Hôm nay,  

Lại Một 30 Tháng Tư...

28/04/200700:00:00(Xem: 9303)

Nhưng lần này ở Iraq"

Lịch sử vốn thính mỉa mai - hay những người ưa mỉa mai thì thường trích dẫn lịch sử" - Thượng viện Mỹ trong tay đảng Dân chủ chọn đúng ngày Tổng thống Bush mặc áo hoa trận lên chiến hạm huênh hoang ngoài khơi San Diego "Hoàn tất nhiệm vụ" đúng bốn năm trước để tung ra dự luật ngân sách nhằm cột tay ông Bush tại Iraq với tỷ số 51-46.

Cũng trong tinh thần ấy, khi cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ chuẩn bị tổ chức các sinh hoạt tưởng niệm ngày 30 tháng Tư 1975 thì chính trường Mỹ lại ồn ào những vận động nhằm tái diễn một bi hài kịch tháo chạy khỏi Iraq y hệt như bi kịch Việt Nam hơn ba chục năm trước. Iraq sẽ lại là một Việt Nam thứ hai của Hoa Kỳ"

Vốn chẳng che giấu gì tinh thần chống Mỹ cao độ, giới quan sát quốc tế thì dự đoán là Mỹ sẽ rút khỏi Iraq còn nhục nhã hơn Liên Xô khi phải tháo chạy khỏi Afghanistan. Chẳng khác gì Việt Nam 75...

Trên toàn cảnh, chúng ta lại thấy tái diễn thảm kịch Việt Nam của Hoa Kỳ khi Quốc hội Mỹ muốn cột tay Hành pháp để rút quân, sau khi nhục mạ đồng minh (Chính quyền Iraq) và liên hồi đổ lỗi cho nhau. Đây là một truyền thống Mỹ khiến 1) thế giới đừng sợ đế quốc Hoa Kỳ, 2) đồng minh đừng tin vào hậu thuẫn hay lời hứa hẹn của Mỹ; 3) kẻ thù của Mỹ thì nên đánh Mỹ theo lịch bầu cử Hoa Kỳ là có cái thế tất thắng, nếu như dám tàn sát không ghê tay...

Tuy nhiên, lịch sử không nhất thiết là một sự tái diễn và chuyện Iraq chưa hẳn đã là một sao bản của Việt Nam 75.

Vấn đề nó phức tạp hơn vậy, và người ta có thể thấy ra điều ấy khi theo dõi cuộc tranh luận sơ bộ giữa tám ứng viên Dân chủ vào tối Thứ Năm 26 tháng Tư trong cuộc chạy đua việt dã - một thứ cross country marathon - vào tòa Bạch Ốc.

Như một ấn bản khôi hài của truyện cổ tích "Bạch tuyết và bảy chú lùn", cuộc tranh luận ấy phơi bày ra những phân vân bất nhất của các ứng viên Dân chủ - giữa nàng Bạch Tuyết rất Lọ lem Hillary Clinton và bảy chú lùn kia - về đề tài chiến lược nhất: chuyện Iraq trong khung cảnh của cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cực đoan.

Người viết xin tưởng niệm biến cố 30 tháng Tư từ một giác độ khác, là phân tách cái thế tất thắng của đảng Dân chủ trong hồ sơ Iraq. Trong việc níu áo nhau tháo chạy khỏi Iraq. Chuyện này không mấy đơn giản cho đảng Dân chủ đâu...

Trước hết, xin hãy điểm quân tính số...

Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm ngoái, đảng Dân chủ đã chiếm được đa số tại cả hai viện, nhưng một đa số không có kích thước lịch sử như dư luận thường nghĩ hay đảng Dân chủ thường nói.

Đảng Dân chủ đạt đa số tại Hạ viện nhờ lấy thêm được 31 ghế - con số bình thường của lịch sử Mỹ trong một cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ khi đối thủ đang kiểm soát Hành pháp.Tại Thượng viện, đảng Dân chủ chỉ ngang tài với Cộng hoà theo tỷ lệ 49-49 và chiếm đa số nhờ hai Nghị sĩ độc lập nhưng đứng về phe Dân chủ. Và một trong hai Nghị sĩ này là Joe Lieberman tại tiểu bang Connecticut lại thuộc phe chủ chiến. Ông bị đảng Dân chủ bỏ rơi mà vẫn thắng với tư cách độc lập tại một tiểu bang có truyền thống Dân chủ.

Mà tỷ lệ 49-49 của đảng Dân chủ thật ra tùy thuộc vào có vài ngàn phiếu của những tiểu bang xôi đậu như Pennsylvania, Ohio hay nhất là Virginia (do lỗi lầm thô bỉ của George Allen hơn là nhờ bản lãnh của Jim Webb).

Nói cách khác, đa số Dân chủ sau cuộc bầu cử năm ngoái không có kích thước long trời lở đất (landslide) và cử tri không mãnh liệt dồn phiếu Dân chủ như một sự chọn lựa quyết định, một sứ mạng thiêng liêng được khoán trắng.

Chuyện điểm quân tính số ấy là cần thiết để chúng ta lượng định đặc tính "chiến-hòa" của hai đảng đối với hồ sơ Iraq.

Với đa số thật ra mỏng như tờ giấy quyến thuốc lá, đảng Dân chủ sở dĩ mạnh miệng nói về việc định ngày triệt thoái khỏi Iraq là nhờ... Chính quyền Bush. Chính quyền này có biệt tài tự bắn vào chân và tự vả vào miệng trong vấn đề Iraq, từ chiến lược đến chiến thuật, từ kế hoạch dồn quân đánh tới cho đến vụ các chiến binh Tillman hay Lynch chỉ là anh hùng dỏm do tài đạo diễn rất tồi của bộ Quốc phòng.

Vì những thất bại và sơ xuất cực đáng trách của Chính quyền Bush mà dân Mỹ ngày càng thoái chí về lẽ thắng bại tại Iraq và chính là tâm lý chủ bại ấy của dân Mỹ - sau chứ không phải là trước cuộc bầu cử tháng 11 năm ngoái - mà đa số Dân chủ mới nương theo dấn tới. Và càng trở thành phản chiến hay chủ hoà hơn. Đây là lập trường ăn khách. Nghĩa là ý dân đã khiến Quốc hội Dân chủ ngang nhiên đòi tháo chạy ngay giữa cuộc chiến.

Nhưng, khi Thượng viện Mỹ bỏ phiếu cho dự luật ngân sách với điều kiện phải lập ra lịch trình rút quân mà chỉ đạt có đa số 51-46, chúng ta biết rằng lập trường tháo chạy ấy chưa là lập trường phổ biến. Thiếu 16 phiếu nữa - vô vọng - mới vượt qua rào cản của quyền phủ quyết của Hành pháp theo tỷ lệ hai phần ba. Tại Hạ viện cũng thế mà thôi. Cho nên, dự luật thống nhất của cả hai viện trên dưới chưa thể cột tay Tổng thống được.

Nôm na là Quốc hội khoá 110 của Hoa Kỳ chưa thể tái diễn thành tích 30 tháng Tư được.

Nhưng, mai sau thì sẽ thế nào"

Mai sau là chuyện bầu cử 2008 và đây là lúc ta cần xét tới cốt lõi của vấn đế, về sức mạnh của phe phản chiến trong đảng Dân chủ.

Dân chủ Phản chiến hay Chủ chiến"

 Ngược với sự tường thuật hay lý luận của truyền thông Mỹ, đảng Dân chủ thật ra thiếu thống nhất về Iraq. Trong chuyện chiến hay hoà, dấn tới hay rút lui khỏi Iraq, mẫu số chung duy nhất của đảng này là ưu tiên đánh Bush và qua đó kéo đảng Cộng hoà xuống bùn trong mùa tranh cử tới để chiếm một đa số dày hơn.

Nhưng khi đánh Bush, đảng Dân chủ có nhiều góc tấn công khác nhau.

Sau đây là vài góc cạnh đáng chú ý. Bush nói láo làm lính chết oan tại Iraq vì Saddam Hussein không hề có kế hoạch chế tạo hay sử dụng võ khí tàn sát WMD, hoặc có liên hệ đến al-Qeda. Bush tiến hành chiến tranh sai khiến Hoa Kỳ bị tản lực tại Iraq mà không ứng phó nổi với mối nguy thật là "khủng bố Hồi giáo". Vì chủ trương can thiệp đơn độc và hung hăng, Bush làm Hoa Kỳ mất uy tín và đồng minh nên đang bị tự cô lập. Bush chỉ biết đánh mà không biết đàm, chứ đáng lẽ có thể tìm ra giải pháp cho Iraq nếu trực tiếp nói chuyện với các nước liên hệ khác, như Iran hay Syria. Bush là người khát máu nên đáng trách về mọi mặt, vì Hoa Kỳ thật ra chẳng nên gây chiến hay tham chiến ở bất cứ nơi đâu và hoà bình phải là mục tiêu của mọi chiến lược đối ngoại. Vân vân...

Xin lấy vài thí dụ minh diễn các lập trường này. Giữa hai ứng viên chống Iraq bằng mọi giá như Nghị sĩ Barack Hussein Obama hay John Edwards thì đã có dị biệt. Obama bỏ phiếu chống từ đầu, còn Edwards thì đã từng biểu quyết ủng hộ chiến dịch Iraq sau mới tỏ ý ân hận. Hai Nghị sĩ Hillary Clinton và Joe Biden thì đả kích chính quyền Bush về cách thi hành chiến dịch - mà họ đã từng ủng hộ - nhưng mâu thuẫn với nhau về phương thức cứu vãn và bà Clinton bị tấn công mạnh từ cánh tả phản chiến vì lập trường này.

Và cả Biden, Obama, lẫn Clinton hay Thống đốc Bill Richardson của New Mexico đều "không chủ hoà" trên đại thể khi đề cập tới mối nguy khủng bố toàn cầu của các xu hướng Hồi giáo cực đoan. Họ không kết án ông Bush là gây chiến mà là gây phương hại cho mục tiêu chiến lược là ngăn chặn khủng bố. Nôm na là chủ hoà về chiến thuật chứ về sách lược thì vẫn là chủ chiến, theo một tỷ lệ quá bán (hơn phân nửa của tám ứng viên!) Obama còn mạnh dạn đòi hỏi là Mỹ phải có quân lực mạnh và tuyển dụng thêm sáu vạn bộ binh và ba vạn Thủy quân Lục chiến!

  Xuyên qua ngần ấy lời phê phán của các nhân vật tiêu biểu nhất, dư luận đều thấy Chính quyền Bush đáng trách nhưng lại chưa nhìn ra những mâu thuẫn hay dị biệt trong đảng Dân chủ về chuyện Iraq. Mà những mâu thuẫn ấy mới sẽ quyết định về 1) cuộc bầu cử 2008 và 2) sự an nguy của Hoa Kỳ sau 2008. Đấy là chuyện trên thượng tầng của các lãnh tụ Dân chủ.

Dưới cơ sở đảng thì tình hình cũng lại khác.

Trong nội bộ đảng và trên các phương tiện truyền thông tân kỳ (chưa có trước đây, là Internet và các trang tọa đàm, diễn đàn góp ý, v.v...) ta thấy sự xuất hiện ồn ào của phe chủ hòa, mà đảng Cộng hoà gọi là "chủ bại". Nhưng các nhân vật hay nhóm vận động như John Murtha, Michael Moore hay Cindy Sheehan, Code Pink, International ANSWER, MoveOn.com, v.v.... đều không có sức kéo, hay lập được một chương trình hành động thống nhất và bao quát để là chương trình tranh cử cho toàn đảng. Dù ồn ào như vậy, họ không có thế lực trong cuộc bầu cử 2008. Bề nào thì họ cũng chẳng thể dồn phiếu cho Cộng hoà, không thể ra khỏi đảng để lập một đảng thứ ba, hoặc cầm cờ cho nhân vật đã lỗi thời là Ralph Nader. Vì vậy, không nên hùa theo truyền thông thiên lệch Mỹ mà cho rằng Dân chủ là chủ bại hay chủ hoà. Sự thật nó rắc rối hơn thế.

Dân chủ và chân trời 2008

Nói chung, chính trường Hoa Kỳ có sự chuyển dịch về cánh tả, với những lập trường xã hội cổ điển của đảng Dân chủ đang trở thành ăn khách hơn, như bảo vệ môi sinh, phát huy quyền phá thai, đồng tính, mở rộng mạng lưới bảo hiểm sức khoẻ, hoặc lập trường hoài nghi thành quả của toàn cầu hoá hay tự do mậu dịch, v.v..

Nhưng, trong bối cảnh thuận lợi chung như vậy, nếu chỉ lấy lập trường chiến hoà làm nền tảng vận động và đoàn kết, đảng Dân chủ sẽ tự bắn vào chân, vốn không là một độc quyền của Chính quyền Bush hay đảng Cộng hoà. Trong quá khứ, đảng Dân chủ đã từng mất đa số thì những mâu thuẫn về lập trường ưu tiên. Lý do là hầu như nhóm vận động hay trung tâm quyền lực nào (nghiệp đoàn, công chức, giới ủng hộ phá thai hay phóng túng về đạo đức xã hội, diễn viên kiêm cán bộ đấu tranh, v.v... ) cũng coi chủ trương của mình là ưu tiên và gây ra cảnh "quân mình đánh quân ta". Đây là "Hội chứng Đào cốc Lục tiên" rất tiêu biểu của nền dân chủ đa nguyên Hoa Kỳ! Sáu anh liên thủ thì võ công trùm đời và ăn đứt thiên hạ, nhưng lại cãi nhau như mổ bỏ về những chuyện vặt và khi lâm trận thì bỏ chạy theo sáu hướng!

Ý thức được nhược điểm ấy, trong sáu năm hậm hực vì Bush vừa qua, đảng Dân chủ đã ít nhiều thành công để kết hợp đấu tranh, tức là nhường nhau về ưu tiên cục bộ để đạt thành quả chung, thí dụ như về môi sinh, bảo hiểm y tế, bảo vệ lao động và dân quyền.

Nhưng lần này, nếu lấy chuyện Iraq làm ưu tiên tranh cử thì đảng này sẽ có thể thắng trận nhỏ mà thua trận lớn - và không thể vào tòa Bạch Ốc được.

Lý do khách quan là chuyện chiến-hòa không thuộc ông Bush mà nằm trong thế giới Hồi giáo, trong các hệ phái hay lực lượng khủng bố. Dù có thất trận tại Việt Nam, Hoa Kỳ cũng không bị đặc công cộng sản Bắc Việt tấn công vào New York hay Los Angeles. Chứ nếu ùa nhau chạy khỏi Iraq thì Hoa Kỳ để lại nhiều vùng oanh kích tự do cho quân khủng bố, từ Trung Đông tới Viễn Đông, từ Bắc Phi vào Nam Mỹ và Bắc Mỹ...

Cho nên, lập trường chủ hòa cực đoan của một số thành phần rất om xòm trong đảng lại là một mối nguy cho đảng Dân chủ.

Người ta hay so sánh Việt Nam và Iraq, đảng Dân chủ biết vậy mà thực ra muốn tránh. Thảm bại Việt Nam là một thành tích Dân chủ, xuất phát từ thời Kennedy và Johnson và kết thúc với lá phiếu phản chiến Dân chủ năm 1974 để cột tay Việt Nam Cộng Hoà.

Sai lầm của lãnh đạo Dân chủ trong bốn tháng qua là ngả theo dư luận phản chiến mà chống Bush từ giác độ chủ bại (Nghị sĩ Harry Reid và lời phát biểu tuần qua rằng Mỹ đã thua tại Iraq), thậm chí còn tái diễn thành tích "đi đêm với kẻ thù" của John Kerry khi Dân biểu Nancy Pelosi qua đàm phán tại Trung Đông. Họ có thấy sai lầm ấy và đang cố điều chỉnh lại, và càng gần ngày bầu cử (18 tháng nữa cơ) thì càng điều chỉnh mạnh hơn.

Ngay cả trong màn đấu võ với Bush về điều kiện triệt thoái lồng trong ngân sách, đảng Dân chủ cũng đang cố chứng minh là mình có tinh thần trách nhiệm, không đâm sau lưng chiến sĩ và mọi việc là do Chính quyền Bush mà ra.

Cho nên, kết luận ngược ngạo ở đây là đảng Dân chủ sẽ không gây ra một vụ 30 tháng Tư thứ nhì vì... không đủ sức.

Nếu thảm kịch có xảy ra thì chính là do những lầm lẫn chồng chất của Chính quyền Bush tại Iraq. Việc Iran bỗng nói giọng ôn hoà và tình hình Iraq có cải tiến trong thực tế là điều dư luận Mỹ chưa nhìn ra, và Chính quyền Bush thất bại nặng trong lãnh vực thông tin và tuyên truyền ấy cho dư luận. Đổ lỗi cho phe Dân chủ không là giải pháp cứu nguy nước Mỹ.

Nhưng, nhìn trên quan điểm quyền lợi của Hoa Kỳ, đảng Dân chủ có đổ lỗi cho ông Bush thì cũng chẳng là giải pháp. Quân khủng bố đang điểm quân tính số, theo kiểu của họ, và triệt để khai thác lợi thế khách quan là lập trường chủ hoà ồn ào của đảng Dân chủ.

Cử tri sẽ thấy ra điều ấy khi vào phòng phiếu năm 2008.

Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.