Hôm nay,  

Dự Báo Kinh Tế

15/10/200900:00:00(Xem: 11688)

Dự Báo Kinh Tế

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

Việt Nam đang bị nguy cơ khủng hoảng về ngoại hối...
Chúng ta còn ba tháng nữa là hết năm 2009 đầy sóng gió cho kinh tế thế giới. Tình hình rồi sẽ ra sao, triển vọng hồi phục đã hiện thực hay chưa" Diễn đàn Kinh tế sẽ sơ kết về những dự báo cho các nền kinh tế, với phần cuối tập trung vào trường hợp Việt Nam. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông Vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ vào cuối quý ba năm ngoái đã dẫn tới nạn suy thoái kinh tế toàn cầu. Một năm sau, là giờ này đây, tình hình đã có vẻ lắng dịu ở nhiều nơi, vì vậy, chúng tôi đề nghị là chương trình kỳ này sẽ điểm qua viễn ảnh kinh tế của các nước từ nay đến cuối năm, với phần cuối sẽ dành cho Việt Nam. Câu hỏi đầu tiên là về tình hình kinh tế Hoa Kỳ, dù sao vẫn là một đầu máy kinh tế lớn của thế giới. Kinh tế Mỹ đã ra khỏi nạn suy thoái hay chưa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Kinh tế Mỹ thực sự đã bị suy trầm, tức là tăng trưởng chậm hơn trong hai quý liền, kể từ cuối năm 2007. Tính đến nay thì coi như đã bị một trận suy trầm khá lâu và khá sâu. Nhưng từ quý hai năm nay thì đã bắt đầu đụng đáy và ba tháng sau, tức là bây giờ, thì coi như đang hồi phục. Tuy nhiên, mức hồi phục vẫn chưa mạnh, sức tuyển dụng nhân công còn chậm và tín dụng ngân hàng còn yếu. Không khéo thì qua năm tới lại bị suy trầm nhẹ, giới kinh tế gọi trường hợp đó là đụng đáy hai lần, một giả thuyết có xác suất thấp nhưng vẫn đáng ngại.
Việt Long: Thưa ông, giới kinh tế dựa trên những chỉ dấu nào mà dự báo những điều ấy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thuần về kỹ thuật, người ta chỉ biết kinh tế suy trầm hay tăng trưởng sau khi thu thập thống kê của quý trước hay tháng trước, cho nên mới chú ý đến loại chỉ dấu tiên báo và loại chỉ dấu hậu kiểm, là loại thống kê xác nhận hay không những số liệu tiên báo ấy. Một chỉ dấu báo trước là kinh tế có thể đang phục hồi là thị trường chứng khoán. Tại Hoa Kỳ, ta nên theo dõi chỉ số Standard & Poor's 500 của 500 doanh nghiệp đủ lại lớn nhỏ nên có giá trị biểu hiện rộng hơn. Chỉ số này đã tăng đều từ dưới đáy là 676 điểm vào đầu tháng Ba vừa qua nay đã vượt quá ngàn điểm. Thứ hai, số người lần đầu khai báo thất nghiệp để xin trợ cấp cũng giảm dần từ đỉnh cao nhất vào tháng Tư. Chỉ số thứ ba là lượng hàng bán lẻ cũng đã tăng mạnh từ đầu tháng Bảy, trong khi lượng hàng sản xuất cho tồn kho cũng đã ngoi lên khỏi đáy từ tháng Bảy. Ngần ấy chỉ dấu cho phép giới kinh tế dự báo là Hoa Kỳ đã ra khỏi nạn suy trầm.
Việt Long: Nhưng, theo ông vừa trình bày thì sự phục hồi này vẫn chưa mạnh và có bất trắc"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, vầng mây đen ở chân trời là khối lượng tín dụng ngân hàng, từ 9.000 tỷ Mỹ kim cách đây một năm đã tăng vọt lên gần 9.600 tỷ vào cuối năm, sau đó lại tuột mạnh. Chỉ dấu này cho ta biết khả năng đi vay và cho vay cho yêu cầu tiêu thụ và sản xuất. Nếu trị trường tín dụng này chưa khởi sắc, ta phải nghĩ rằng tâm lý thị trường vẫn chưa lạc quan và khả năng tuyển dụng còn thấp, nạn thất nghiệp sẽ còn đe dọa. Kết luận ở đây là đầu máy kinh tế Hoa Kỳ đã hồi phục, nhưng chưa mạnh và điều ấy cũng ảnh hưởng đến kinh tế thế giới.
Việt Long: Nói về kinh tế thế giới thì sau đầu máy Hoa Kỳ, người ta còn đầu máy Âu Châu, tình hình nơi đó đã khả quan hơn chưa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thật ra vẫn chưa khả quan bằng Hoa Kỳ và hồi phục chậm hơn Hoa Kỳ, với hệ thống tín dụng ngân hàng còn gặp nhiều vấn đề hơn. Các ngân hàng Âu Châu còn ngần ngại cho vay hơn là ngân hàng Mỹ, trong khi doanh nghiệp Âu Châu lại trông đợi vào nguồn tài trợ của ngân hàng hơn hẳn doanh nghiệp Mỹ, vốn thường huy động vốn qua thị trường chứng khoán. Một vấn đề khác của kinh tế Âu Châu, ít ra từ nay đến cuối năm và có khi kéo qua năm tới, là nạn bội chi ngân sách và gánh nặng công trái của nhiều quốc gia. Họ khó huy động được thị trường trái phiếu để kích thích kinh tế và sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn về xã hội. Nhiều xứ Trung Âu và Nam Âu trong khu vực Balkan có thể bị bất ổn xã hội. Chúng ta không nên quên là Âu Châu cũng có những nhược điển nội tại trong cơ cấu kinh tế vĩ mô chứ không chỉ bị suy thoái vì hiệu ứng khủng hoảng tài chính xuất phát năm ngoái từ Hoa Kỳ.
Việt Long: Chúng ta bước qua đầu máy kinh tế Đông Á. Các nước trong khu vực này, kể cả Nhật Bản và Trung Quốc, đều trông cậy ít nhiều vào triển vọng xuất khẩu cho thị trường Hoa Kỳ và Âu Châu. Bây giờ kinh tế Mỹ đã hồi phục mà chưa mạnh, Âu Châu thì mới bắt đầu đụng đáy, thì kinh tế Đông Á sẽ ra sao từ nay đến cuối năm"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì triển vọng Âu-Mỹ thực ra chưa sáng sủa, việc bán hàng cho hai thị trường ấy để ra khỏi suy trầm vẫn chưa đủ mạnh. Vì vậy, kinh tế Đông Á cần kích cầu nhờ khả năng riêng, đồng thời cải tổ lại cơ chế để mở rộng thị trường nội địa, là việc chưa thể có kết quả mau chóng. Thí dụ nổi bật nhất là xuất khẩu của Nhật vẫn sút giảm, coi như giảm liên tục từ cả năm nay rồi. Chính quyền mới đắc cử đang rà soát lại các biện pháp ngân sách và thuế khoá để kích thích kinh tế, nhưng sẽ khó có ngay kết quả. Kinh tế Nhật Bản vẫn bị đe dọa nặng nhất. 
Việt Long: Trong khu vực Đông Á, sau Nhật Bản thì còn đầu máy kinh tế Trung Quốc với gần 600 tỷ đô la đã được tung ra từ năm ngoái để kích thích kinh tế. Tình hình bây giờ ra sao"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Trung Quốc có xu hướng kích cầu bằng tín dụng ngân hàng hơn là qua tăng chi ngân sách. Bây giờ có lẽ họ đang chột dạ vì tín dụng dễ dãi và dồi dào có kích thích tăng trưởng, nhưng với cái giá là làm hệ thống ngân hàng càng suy yếu dưới một núi nợ thối nên có nguy cơ sụp đổ còn đáng sợ hơn vụ khủng hoảng tài chính năm ngoái tại Mỹ. Bây giờ, khi họ muốn hãm đà phân phát tín dụng thì lại bị rủi ro khác, là doanh nghiệp phá sản và thợ thuyền mất việc, xã hội bị động loạn. Trong khi ấy, tín dụng bừa phứa cũng lại thổi lên nhiều bong bóng đầu cơ, nhất là trong lãnh vực địa ốc. Vì vậy, dù lãnh đạo xứ này cứ nói đến việc phục hồi và triển vọng tăng trưởng rất cao, họ đang gặp bài toán lưỡng nan: bơm thêm tín dụng để khỏi bị suy trầm thì lại sợ ngân hàng vỡ nợ, tiết giảm tín dụng để thoát cơn khủng hoảng tài chính thì lại bị kinh tế suy trầm, thất nghiệp tăng và doanh nghiệp phá sản. Tình hình Trung Quốc thật ra không lạc quan như người ta nghĩ.
Việt Long: Qua phần hai thì tình hình Việt Nam ra sao" Hình như là lãnh đạo Việt Nam cũng áp dụng biện pháp tín dụng hơn là tăng chi, nghĩa là tương tự như phương thức của Trung Quốc. Thế rồi thay vì chuẩn bị tiết giảm dần việc trợ cấp lãi suất 4% vào cuối năm nay thì tuần qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa quyết định duy trì chế độ trợ cấp lãi suất đó thêm hai năm nữa. Ông giải thích thế nào về quyết định này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong một chương trình trước, vào cuối tháng Tám, chúng ta nói đến hai yêu cầu mâu thuẫn của Việt Nam trong một bài toán cũng thuộc loại lưỡng nan là vừa phải tống ga để kích cầu vừa muốn đạp thắng để tránh nạn lạm phát. Khi đó, căn cứ trên chỉ tiêu về lượng tín dụng được bơm ra quá nhiều trong nửa năm đầu, chúng ta có dự đoán là Ngân hàng Nhà nước của Việt Nam sẽ giảm dần vòi bơm tín dụng kể từ quý ba. Bây giờ, dường như lãnh đạo Việt Nam lại đổi ưu tiên và Ngân hàng Nhà nước thì không có khả năng độc lập nên phải chấp hành ưu tiên ấy, đó là tiếp tục kích cầu để đạt mức tăng trưởng cao nên sẽ duy trì chế độ trợ cấp lãi suất cho đến cuối năm kia, là năm 2011. Mà vì sao họ lại thông báo sớm như vậy" Tôi thiển nghĩ rằng đây là một mục tiêu chính trị để chuẩn bị cho Đại hội đảng khoá 11, nhằm gây không khí phấn khởi và làm ăn dễ dãi trong dân chúng.
Việt Long: Nhưng ông cho rằng quyết định chính trị ấy tất nhiên cũng gây nhiều rủi ro về kinh tế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Giới ngân hàng tại Việt Nam cho rằng việc bù lãi suất 4% là cần thiết vì lãi suất ngân hàng tại Việt Nam vẫn cao hơn lãi suất xứ khác. Nhưng đấy là một cái nhìn phiến diện vì vật giá các xứ khác không tăng mạnh như Việt Nam. Vì vậy, nếu tiếp tục bơm tiền như thế, Việt Nam có thể lại thổi bùng lạm phát hơn 20% trong năm tới và chỉ tiêu tăng trưởng trên 6% vẫn là khó đạt. Mà đây không là khó khăn duy nhất của Việt Nam.
Việt Long: Ông còn nhìn thấy những khó khăn gì khác nữa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, Việt Nam chưa thể xuất khẩu mạnh và tiếp tục bị nhập siêu nặng, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, ít ra là 12 tỷ đô la cho toàn năm vì hai đầu máy cho xuất khẩu của Việt Nam là Hoa Kỳ và Âu Châu vẫn còn yếu như chúng ta vừa trình bày. Thứ hai, Việt Nam đã khiến giới đầu tư quốc tế thất vọng nên lượng đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã giảm tới hơn 85% trong năm nay, số giải ngân để thực hiện vì vậy còn kém hẳn năm ngoái. Thứ ba, lượng tiền của người Việt ở nước ngoài gửi về cho thân nhân cũng giảm mạnh vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn ở bên ngoài và có thể giảm ít ra là 20% so với con số tám tỷ Mỹ kim của năm ngoái. Kết hợp ngần ấy yếu tố, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam bị bào mỏng mất sáu bảy tỷ đô la so với cuối năm ngoái, và nay chỉ còn hơn 17 tỷ thôi. Vì vậy, Việt Nam đang bị nguy cơ khủng hoảng về ngoại hối và đồng bạc còn mất giá mạnh, có thể mất hai chục vạn đồng bạc Việt Nam mới ăn một Mỹ kim dù Mỹ kim hiện đang mất giá so với nhiều ngoại tệ khác. Tình hình ấy sẽ trở thành hiện thực ngay trong mấy tháng tới. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.
Việt Long: Nếu ông phân tích như vậy thì những khó khăn về ngoại hối do ngoại tệ trở thành khan hiếm hơn vẫn chưa phải là vấn đề hay sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lạm phát gia tăng khi đồng bạc lại bị phá giá thì đấy là một kịch bản đáng ngại cho sự ổn định. Nghĩa là nguy cơ bất ổn sẽ chỉ có tăng và phản ứng tự nhiên là nhà nhà tiếp tục tàng trữ đô la để đối phó với bất ổn giá cả khiến Mỹ kim lại càng khan hiếm và càng lên giá. Chuyện ấy có thể xảy ra sớm hơn nhiều dự báo. Đã thế, vì tín dụng dễ dãi và phân phối không đều nên sẽ thổi lên nhiều trái bóng đầu cơ là điều đã xảy ra cho Trung Quốc và đang xảy ra cho Việt Nam. Trái bóng ấy sẽ bể vì kỳ vọng sinh lời không có, cho nên nhiều người nhiều đại gia lo sợ phá sản sẽ lại tầu tán tài sản ra nước ngoài và càng gây thêm sức ép về ngoại hối.
Chuyện thứ ba là số phận của nông dân và người nghèo. Nông dân bị bóc lột qua nhiều chặng, từ thu mua tới xuất khẩu, cho nên giá gạo có lên họ vẫn thiệt mà có xuống họ càng bị đói. Vấn đề ấy, nhiều chuyên gia kinh tế và nông nghiệp ở trong nước đã nói tới và báo động mà vẫn không có kết quả. Trong khi ấy, hàng loạt thiên tai bão lụt đã báo hiệu là hiện tượng El-Nino đang trở về, với những hậu quả bất thường về thời tiết và ảnh hưởng trên mùa màng năm tới. Vì vậy, người ta không lạc quan về triển vọng phục hồi tại Việt Nam. Giới đầu tư quốc tế đã nhìn thấy thế, nhiều quỹ đầu tư ngoại quốc tại Việt Nam cũng kết luận như vậy. Họ chỉ tránh không công khai nói ra mà thôi.

Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
Trong một thế giới vẫn còn chìm trong tiếng súng của các cuộc chiến ở Ukraine, Gaza, Iran và nhiều nơi khác, Giải Nobel Hòa bình năm 2026 mang một ý nghĩa vượt xa khuôn khổ của một danh hiệu quốc tế. Bên cạnh ý nghĩa tôn vinh những cá nhân hay tổ chức đã góp sức cho hòa bình, cũng là lời nhắc nhở rằng sinh mạng người, nhân phẩm, lòng từ bi và sự thật vẫn có giá trị ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của nhân loại. Khi chiến tranh thường ca ngợi sức mạnh của vũ khí, Nobel Hòa bình hướng sự chú ý của thế giới đến sức mạnh của lòng từ bi: những bác sĩ cứu chữa bệnh nhân giữa bom đạn, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người dám lên tiếng cho công lý và những cộng đồng không từ bỏ hy vọng. Giải thưởng có ý nghĩa rằng hòa bình không chỉ là sự chấm dứt chiến tranh, mà còn là sự bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền được tồn tại của mọi con người.
Tối 5/10, tại một cuộc mít tinh ở Grand Island, Nebraska, Donald Trump đã nói một câu mà chưa người tiền nhiệm nào của ông từng nói. Trump biện hộ cho giá năng lượng tăng vì cuộc chiến với Iran, gọi đó là cái giá nhỏ để giữ an toàn cho nước Mỹ và thế giới. Chưa thỏa mãn với lời biện hộ, Trump nói Iran có thể xóa sổ một thành phố, vậy thì “hãy để họ xóa sổ Los Angeles đi; hãy để họ xóa sổ San Diego đi. Đó vẫn là một cái giá rất nhỏ và chiến tranh sẽ sớm kết thúc.” Đám đông ủng hộ vỗ tay kèm những tiếng reo hò. Họ là những người đang mặc áo tô điểm bằng quốc kỳ, đội nón đỏ MAGA.
Người ta thường nói, giữ cơ nghiệp đã khó, giữ gia phong còn khó hơn. Trong chính trị cũng vậy. Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi thắng lại; có thể theo đuổi một chính sách sai lầm rồi sửa đổi; thậm chí có thể trải qua một thời kỳ suy yếu rồi vẫn có thể phục hồi. Nhưng khi một chính đảng bắt đầu đánh đổi những tiêu chuẩn từng làm nên danh nghĩa và uy tín của mình để đạt lợi ích trước mắt, cái mất đi là danh dự — thứ không thể tính bằng quyền hay bằng tiền.
Theo một cuộc thăm dò mới của Reuters/Ipsos công bố hôm thứ Hai, 21/9, tỷ lệ ủng hộ dành cho Donald Trump đã giảm xuống còn 32%, mức thấp nhất trong sự nghiệp chính trị của ông ta. Trong lúc đó, các thành viên cùng đảng Cộng Hòa tỏ ra bất bình trước cách Trump xử lý vấn đề chi phí sinh hoạt trong bối cảnh cuộc chiến tại Iran vấp phải sự phản đối của công chúng. Tom Nichols của The Atlantic chỉ rõ hơn mức độ ủng hộ dành cho Trump hiện đang dao động quanh “tầng số” của George W. Bush trong nhiệm kỳ hai, và thậm chí có nguy cơ tụt xuống mức thấp kỷ lục như thời kỳ cuối nhiệm kỳ của Richard Nixon. Đất nước và chính quyền của tổng thống thứ 47 thuộc đảng Cộng Hòa đang gặp khó khăn trên mọi phương diện.
Án tử hình là một phần của lịch sử Hoa Kỳ từ thời thuộc địa. Vụ hành quyết đầu tiên xảy ra ở Jamestown, Virginia, năm 1608. Trong thời kỳ đầu, án tử hình áp dụng cho rất nhiều tội danh, không chỉ giết người. Sang thế kỷ XIX, các tiểu bang bắt đầu thu hẹp phạm vi tội danh bị xử tử và chuyển các cuộc hành quyết từ nơi công cộng vào nhà tù.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.