Hôm nay,  

Tiếng Vọng Từ Hoả Lò

01/12/200700:00:00(Xem: 8962)

Tờ bướm và chương trình của đêm thơ nhạc “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” tại Đại Học Berkeley vào tháng 5.1981; Cảnh bên trong nhà lao Hoả Lò ngày nay (ảnh Bùi Văn Phú)

Thời sinh viên, một buổi tối có người đến ký túc xá tìm tôi và tỏ ý muốn tìm hiểu về đời sống ở Việt Nam sau tháng 4.1975. Đó là bà Laola Hironaka, trưởng nhóm sinh hoạt của tổ chức Ân Xá Quốc Tế trong trường (AI Campus Network). Bà mời tôi đến sinh hoạt với nhóm, có chừng 20 thành viên, kể cho họ nghe về tình hình Việt Nam theo tin tức tôi nhận được qua thư gia đình. Nói đơn giản thì đời sống gia đình tôi trong những năm sau ngày 30.4.1975 là khó khăn, các em của tôi đã phải thôi học sớm để lăn lộn vào đời kiếm sống. Nhiều người thân như chú bác, hàng xóm đang “học đại học” và khi nào “học tập tốt” rồi sẽ “tốt nghiệp”. Đó là cách nói mà chỉ người trong cuộc mới hiểu được là những người thân đang bị giam trong những trại học tập, cải tạo được dựng nên ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam lúc bấy giờ.

Sau đó nhóm mời những người đã từng bị tù dưới chế độ cộng sản đến nói chuyện, họ là những cựu “tù nhân lương tâm” như Đoàn Văn Toại, Nguyễn Hữu Hiệu, Trần Xuân Ninh. Để tìm hiểu thêm về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam tôi đã cùng bà Laola đi gặp một số người như nhà văn Võ Phiến, nhà văn Đỗ Tiến Đức, dược sĩ Nguyễn Cao Thăng ở miền Nam California.

Vào thời điểm làn sóng thuyền nhân tị nạn lên cao, sinh viên Việt Nam đã cùng với nhóm Ân Xá Quốc Tế và hội Humanitas tổ chức biểu tình ở Sproul Plaza kêu gọi cộng đồng sinh viên cũng như thế giới cứu giúp thuyền nhân và người tị nạn Đông Dương. Vấn đề nhân quyền tại Việt Nam cũng đã nhiều lần được thảo luận với những diễn giả như ca sĩ Joan Baez, bác sĩ Trần Xuân Ninh, nhà văn Nguyễn Hữu Hiệu, giáo sư Karl Jackson, bà Ginetta Sagan, nhà thần học Michael Buckley, quán quân Nobel Hoà Bình 74 Seán MacBride, quán quân Nobel Văn Chương 80 Czeslaw Milosz và cựu thủ lãnh sinh viên Đoàn Văn Toại.

Khi tin tức về tập thơ của một người tù nhiều năm ở miền Bắc Việt Nam được báo chí của người Việt hải ngoại loan tin, trong một buổi họp mặt tôi cũng chia sẻ thông tin với nhóm. Cuối năm 1980 anh Đoàn Văn Toại gửi tặng tôi tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực. Sau đó có nhạc Mười Bài Ngục Ca do Phạm Duy phổ thơ “Ngục Sĩ” và băng cát-sét với giọng ca của gia đình Phạm Duy.

Trong những sinh hoạt, sinh viên Việt Nam ở Berkeley mỗi năm đều tổ chức tưởng niệm 30.4, không ồn ào, chỉ là một buổi tối họp nhau lại trong phòng sinh hoạt có khi ở ký túc xá, hay trong trường, thắp nến, tâm tình, kể chuyện quê hương cho nhau nghe. Rất đơn sơ nhưng lắng đọng những tâm tư. Năm 1981 với tập thơ tù và những bản ngục ca vừa được phổ biến, chúng tôi quyết định tổ chức văn nghệ tưởng niệm 30.4 bằng một đêm thơ nhạc và thảo luận về chế độ lao tù ở Việt Nam.

Vì là những bài nhạc mới, ít ai biết hát nên chúng tôi phải tìm người ngoài giúp và may mắn được ca sĩ Thu Hà của ban Tam Ca Đông Phương ngày trước, tức bác sĩ Nguyệt Mehlert ở San Jose, sẵn sàng góp giọng ngâm, tiếng hát và góp cả công sức tập dượt cho sinh viên.

Lần này chúng tôi còn quyết định thực hiện chương trình bằng song ngữ để những sinh viên không phải gốc Việt có thể hiểu. Lúc đó trong số sinh viên tôi biết có Nguyễn Khoa Thái Anh rất giỏi tiếng Anh và tiếng Việt vì khi mới sinh hoạt với hội Thái Anh có đưa cho tôi xem bản dịch “Lời Giới Thiệu” của Nguyễn Đình Toàn viết cho cuốn băng Hát Cho Quê Hương Việt Nam 1, với nhạc Trịnh Công Sơn và tiếng hát Khánh Ly. Đọc bản tiếng Anh, tôi rất phục. Hơn nữa trong những lần đối chất với các diễn giả bênh vực cho Hà Nội, Thái Anh phản biện rất trôi chẩy. Về tài văn nghệ thì năm ngoái trong chương trình Đêm Việt Nam đầu tiên, vở kịch thơ “Hận Nam Quan” đã được Thái Anh, vai Nguyễn Trãi, và Nguyễn Ngọc Thanh, vai Nguyễn Phi Khanh, diễn rất thành công.

Vì thời gian tập dượt với ca sĩ Thu Hà không có nhiều, hai ngày cuối tuần, nên chỉ có ba giọng hát sinh viên là Hà Thuý Dung, Nguyễn Thị Huệ và Ninh Ngọc Bảo Khanh và ba giọng diễn ngâm là chị Thu Hà, Thái Anh và Nguyễn Ngọc Thanh cùng tiếng đàn ghi-ta của sinh viên Trung Nghĩa. Trong cộng đồng có cây sáo trúc Bùi Duy Long và tiếng đàn tranh Ngọc Dung, tuy không tập dượt, nhưng đã hứa sẽ đến giúp cho buổi thơ nhạc vì quí mến sinh viên.

Khi viết tờ bướm cũng như soạn chương trình, tôi không rõ về tên tuổi nhà thơ, chỉ biết rằng tập thơ đã được một nhà ngoại giao châu Âu đem ra khỏi Việt Nam. Tôi nhờ trưởng nhóm Ân xá Quốc tế dò hỏi và biết tên thi sĩ đó là Nguyễn Chí Thiện. Vì thế trong tờ bướm, cũng như tờ chương trình đều ghi tên thi sĩ. Có lẽ đây là tài liệu đại chúng đầu tiên ghi rõ Nguyễn Chí Thiện là tác giả của tập thơ. Trong danh sách những tù nhân được Ân xá Quốc tế quan tâm thì thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là tù nhân lương tâm đầu tiên từ miền Bắc Việt Nam.

Chương trình diễn ra tốt đẹp. Khi hát hay diễn ngâm bằng tiếng Việt thì lời Anh được chiếu lên. Đọc thơ tiếng Anh có Thái Anh, có phu quân của ca sĩ Thu Hà là Calvin Mehlert và giáo sư Goldman, chủ nhiệm Trung Tâm Nghiên Cứu Nam và Đông Nam Châu Á.

*

Dưới đây là phần trích bài của tôi viết về đêm thơ nhạc:

…

“DDêm Nghe Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” được thực hiện bằng cả hai ngôn ngữ Việt và Anh vào tối thứ Sáu ngày 1.5.1981, tại phòng số 160 Kroeber Hall, U.C. Berkeley với sự tham dự của trên 200 khán thính giả.

Ngày 1.5 là ngày Quốc Tế Lao Động. Các nước tự do thường dùng ngày này để tuyên dương hoặc tán tụng các quyền tự do lao động của con người, như quyền đình công, quyền tổ chức và gia nhập nghiệp đoàn, quyền làm việc theo khả năng, ý thích v.v… Trong khi đó tại các nước cộng sản, cũng vào ngày này hằng năm, chính quyền thường đưa ra những chiêu bài lừa bịp, những chính sách bóc lột, bắt người dân phải hy sinh lao động nhiều hơn để phục vụ cho một thiểu số thống trị.

Nhưng đáng ghi nhớ hơn, cách đây 6 năm 1 ngày, vào ngày 30.4.1975 cộng sản chiếm trọn miền Nam Việt Nam và vì thế ngày 1.5.1975 người dân miền Nam đã phải sống trọn một ngày đầu tiên trong cái gọi là “thiên đường” của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một ngày Quốc Tế Lao Động đầu tiên để bắt đầu cho chuỗi ngày “lao động vinh quang”, cho “hội họp, kiểm thảo”, cho “vào tù ra khám”, điển hình như:

Bà kia tuổi sáu mươi rồi

Mà sao không được phép ngồi bán khoai

Cụ kia tuổi bảy mươi hai

Mà sao hội họp mệt nhoài chẳng tha

Tư do tôi quí thiết tha

Mà sao tù ngục hết ra lại vào…

Và cũng là khởi đầu cho chuỗi ngày đắng cay sống dưới “chế độ khoai sắn” với những câu chuyện thật thương tâm:

Bao giờ tôi gặp lại anh

Sẽ kể nghe chuyện khoai sắn

Chuyện thương tâm

Vì là chuyện cùm, chuyện bắn

Chuyện nhục nhằn

Vì là phản phúc gian manh

Sẽ làm đau xót lòng anh

Sẽ làm đau xót lòng anh…

Hay có những câu chuyện cười ra nước mắt:

Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại

Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai

Chanh, chuối, cam, đường

Lạc, đỗ, gạo, khoai

Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại

Chuyện có thực mà tưởng như thần thoại

Mà tưởng như ác mộng bi ai…

Hoặc những chuyện bi hùng:

Tôi có thể ăn vài cân sắn sống

Nhai ngon lành như kẹo súc-cô-la

Bạn phục tôi tài hơn cả lợn à

Tôi đang sống trong trại giam Việt Cộng

Mưa đông rét ào ào gió lộng

Đứng ngâm mình vớt nứa giữa giòng sông

Bạn tưởng tôi da sắt với xương đồng

Tôi đang sống trong trại giam Việt Cộng…

Những chuyện não nùng, bi ai của chế độ:

Một tay em trổ: “DDời xua đuổi”

Một tay em trổ: “Hận vô bờ”

Thế giới ơi! ai có thể ngờ

Đó là một tù nhân tám tuổi

Trên bước đường tù mà tôi rong ruổi

Tôi gặp hàng ngàn em bé như em…

Những lời thơ tiếng nhạc đã nói lên được cuộc sống bi ai nhưng hào hùng của người dân Việt Nam trong lao tù và dưới chế độ cộng sản Hà Nội.

Nhưng để có thể diễn tả cuộc sống lao tù cộng sản một cách sống động hơn, “DDêm Nghe Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” còn có phần thảo luận với một số hội thảo viên gồm những người đã phải sống trong trại cải tạo nhiều năm. Trong phần trả lời những câu hỏi, tất cả hội thảo viên đều bác bỏ lập luận của Hà Nội và những tay sai cho là người Việt Nam bỏ nước ra đi là vì lý do kinh tế. Một hội thảo viên khi trả lời câu hỏi này đã bật khóc, nói rằng: “Không lẽ vì lý do kinh tế, vì muốn tìm ấm no cho cuộc sống mà tôi đã phải bỏ lại vợ và đứa con mới chập chững biết đi để tôi ra đi một mình hay sao"”

Qua phần thảo luận, người tham dự đã được biết đến đời sống trong các lao tù của Hà Nội thật khổ cực, chẳng hạn như đã có đến 20 người bị giam chung trong một phòng chỉ rộng 9 mét vuông, hoặc có những bữa cơm chiều chỉ vỏn vẹn 16 hạt bắp.

Còn về sinh hoạt dân chủ dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam thì tất cả chỉ là những trò bịp bợm, vì người dân không có quyền ứng cử và bầu cử tự do. Các ứng cử viên đều do Đảng Cộng Sản chỉ định, dân bị bắt buộc bầu cho những người được chỉ định đó.

Cũng trong dịp này, giáo sư Nguyễn Văn Canh, nguyên phụ tá khoa trưởng đặc trách học vụ của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, hiện làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị Hoover thuộc viện Đại học Stanford, đã nói về các chính sách mà Hà Nội áp dụng tại miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 nhằm loại bỏ những thành phần chống đối, như cải cách ruộng đất, diệt tư sản mại bản, đàn áp trí thức. Chính sách này đã gặp phải nhiều chống đối từ dân chúng, điển hình là vụ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, các vụ nổi dậy của nông dân v.v… Các chính sách đàn áp này được Hà Nội một lần nữa áp dụng tại Nam Việt Nam vào những năm 1977-78. Qua đợt đàn áp này, mặc dù nhiều người đã bị giết chết hoặc bị bắt giam vì chống đối nhưng hậu quả vẫn là những thất bại không cứu vãn được của bạo quyền Hà Nội trong chính sách cai trị hiện thời của họ.

Sau phần hội thảo kéo dài gần 2 giờ, chương trình chấm dứt bằng “Ngục Ca số 10” tức “Sẽ Có Một Ngày”:

Sẽ có một ngày con người hôm nay

Vất súng

Vất cùm

Vất cờ

Vất đảng

Đội lại khăn tang

Xoay ngang vòng đạn oan khiên…

Lời hát không chỉ là ước mơ của một con người đã phải sống với “cùm, bắn, chém, băm” trong gần 20 năm ngục tù ròng rã, mà cũng là ước mơ của hơn 50 triệu dân Việt đang phải sống những ngày tăm tối nhất trong lịch sử.

“Trái bom sự thật” đã nổ long trời lở đất. Sức công phá của nó đang làm cả thế giới khiếp sợ. Âm vang của “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” đã, đang và chắc chắn sẽ còn được lắng nghe mãi mãi.

[Bán nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại, số 97, từ 1 đến 15.6.1981. Chủ biên là cựu luật sư Đinh Thạch Bích.]

Trong bài tường thuật tôi có nhắc đến Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ, nhưng toà soạn đã biên tập bỏ đi, với một lời ghi chú: “…một vài người đã tìm cách đưa ra tung tích về tác giả, căn cứ vào một nguồn tin tự nhận từng quen biết lâu năm với “tác giả”. Nhưng chi tiết đưa ra không mấy vững chắc, nên gần đây dư luận chỉ nói đến tập thơ, mà ít nói đến tác giả tập thơ. Có lẽ phải chờ thời gian và hoàn cảnh làm sáng tỏ vấn nạn này.”

*Hôm 17.11.2007 ở San Jose đã có buổi giới thiệu tác phẩm Hoả Lò / Hanoi Hilton Stories của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Chương trình do bà Jean Libby, cựu giáo sư sử học tại San Jose City College phối hợp cùng Cộng Đồng Việt Nam Bắc California tổ chức. Anh Nguyễn Khoa Thái Anh và tôi được ban tổ chức mời kể lại chương trình “DDêm Nghe Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”. Hôm đó chúng tôi đưa người nghe về với không khí của đêm thơ nhạc xưa. Nguyễn Khoa Thái Anh đọc “Thơ của tôi” và “Sẽ có một ngày” bằng Anh ngữ. Tôi đọc tiếng Việt và cất giọng ngân nga những dòng nhạc thơ vẫn còn thuộc lòng.

Hai mươi sáu năm trước sinh viên Berkeley cất tiếng ngâm thơ, hát vang lên lời ca của một tù nhân còn nằm trong xà lim Hoả Lò. Lời thơ của Nguyễn Chí Thiện đã ghi lại một giai đoạn lịch sử của đất nước. Hôm nay tôi hát lên như để ôn lại kỉ niệm, nhớ về thời sinh viên đầy nhiệt huyết và hăng say, nhớ về đất nước đã có một thời lắm những lao tù, nhọc nhằn và thương đau.

Ngày nay đời sống xã hội Việt Nam thay đổi nhiều và quê hương đang chuyển mình. Trong những lần đến Hà Nội tôi thường đi ngang Phố Hoả Lò, nhìn bức tường mầu vôi vàng với những ô vuông cửa sổ bé nhỏ có song sắt chắn ngang mà liên tưởng đến những lời thơ của Nguyễn Chí Thiện, đến hồi kí của thượng nghị sĩ John McCain, đến những tù nhân của nhiều thời đại đã phải trải qua một phần cuộc đời ở chốn này, tù binh Mỹ cũng như tù nhân Việt. Lần đầu tiên tôi đến Hoả Lò, nơi đây đang được phá đi một phần để xây trung tâm thương mại, tôi xin một cục bê tông to bằng hòn gạch thẻ đem về làm kỉ niệm. Mấy năm sau nhà lao Hoả Lò được đổi lại tên nguyên thuỷ là Maison Centrale và trở thành một bảo tàng ghi lại lịch sử thời Pháp đô hộ nước ta, 1896-1954, nhiều hơn những dấu tích của thời đại khác. Bên cạnh đó giờ đây là một trung tâm thương mại nhiều tầng, cao sang. Tôi vào tham quan trong sự yên lặng rờn rợn người, nhất là khi bước đi giữa những buồng giam trong không gian mờ tối, sắc mầu âm u.

Hai mươi sáu năm, thời gian đã đem đến bao đổi thay. Những trại học tập đóng cửa, tù cải tạo lần lượt lên đường định cư. Mười hai năm trước nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đã giã từ thành phố của Hoả Lò để đến bến bờ tự do.

Hai mươi sáu năm trôi qua, những tù nhân lương tâm ngày trước ra đi có người đã trở về. Thượng nghị sĩ McCain cũng đã đưa gia đình đến thăm Hoả Lò, nơi ông và nhiều đồng đội đã bị giam cầm và hành hạ trong thời chiến tranh. Chốn âm u đó được tù binh Mỹ gọi miả mai bằng cái tên Hanoi Hilton. Bây giờ giữa phố phường Hà Nội có một khách sạn sang trọng là Hilton Hanoi Opera Hotel trên đường Lê Thánh Tông.

Việt Nam ngày nay không còn những trại học tập, nhưng trên mảnh đất ấy vẫn còn những người tù cần được quan tâm. Hôm đến San Jose nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cùng với lớp người trẻ như anh chị Đỗ Thành Công và Jane, cùng với bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi và nhiều người Việt tiếp tục lên tiếng bênh vực cho nhân quyền nhân phẩm, cho tù nhân lương tâm ở Việt Nam.

Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.