Hôm nay,  

Viễn Ảnh 2008

27/12/200700:00:00(Xem: 10490)

...quản lý kinh tế của lãnh đạo tại VN còn quá thô thiển nên khó đỡ nổi các hiệu ứng quốc tế dội vào...

Chúng ta đang ở vào mấy ngày cuối của năm 2007. Qua năm 2008, kinh tế thế giới sẽ ra sao và sẽ ảnh hưởng tới Việt Nam như thế nào" Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về viễn ảnh kinh tế 2008 qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình chuyên đề do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Xin kính chào ông Nghĩa, trước thềm năm mới, Ban Việt ngữ chúng tôi xin đề nghị là chương trình tuần này sẽ cùng nêu ra một số phác họa về viễn ảnh kinh tế năm 2008, từ các khối kinh tế mạnh nhất về tới Á châu và Việt Nam.

Câu hỏi đầu tiên là khi nghiên cứu tình hình kinh tế các nước, ông có nhận xét sơ khởi ra sao về những dự báo kinh tế cho năm tới"

- Tình hình kinh tế có thể trăng trầm, lên hay xuống, nhưng năm 2008 này, thế giới sẽ để ý theo dõi hai hiện tượng chưa dự báo được rõ. Thứ nhất, các nền kinh tế đang phát triển như tại Á châu có tăng trưởng hay suy trầm theo cùng hướng với các khối kinh tế lớn, và nhất là Hoa Kỳ, hay không" Hiện tượng thứ hai là dù bị suy trầm, một số quốc gia cũng vẫn bị lạm phát. Suy trầm là khi sản xuất đình đọng, hàng họ ế ẩm và thất nghiệp tăng. Vậy mà vẫn có trường hợp vật giá tiếp tục gia tăng trong khi hoạt động kinh tế bị trũng, đó là hiện tượng "stag-flation" từng thấy tại các nước Âu Mỹ hơn ba chục năm về trước.

Chúng ta có thể dịch khái niệm ấy là "suy-phát" hay "đình-lạm". Người ta sở dĩ chú ý tới hai vấn đề ấy vì đã có lúc Á châu tăng trưởng mạnh nên gần như tách rời khỏi biến động kinh tế tại Mỹ, và qua năm tới, khi cả ba thị trường lớn là Mỹ, Nhật Bản và Âu châu đều bị suy trầm gần như cùng lúc, nhiều quốc gia vẫn bị nguy cơ lạm phát, kể cả Âu châu.

- Hỏi: Chúng ta sẽ khởi đầu từ dự đoán là trong năm tới, cả ba đầu máy kinh tế của thế giới có thể bị suy trầm, trước tiên là Hoa Kỳ. Vì sao năm tới, kinh tế Mỹ có thể sa sút"

- Trên diễn đàn này, trong các chương trình ngày 26 tháng Chín và 12 tháng 12, chúng ta đã nói tới rủi ro suy trầm tại Hoa Kỳ, là điều mà các nhà kinh tế dự đoán sẽ xảy ra. Bây giờ thì trường hợp ấy có thể sẽ xảy ra với xác xuất khá cao. Cách đây hơn một tuần, nguyên Thống đốc hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ dự báo xác suất này là hơn 50%; nhiều người còn nghĩ rằng nguy cơ ấy có thể còn lớn hơn.

Lý do là sự đình đọng của thị trường gia cư đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống tín dụng địa ốc nhiều rủi ro, ta gọi là thứ cấp, tức là loại tín dụng sub-prime. Điều nguy kịch là trái bóng sub-prime đó bể đã dẫn tới phản ứng dây chuyền là làm thị trường tín dụng hay trái phiếu hầu như bị đông lạnh, nghĩa là các ngân hàng hay công ty tài trợ hết dám cho vay. Trong khi ấy, doanh lợi của các công ty cũng có sa sút khiến họ giảm nhịp đầu tư để nghe ngóng. Đáng chú ý hơn cả là tai ách đó đã lan rất mạnh qua Âu châu và một số quốc gia bên kia Đại tây dương cũng bị nạn bong bóng gia cư và tín dụng thứ cấp chẳng kém gì Hoa Kỳ nên suy trầm có thể xảy ra cùng lúc cho cả hai khối kinh tế Tây phương đó.

- Hỏi: Tức là cả hai khối Âu Mỹ có thể bị suy trầm vì cùng một loại lý do tương tự, nhưng về mức độ thì có nguy ngập hay nghiêm trọng như nhau hay không"

- Về nguyên nhân thì thực ra cũng có khác biệt và ngay trong nội bộ Âu châu thì tình hình từng nước cũng có sự nguy ngập nặng nhẹ khác nhau. Nhìn chung thì các nước kỹ nghệ hoá đều đánh giá rất cao nguy cơ khủng hoảng của hệ thống tín dụng nên ngày 12 vừa qua, năm Ngân hàng Trung ương có ảnh hưởng nhất của thế giới đã đồng loạt can thiệp vào thị trường, cụ thể là bơm thêm mấy trăm tỷ Mỹ kim vào kinh tế để cứu nguy.

Bây giờ, người ta còn trông đợi xem vụ khủng hoảng vì ách tắc tín dụng có kéo dài không, và giá dầu thô sẽ ảnh hưởng thế nào trong tình hình đó. Nhìn chung, các nhà kinh tế đều dự báo là đà tăng trưởng tại cả hai khối kinh tế này có thể giảm 1%, kinh tế Mỹ chỉ tăng được gần 2% và Âu châu thì chỉ 1,5% là nhiều. Trong khi ấy, lạm phát vẫn là mối quan tâm đáng kể, nhất là tại một số quốc gia Âu châu, vì vậy người ta mới nói đến rủi ro bị suy phát, bị cả stagnation lẫn inflation.

- Hỏi: Giữa Hoa Kỳ và Âu châu, chúng ta còn khối kinh tế coi như hạng nhì sau Mỹ là Nhật Bản. Qua năm 2008, tình hình kinh tế Nhật sẽ ra sao sau khi xứ này đã bị suy trầm, thậm chí suy thoái trong hơn chục năm liền"

- Qua năm tới, tình hình Nhật Bản mới thật đáng ngại vì Nhật bị suy trầm và giảm phát quá lâu nên đã phải hạ lãi suất đến số không và bơm tiền rất nhiều để kích cầu kinh tế, để kích thích tiêu thụ. Ngày nay, lãi suất tại Nhật vẫn chỉ có 0,50% nên nếu xứ này bị nguy cơ suy trầm, họ khó còn khả năng hạ lãi suất. Tuần qua, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã do dự mãi rồi vẫn giữ nguyên lãi suất mà chưa dám hạ hay tăng. Ngoài ra, Nhật còn bị nhiều ách tắc trong cơ chế kinh tế mà chưa giải quyết nổi và bị ảnh hưởng nặng nhất của nạn dầu thô lên giá cùng với các vấn đề chung của hai khối kinh tế Âu và Mỹ.

Qua năm 2008, mối lo đáng ngại nhất chính là nền kinh tế Nhật Bản, là điều khá bất ngờ cho nhiều người vì Nhật mới chỉ phục hồi từ năm 2005 mà thôi. Đáng ngại hơn cả là đảng Tự do Dân chủ đang cầm quyền lại rất yếu thế nên khó tiến hành cải cách để giải tỏa những ách tắc trong cơ chế như ta vừa mới nói.   

- Hỏi: Khi mọi người đều nghĩ rằng cả ba khối kinh tế này đều gặp rủi ro suy trầm thì tất nhiên là giới hữu trách cũng biết như vậy. Ba khối kinh tế này có khả năng đối phó hoặc ngăn ngừa ra sao"

- Trên đại thể, người ta có biện pháp tiền tệ như hạ lãi suất hay giải tỏa điều kiện cho vay để kinh tế có thêm tiền cho sản xuất và đầu tư. Kế đó, người ta có biện pháp về tài chính công, như giảm thuế hay tăng chi cũng để bơm thêm tiền vào kinh tế. Loại đối sách thứ ba là cải tổ cơ cấu kinh tế để tháo gỡ ách tắc và khuyến khích sản xuất. Ba loại đối sách ấy có hiệu quả từ nhanh đến chậm, từ sáu tháng tới cả năm hay nhiều năm.

Nhưng đây mới là mấy vấn đề đáng lo. Thứ nhất, không phải ngân hàng trung ương nào cũng có thể giảm lãi suất vì điều ấy còn tùy ở mức lãi suất căn bản hiện cao hay thấp. Thứ hai là còn tùy vào tình hình vật giá, tức sức ép của giá cả mạnh hay yếu, nếu khơng khéo là vừa bị suy trầm vừa bị lạm phát như các nước Âu châu đang sợ nên chưa dám hạ lãi suất. Thứ ba là còn tùy vào hoàn cảnh ngân sách; nếu đã bị bội chi quá lớn thì người ta khó có thể giảm thuế hay gia tăng công, là trường hợp của Nhật Bản và nhiều nước Âu châu. Thứ tư, nói về cải tổ cơ chế để giải tỏa ách tắc trong sản xuất thì khả năng ấy cũng tùy vào tư thế mạnh yếu của đảng cầm quyền, vào ngay lúc này. Vì ngần ấy lý do, việc đối phó có công hiệu hay không thì cũng còn tùy thuộc vào tình hình của từng nước.

- Hỏi: Cho tới nay, các nước đã làm những gì hầu có thể chặn trước nguy cơ suy trầm mà ai cũng nói tới"

- Trước hết, các ngân hàng trung ương đều phối hợp mở rộng khung cửa can thiệp để bơm tiền cấp cứu các ngân hàng và cả hệ thống tín dụng hầu đẩy lui vụ khủng hoảng của thị trường tín dụng. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Âu châu - là cơ chế điều tiết tiền tệ cho 15 quốc gia cùng sử dụng đồng Euro - vẫn chưa hạ lãi suất vì động lực có khi trái ngược của từng nước trong khối này, điển hình là khác biệt lậo trường của Đức và Pháp. Trong thời gian tới, người ta chờ đợi xem Nhật Bản và khối Euro, nơi nào sẽ cắt lãi suất trước, sau khi các Ngân hàng Trung ương của Anh, Canada và Hoa Kỳ đều giảm lãi suất. Riêng nước Mỹ thì đã hạ lãi suất ba lần, tổng cộng 100 điểm tức là 1%, trong hơn ba tháng vừa qua và sẽ còn hạ nữa trong một hai quý sắp tới.

Nhìn chung và chúng ta có đề cập tới vấn đề này từ tháng Chín, Hoa Kỳ có nhiều khí cụ khả dụng để giải trừ nguy cơ suy trầm hơn hẳn hai khối kinh tế kia - nhờ lãi suất đang cao, loại cơ bản chỉ có 4,25% nên còn có thể giảm, bội chi ngân sách còn thấp, chỉ có 1,2% tổng sản lượng GDP, nên vẫn có thể gia tăng công chi - vì vậy sẽ sớm thoát khỏi suy trầm.

- Hỏi: Bây giờ, chúng ta nhìn qua Á châu, tình hình kinh tế năm tới sẽ thế nào khi ba khối kinh tế đầu máy là Mỹ, Nhật, Âu đều có thể bị đình đọng"

- Trước hết, ta chú ý đến trường hợp Trung Quốc là nền kinh tế có trọng lượng, đang có tốc độ tăng trưởng cao mà lại bị lạm phát mạnh khiến họ phải tăng lãi suất sáu lần trong năm nay. Qua năm tới, đà tăng trưởng tại Trung Quốc có thể giảm mất gần 2% là điều thật ra đáng mừng vì từ nhiều năm nay lãnh đạo xứ này muốn hãm đà tăng trưởng để hạ nhiệt kinh tế mà không nổi. Bây giờ nếu cả ba thị trường lớn của hàng hoá Trung Quốc mà bị suy trầm thì xuất khẩu của Hoa lục sẽ giảm và đó là giả thuyết thật ra có lợi vì quân bình lại chênh lệch kinh tế toàn cầu và góp phần đẩy lui mối lo lạm phát ở tại đây.

Nói cách khác, Trung Quốc đã nhờ thế giới đạp thắng dùm cho mình để hy vọng hạ cánh an toàn. Tuy nhiên, vì khả năng quản lý vĩ mô vẫn còn kém, tình trạnh nóng máy kinh tế, tức là đầu tư quá mạnh và lạm phát quá cao, vẫn có thể xảy ra với xác suất cao. Hậu quả có thể là nhiều xáo trộn kinh tế dẫn tới động loạn xã hội.

- Hỏi: Nhìn qua các nước Á châu khác, như tại Đông Nam Á, thì nạn suy trầm toàn cầu như vậy sẽ có ảnh hưởng ra sao"

- Quy tắc chung là kinh tế càng lệ thuộc vào thị trường xuất cảng thì khi các thị trường này sa sút, nền kinh tế càng bị ảnh hưởng. Xuất khẩu của các xứ Đông Nam Á qua Hoa Kỳ và Âu châu chiếm một tỷ trọng chừng 15% nên năm tới, thị trường của họ sẽ bị thu hẹp và kinh tế bị hiệu ứng bất lợi. Tuy nhiên, và đây là câu hỏi đã được nêu lên từ đầu, các xứ trong khu vực cũng mua bán của nhau nhiều hơn nên hiệu ứng của suy trầm từ hai khối kinh tế Âu-Mỹ cũng giảm bớt và kinh tế Đông Nam Á đang tăng trưởng mạnh, họ không sợ suy trầm như nhiều xứ khác.

- Hỏi: Ta sẽ kết thúc chương trình với trường hợp Việt Nam. Thưa ông, viễn ảnh kinh tế 2008 của xứ này sẽ ra sao"

- Việt Nam đang bị lạm phát nặng, và với xuất khẩu chiếm tới 60% tổng sản lượng GDP, nghĩa là một thị trường nội địa còn quá thấp, cho nên khi các nước bị suy trầm, Việt Nam sẽ bị giao động nặng nhất. Sản xuất sẽ giảm sút nhiều kể từ giữa năm tới trong khi lạm phát vẫn chưa thuyên giảm. Lương thực và dầu khí sẽ tiếp tục thổi mạnh vật giá và gây hậu quả bất lợi cho thành phần bình dân và nghèo túng.

Trong khi ấy, khả năng quản lý kinh tế của lãnh đạo tại Việt Nam còn quá thô thiển nên khó chống đỡ nổi những hiệu ứng từ quốc tế dội vào. Thí dụ nổi bật là cách giải từ lạm phát quá kém và lãi suất ngân hàng vẫn được duy trì quá thấp trong hệ thống tài chính còn quá nhiều bấp bênh và bội chi ngân sách quá lớn. Nếu năm 2007 là năm hồ hởi cho Việt Nam nhờ viễn ảnh hội nhập vào kinh tế toàn cầu thì năm 2008 sẽ là năm thử thách cho lãnh đạo kinh tế khi kinh tế toàn cầu bị sóng gió. Nhiều trường hợp hồ hởi sẽ biến ra bẽ bàng, thị trường chứng khoán bị rất nhiều bất trắc và trái bóng gia cư hay đất đai có thể sẽ bể vào cuối năm.

Nhưng 64 năm sau (1960-2024), đảng đã thoái hóa, biến chất. Đảng viên thì tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống tự diễn biến và tự chuyển hóa, bài bác Chủ nghĩa Mác-Lênin và cả “tư tưởng Hồ Chí Minh” nữa...
Một tuần sau, sau khi dư luận nổi sóng về phát biểu của thiếu niên Chu Ngọc Quang Vinh (“tôi coi đảng như một thế lực xấu chỉ biết lừa gạt dân”) tạm lắng – hôm 7 tháng 9 vừa qua – nhà văn Phạm Đình Trọng kết luận: “Sự việc cho thấy người dân, nhất là thế hệ trẻ đã có nhận thức sâu sắc về pháp luật, có ý thức về sự có mặt của cá nhân trong cuộc đời, trong xã hội”.
Nội dung phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngày 27/08/2024 về đường lối khóa đảng XIV cho thấy ông không dám đi ra khỏi quỹ đạo một người Cộng sản bảo thủ để được tồn tại...
Kamala nhắc lại Donald Trump đã cảm ơn Tổng Thống Tập Cận Bình về những gì ông ta đã làm trong thời gian đại dịch COVID. Bà nhớ cả nội dung Trump đã viết trên Twitter: “Thank you, President Xi” và đọc lại cho chục triệu người dân Mỹ đang xem màn hình. “Khi chúng ta biết rằng Tập Cận Bình phải chịu trách nhiệm vì không cung cấp và cung cấp không đầy đủ cho chúng ta sự minh bạch về nguồn gốc của COVID.” Kamala nhắc lại cả việc Donald Trump đã mời Taliban đến David Camp, “là một nơi có ý nghĩa lịch sử đối với chúng ta, với tư cách là những người Mỹ, một nơi mà chúng ta tôn vinh tầm quan trọng của ngoại giao Hoa Kỳ, nơi chúng ta mời và tiếp đón các nhà lãnh đạo thế giới được kính trọng. Và cựu tổng thống này với tư cách là tổng thống đã mời họ đến David Camp vì ông ta, một lần nữa, không biết tầm quan trọng và trách nhiệm của tổng thống Hoa Kỳ. Và điều này quay trở lại vấn đề ông ta đã liên tục hạ thấp và coi thường các quân nhân của chúng ta, những người lính đã hy sinh...
Từ ngày nước Mỹ lập quốc, chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại bị đối thủ mang ra mổ xẻ, tấn công với những lời lẽ không phù hợp với tư cách một người tranh cử vị trí lãnh đạo quốc gia. Nhưng ngược lại, cũng chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại trở thành niềm hy vọng cho một đất nước đang đối đầu với mối nguy hiểm “duy nhất suốt 248 năm” (theo lời cựu Phó Tổng Thống Dick Chenny.) Đó là nụ cười của Kamala Harris – Một nụ cười đang ngày càng thay hình đổi dạng cuộc tranh cử tổng thống kinh điển của nước Mỹ.
Cựu Tổng Thống Donald Trump đã trình bầy kế hoạch kinh tế của ông tại Economic Club of New York trước đám đông các kinh tế gia, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà báo vào 5-9-2024 vừa qua. Buổi nói chuyện này nằm trong chiến dịch tranh cử. Kế hoạch kinh tế trong nhiệm kỳ 2 nếu ông thắng cử bao gồm nhiều chính sách mà ông đã thi hành trong bốn năm đầu cầm quyền. Ông tuyên bố sẽ loại bỏ nhiều chương trình của chính quyền Biden. Ứng cử viên tổng thống của Cộng Hòa quảng cáo chương trình của ông với thuế nội địa thấp, thuế nhập cảng cao chưa từng thấy, giảm bớt luật lệ, và kinh tế phát triển mạnh. Nhưng nhiều chuyên viên đã nghi ngờ giá trị của chương trình kinh tế này. Nhiều người đã lên tiếng chỉ trích đề xuất kinh tế của Trump như chúng ta sẽ thấy trong những phần dưới đây của bài báo này.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 sắp tới không chỉ định hình tương lai chính trị của quốc gia trong vài năm tới mà còn đặt ra những câu hỏi căn bản về bản sắc và tương lai của chính nước Mỹ. Trong khi kết quả bầu cử sẽ quyết định nhiều vấn đề quan trọng, những xung đột sâu sắc về bản chất của nước Mỹ đã được phản ảnh rõ nét qua đường lối, chính sách nêu ra tại hai đại hội Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vừa qua.
Tôi đã xem qua cả trăm bài viết với với nội dung và ngôn từ (“đầu đường xó chợ”) tương tự nhưng chưa bao giờ bận tâm hay phiền hà gì sất. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, các bạn DLV đều không quen cầm bút nên viết lách hơi bị khó khăn, và vô cùng khó đọc. Họ hoàn toàn không có khái niệm chi về câu cú và văn phạm cả nên hành văn lủng củng, vụng về, dài dòng, lan man trích dẫn đủ thứ nghị quyết (vớ vẩn) để chứng minh là đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn luôn đúng đắn. Họ cũng sẵn sàng thóa mạ bất cứ ai không “nhận thức được sự đúng đắn” này, chứ không thể lập luận hay phản bác bất cứ một cáo buộc nào ráo trọi.
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.