Hôm nay,  

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

24/04/200900:00:00(Xem: 8863)

Thiếu Tướng
Phạm Văn Phú
Anh Hùng Bất Tử QLVNCH

(Điếu Văn đọc trong ngày giỗ
Do binh chủng LLĐB tổ chức
Năm 1985, tại Sài Gòn.)

Trời Sàigon hôm nay u uất
Nóng nung người ruột thắt gan bào
Hồn anh giờ ở nơi đâu,
Có còn ngậm đắng nuốt sầu không anh"

Cả cuộc đời tuổi xanh, đầu bạc
Đem thân mình sống, thác quê hương
Những mong dân nước phú cường
Ai ngờ dâu biển tang thương, điên loàn.

Nhớ thuở nao Liên Đoàn 77
Anh chỉ huy lừng lẫy uy danh
Những người chiến sĩ Mũ Xanh
Nhập thần xuất quỷ tung hoành khắp nơi.

Rồi thế sự nổi trôi điên đảo
Bọn tham quan mũ áo cầu vinh
Mặc cho dân, nước điêu linh
Miễn sao phú quý thân mình hằng mong.

Nên anh phải long đong khốn khổ
Nay chỗ này, mai nọ liên hồi
Nhưng dù vật đổi sao dời
Nhưng anh vẫn sống là người Mũ Xanh.

Bởi số phận đành hanh quá đáng
Đem người hiền mà giáng oan khiên
Một trời vây bủa nghiệp duyên
Tướng tài phút chốc trở nên bất tài.


Anh không thể sống loài nhơ nhuốc
Không lọc lừa bán nước cầu vinh


Nên anh đã phải quyên sinh
Để Anh viết lại một thiên sử hùng.

"Anh hùng tử, khí hùng bất tử"
Anh chết đi lịch sử còn ghi
Cái thân ngoại vật sá chi
Hồn anh bất diệt, oai nghi hào hùng.

Đất nước này đã từng hưng phế
Thế giới này từng nể uy danh
Việt Nam nhỏ bé, hiền lành
Nhưng nhiều nhân kiệt, tinh anh khác người.

Thế mới biết, thế thời phải thế
Anh ra đi là để sống còn,
Còn trời còn đất còn non
Còn giòng sử Việt anh còn sống lâu.

Ơn đức anh chúng tôi từng hưởng
Từng cận kề lúc sướng khi buồn
Vào sinh ra tử là thường
Cho nên nghĩa nặng, tình thương đậm đà.

Giờ đã được thả ra khỏi trại
Về giỗ anh nhớ lại tình xưa
Anh em chiến hữu bây giờ
Tấm thân tàn tạ, bạc phơ mái đầu.

Thôi đã hết giãi dầu, gian khổ
Đã qua rồi một thuở tung hoành
Chúng tôi giờ cũng như anh
Còn chăng khí phách để dành hậu sinh.

Hồn anh có uy linh hiển hách
Thì khẩn xin cấp bách về đây
Cùng nhau chung tiệc xum vầy,
Gia đình, đồng đội, lòng này kính dâng.
Hoài Lễ

Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.