xung đột sâu sắc về bản chất của nước Mỹ đã được phản ảnh rõ nét qua đường lối, chính sách nêu ra tại hai đại hội Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vừa qua.
Tôi đã xem qua cả trăm bài viết với với nội dung và ngôn từ (“đầu đường xó chợ”) tương tự nhưng chưa bao giờ bận tâm hay phiền hà gì sất. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, các bạn DLV đều không quen cầm bút nên viết lách hơi bị khó khăn, và vô cùng khó đọc. Họ hoàn toàn không có khái niệm chi về câu cú và văn phạm cả nên hành văn lủng củng, vụng về, dài dòng, lan man trích dẫn đủ thứ nghị quyết (vớ vẩn) để chứng minh là đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn luôn đúng đắn. Họ cũng sẵn sàng thóa mạ bất cứ ai không “nhận thức được sự đúng đắn” này, chứ không thể lập luận hay phản bác bất cứ một cáo buộc nào ráo trọi.
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.