Hôm nay,  

Cha Mike (Father Mike)

15/10/201100:00:00(Xem: 8066)
Cha Mike (Father Mike)

Linh Mục Anphong Trần Đức Phương sưu tầm
Cha Mike Judge là một trong những người “Lính Cứu Hỏa” đã hy sinh mạng sống trong cuộc khủng bố 9/11/2001, và năm nay là giỗ 10 năm ngày Cha qua đời. Trong 10 năm qua, đã có nhiều bài báo và cuốn sách viết khá đầy đủ về cuộc sống của Cha. Sau đây chúng tôi xin tóm lược một số điểm chính.
Những người lính cứu hỏa và những người quen biết Cha thường gọi Cha một cách thân mật là “Cha Mike” hay “Cha Mychal.”
Cha Mike sinh ngày 11 tháng Năm, 1933. Ngày sinh nhật của Cha vào đời sống cũng trùng với ngày sinh nhật của Cha vào nước Trời: ngày 11/9/2001. Cha sinh ra ở Brooklyn (New York) với tên đầy đủ là Robert Emmet Judge. Cha sinh ra vào thời kỳ “Đại Suy Thóai” (Great Depression), gia đình phải sống trong hoàn cảnh rất nghèo khó. Suốt đời của Cha phải sống giữa những người nghèo khó mà Cha rất quý mến và yêu thương phục vụ họ. Khi còn nhỏ, dù trong túi chỉ có một đồng “quarter” cha vẫn lấy để tặng người ngồi ăn xin bên vệ đường.
Ba của Cha Mike chết khi Cha mới có 6 tuổi. Ông cụ chết sau những ngày bịnh hoạn lâu dài. Cuộc đời nghèo khó, bây giờ lại nghèo khó hơn. Có thời gian Cha phải đi đánh giầy ở ngoài đường phố. Tuy nhiên Cha vẫn cố gắng để đi học và cố gắng sống đời sống đạo đức. Sau đó, Cha cảm thấy được ơn Chúa gọi “đi tu”. Sau khi cầu nguyện và bàn hỏi với Cha Linh Hướng, Cha đã quyết định xin vào dòng Phanxicô khó nghèo lúc 15 tuổi (năm 1948) và sau một thời gian dài học hỏi và tu luyện, Cha đã được chịu chức Linh Mục vào ngày 25/2/1961, lúc 28 tuổi.
Sau khi chịu chức Linh Mục Cha đã được chỉ định giữ nhiều chức vụ khác nhau ở vùng New York. Dù ở chức vụ nào, Cha Mike cũng cố gắng noi gương Chúa Giêsu qua cuộc đời Thánh Phanxicô khó nghèo, dấn thân chu toàn nhiệm vụ, hăng say giúp đỡ những người nghèo khó, không nhà cửa, nghiện ngập, bịnh hoạn, những di dân mới đến Hoa Kỳ. Ngoài ra Cha vẫn dành nhiều thời giờ để cầu nguyện và thánh hóa bản thân; vì thế những người được tiếp xúc với Cha, cảm thấy như được tiếp xúc với một con người khiêm tốn, đạo đức và rất dễ thương,và họ thường coi Cha Mike như một “vị thánh sống.”

Năm 1992 Cha Mike được chỉ định làm Tuyên Úy cho Nha Cứu Hỏa New York. Từ đó Cha đã dành nhiều thời giờ để đến với những người lính cứu hỏa và gia đình họ, không phải chỉ như một vị Tuyên Úy; nhưng còn như người bạn và ân nhân của họ; giúp đỡ họ bất cứ lúc nào khi cần đến với tất cả tình yêu thương. Sáng ngày 11/9/2001 (vào khoảng gần 10g00), ngay khi những chiếc máy bay đâm vào tòa Tháp Đôi, Cha đã cùng những người lính cứu hỏa chạy vào tòa nhà đang cháy và sắp sụp đổ, để cứu các nạn nhân và ban “phép Xức Dầu Thánh và các nghi thức cuối cùng” cho những người Công Giáo đang hấp hối. Khi Cha đang vội vàng chạy vào Tòa Tháp Đôi, ông Thị Trưởng New York (lúc đó là Rudy Giuliani) nhìn thấy Cha, vội vàng kêu to: “Cha Mike, xin Cha cầu nguyện cho chúng con với!” Cha trả lời : “Có chứ, tôi vẫn hằng cầu nguyện cho quý vị…” Cha Mike chạy vào Tòa Tháp Đôi được một lúc lâu, thì Cha đi ra; nhưng Cha không còn đi bằng đôi chân của mình nữa; những người lính cứu hỏa đã khiêng Cha ra; vì Cha không còn sống nữa…Những viên đá đã đổ xuống và đập vào đầu của Cha, và Cha đã hy sinh mạng sống khi thi hành chức vụ Linh Mục của mình. Vì quá gấp rút không thể kiếm ngay được một Linh Mục để ban các phép cuối cùng cho Cha, chính những người lính cứu hỏa đã quỳ xuống để cầu nguyện cho Cha.”
Thánh lễ an táng để cầu nguyện cho Cha Mike được tổ chức vào ngày 15/9/2001, tại Thánh Đường Thánh Phanxicô vùng Manhattan. Chính Đức Hồng Y Eward Egan chủ tế với nhiều linh mục đồng tế, hơn 3,000 người dự Lễ, trong đó có nhiều viên chức cao cấp chính phủ, kể cả cựu Tổng thống Bill Clinton, và những người lính cứu hỏa thân yêu của Cha. Nhiều người đã khóc thương Cha Mike và coi Ngài như “vị Thánh ngày 9/11” và nhắc lại lời nói của Ông thị trưởng New York lúc đó (Rudy Giuliani) “Xin Cha về với Chúa, cầu nguyện cho chúng con với…”
Lạy Chúa nhân từ, “xin cho Linh hồn Cha Mike được nghĩ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên Linh Hồn ấy.”
Và xin Chúa ban ơn thánh hóa các chủ chăn và các Linh Mục của Chúa, cho các Ngài, “sau khi đã mặc lấy Chúa, nên giống Chúa mọi đàng, bởi noi gương các nhân đức đấng tôn thờ của Chúa…. Nhân danh Chúa và nhờ các Linh Mục của Chúa, xin Chúa lại đi qua giữa thế gian mà giảng dạy, mà tha thứ, mà yên ủi, mà tế lễ, mà nối lại mối dây của tình yêu Thiên Chúa kết hợp với loài người. Amen”

Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
Trong một thế giới vẫn còn chìm trong tiếng súng của các cuộc chiến ở Ukraine, Gaza, Iran và nhiều nơi khác, Giải Nobel Hòa bình năm 2026 mang một ý nghĩa vượt xa khuôn khổ của một danh hiệu quốc tế. Bên cạnh ý nghĩa tôn vinh những cá nhân hay tổ chức đã góp sức cho hòa bình, cũng là lời nhắc nhở rằng sinh mạng người, nhân phẩm, lòng từ bi và sự thật vẫn có giá trị ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của nhân loại. Khi chiến tranh thường ca ngợi sức mạnh của vũ khí, Nobel Hòa bình hướng sự chú ý của thế giới đến sức mạnh của lòng từ bi: những bác sĩ cứu chữa bệnh nhân giữa bom đạn, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người dám lên tiếng cho công lý và những cộng đồng không từ bỏ hy vọng. Giải thưởng có ý nghĩa rằng hòa bình không chỉ là sự chấm dứt chiến tranh, mà còn là sự bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền được tồn tại của mọi con người.
Tối 5/10, tại một cuộc mít tinh ở Grand Island, Nebraska, Donald Trump đã nói một câu mà chưa người tiền nhiệm nào của ông từng nói. Trump biện hộ cho giá năng lượng tăng vì cuộc chiến với Iran, gọi đó là cái giá nhỏ để giữ an toàn cho nước Mỹ và thế giới. Chưa thỏa mãn với lời biện hộ, Trump nói Iran có thể xóa sổ một thành phố, vậy thì “hãy để họ xóa sổ Los Angeles đi; hãy để họ xóa sổ San Diego đi. Đó vẫn là một cái giá rất nhỏ và chiến tranh sẽ sớm kết thúc.” Đám đông ủng hộ vỗ tay kèm những tiếng reo hò. Họ là những người đang mặc áo tô điểm bằng quốc kỳ, đội nón đỏ MAGA.
Người ta thường nói, giữ cơ nghiệp đã khó, giữ gia phong còn khó hơn. Trong chính trị cũng vậy. Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi thắng lại; có thể theo đuổi một chính sách sai lầm rồi sửa đổi; thậm chí có thể trải qua một thời kỳ suy yếu rồi vẫn có thể phục hồi. Nhưng khi một chính đảng bắt đầu đánh đổi những tiêu chuẩn từng làm nên danh nghĩa và uy tín của mình để đạt lợi ích trước mắt, cái mất đi là danh dự — thứ không thể tính bằng quyền hay bằng tiền.
Theo một cuộc thăm dò mới của Reuters/Ipsos công bố hôm thứ Hai, 21/9, tỷ lệ ủng hộ dành cho Donald Trump đã giảm xuống còn 32%, mức thấp nhất trong sự nghiệp chính trị của ông ta. Trong lúc đó, các thành viên cùng đảng Cộng Hòa tỏ ra bất bình trước cách Trump xử lý vấn đề chi phí sinh hoạt trong bối cảnh cuộc chiến tại Iran vấp phải sự phản đối của công chúng. Tom Nichols của The Atlantic chỉ rõ hơn mức độ ủng hộ dành cho Trump hiện đang dao động quanh “tầng số” của George W. Bush trong nhiệm kỳ hai, và thậm chí có nguy cơ tụt xuống mức thấp kỷ lục như thời kỳ cuối nhiệm kỳ của Richard Nixon. Đất nước và chính quyền của tổng thống thứ 47 thuộc đảng Cộng Hòa đang gặp khó khăn trên mọi phương diện.
Án tử hình là một phần của lịch sử Hoa Kỳ từ thời thuộc địa. Vụ hành quyết đầu tiên xảy ra ở Jamestown, Virginia, năm 1608. Trong thời kỳ đầu, án tử hình áp dụng cho rất nhiều tội danh, không chỉ giết người. Sang thế kỷ XIX, các tiểu bang bắt đầu thu hẹp phạm vi tội danh bị xử tử và chuyển các cuộc hành quyết từ nơi công cộng vào nhà tù.
Trump có thể chi một triệu đô la để van nài "Love Me.” Trump có thể phát nó trong các trận bóng bầu dục ngày Chủ nhật và vào tối thứ Bảy. Ông có thể dùng tiền thuế của dân để trả, nhưng Trump có thể khiến quốc gia “Love Me” hay không, đó là chuyện không nằm trong con số tài chính. Nước Mỹ “mua” nền Dân chủ bằng xương máu của tiền nhân, nó không thể bị rao bán. Tình yêu của những hậu bối cũng thế.
Nhìn chung, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức về chất lượng, công bằng trong tiếp cận giáo dục, áp lực học tập và thi cử, nguồn lực, quản trị nhà trường, cũng như khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ...
Một ngày của tháng Chín, khi mùa bầu cử giữa nhiệm kỳ chỉ còn chừng sáu tuần lễ, tờ New York Times công bố bài phỏng vấn độc quyền với Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez (AOC), thuộc đảng Dân Chủ, New York. Cô phát biểu một câu, nghe không giống khẩu hiệu tranh cử, mà giống như kể lại lời người mẹ tâm sự với cô con gái đang bối rối trước một quyết định quan trọng của cuộc đời. “Có ý kiến cho rằng đây là một thời điểm chính trị vô cùng đặc biệt, và trong chính trị, thường thì ta chỉ có duy nhất một cơ hội,” AOC nói. “Và cũng như trong cuộc sống nói chung vậy, cuộc đời sẽ không chờ đợi cho đến khi bạn sẵn sàng mọi thứ thì sự việc mới diễn ra. Đôi khi, chính cuộc đời sẽ tự sắp đặt mọi thứ để kiến tạo sẵn sàng cho bạn.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.