Hôm nay,  

Định Mệnh

08/11/201200:00:00(Xem: 20817)
(Trích Quê Hương Còn Đó trong Tuyển Tập Trần Phong Vũ do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành và sẽ được tổ chức giới thiệu ở Trung Tậm Công Giáo Việt Nam Giáo phận Orange lúc 2 giờ chiều Chúa Nhật 11-11-2012.)

- Ông nói chi mô lạ rứa?

Nguyễn lặng người. Âm vang của những-ngày-xưa-thân-ái bên giòng Hương Giang, dưới chân Núi Ngự, trên những con đường mòn quanh co như bày rắn dẫn lên những đồi thông hoặc vào khu lăng tẩm cổ kính rêu phong của những bậc Đế Vương Triều Nguyễn… trong một giây –cùng với giọng nói ngọt ngào thánh thót của người con gái trước mặt- lãng đãng hiện về trong tâm tưởng anh.

- Xin lỗi cô. Cô là người Huế ạ?

- Dạ. Còn ông, chắc ông là người Hànội phải không ạ?

Nguyễn nhận ra trong câu trả lời của người đối diện một vẻ diễu cợt cố tình. Nàng nhấn mạnh tiếng ạ ở cuối câu cho có vẻ Bắc, nhưng vẫn không che giấu được cái âm sắc đặc biệt trong giọng nói của người con gái đất Thần kinh.

- Dạ, cô nói đúng nhưng chỉ đúng có một nửa thôi.

- Ủa! Ông nói chi mô lạ rứa? Trúng mà chỉ trúng có một nửa là răng tề?

- Dạ. Thưa cô, vì thực tế tôi chỉ sống ở Hànội đến năm 18 tuổi và sau đó tiếp tục sống ở Sàigòn, ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Quảng Trị… và ở Huế nữa.

Người con gái lạ mỉm cười vu vơ. Nàng ngước mắt nhìn lên tàn cây cao. Qua nàng, Nguyễn như thấy lại một nhân dáng quen thuộc, nhưng nhất thời chưa nhận ra. Ẩn sâu sau cặp mắt mở lớn, đen láy, có hàng mi dài cong vút của nàng anh thoáng thấy hình ảnh giòng Hương Giang trong một đêm trăng huyền hoặc thuở nào.

Ký ức chập chờn, lãng đãng, lẩn khuất đâu đây như một làn khói mơ hồ.

- Người ta nói con gái Huế lãng mạn. Nguyễn, anh có nghĩ rứa không hỉ?

Nguyễn cúi xuống. Anh nhìn thật sâu vào đôi mắt Trà Giang. Đôi mắt sáng, trong như giòng sông phản chiếu ánh trăng thu.

- Trước khi trả lời câu hỏi của Giang, anh muốn biết em hiểu thế nào về hai chữ lãng mạn?

Một thoáng bối rối, Trà Giang chớp nhanh đôi mắt, dáng suy nghĩ. Một thoáng hồng e thẹn trên gò má, nàng ấp úng.

- Lãng mạn là… là… anh hỏi chi mô ác rứa? Giang trả lời bậy đừng cười nghe anh.

Nguyễn gật đầu, mỉm cười nhìn người yêu chăm chú.

- Lãng mạn là… là không đứng đắn… là đa tình… là ưa chuyện trai gái… là như Giang đây nè…

Trà Giang vươn đôi cánh tay trần, trắng, tròn lẳn, mát lạnh, bá cổ Nguyễn vít xuống, cuồng nhiệt hôn lên môi lên mắt chàng.

Nguyễn mỉm cười, nhẹ lắc đầu, hôn trả lại lên vầng trán rịn mồ hôi của người yêu.

- Định nghĩa của em có thể đúng, nhưng chỉ đúng ở khía cạnh hẹp và thấp nhất của từ lãng mạn. Theo anh, lãng mạn là một đặc tính, một hành vi vượt lên trên và ra ngoài khuôn khổ thông thường, không giống với lối nhìn, lối nghĩ, lối nhận, lối phản ứng của những người có tầm hiểu biết trung bình. Như thế, lãng mạn đâu có gì là xấu, là đáng trách. Anh nhớ một nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết nào đó đã hết lời biện hộ cho cái lãng mạn của người con gái Huế đại khái như sau. Nếu bảo rằng lãng mạn là một tội, một điều xấu xa đi nữa thì người phụ nữ Huế -bao gồm những người bị dư luận gán cho là lãng mạn- cũng không hề mang tội hoặc mang một điều xấu nào hết. Chính cái đẹp, cái thơ mộng muôn đời, bất tuyệt của cảnh trí nơi đây đã góp phần làm nên cái chất lãng mạn nơi người đàn bà.. Như thế, dù là ai chăng nữa, nếu có dịp sống ở Huế, thở hít bầu không khí nên thơ, diệu hoặc của Huế đều trở nên lãng mạn cả.

Lồng vội mười ngón tay ngà ngọc lên sóng tóc bồng bềnh của Nguyễn, Trà Giang rướn người tham lam vít đầu người yêu xuống hôn như điên như dại.

- Tư ơi! Tới giờ đi sắp hàng lãnh phần ăn rồi con.

Tiếng réo gọi chát chúa của người đàn bà vọng lên đâu đó. Ký ức chắp cánh bay xa. Nguyễn như bừng tỉnh, Anh ngước đôi mắt thất thần, trì độn nhìn ngơ ngác. Người con gái lạ nói giọng Huế đã bỏ đi từ lúc nào. Nguyễn tự giận mình đãng trí và không khỏi luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội không hỏi tên và nơi trú ngụ của gia đình nàng trong trại. Từ trong thâm tâm, Nguyễn vừa nhen nhúm một niềm hy vọng mong manh. Biết đâu người thiếu nữa lạ vừa rồi chẳng giúp anh biết đôi chút tin tức về Trà Giang.. Đưa mắt nhìn hàng trăm căn lều vải san sát đàng trước mặt đàng sau lưng, nơi tạm trú của hàng mấy chục ngàn bà con tị nạn, Nguyễn không giấu được cảm nghĩ chán chường, tuyệt vọng. Anh tự giận mình và loay hoay hoài với câu hỏi: làm sao và bằng cách nào tìm ra tông tích người con gái lạ có giọng nói xứ Huế vừa qua?

Gia đình Nguyễn đặt chân lên trại tị nạn Guam từ hơn một tuần nay. Anh xót xa nhớ lại những ngày chật vật, khốn khổ, chen chúc như bày súc vật trên con tàu chở tới trên 9000 nhân mạng. Và bây giờ là những buổi trưa chiều nối đuôi nhau đi xếp hàng lãnh phần ăn. Quá khứ tối đen! Hiện tại buồn chán, và tương lai mù mịt!

Thêm một tuần lễ nữa trôi nhanh. Bóng dáng người thiếu nữ lạ vẫn tuyệt mù tăm cá! Liên tiếp trong nhiều ngày, anh đã lê la tìm tới những lớp học anh văn, những phòng phát thuốc, những căn lều được dùng làm nhà thờ dành cho đồng bào Công Giáo, hoặc chùa của bà con Phật tử, kể cả các khu nhà ăn và văn phòng làm việc của ban quản trị trại, hy vọng gặp lại nàng nhưng hoàn toàn vô vọng. Một buổi chiều gia đình anh được lệnh lên xe buýt di chuyển tới một trại tạm cư khác trước khi hoàn tất thủ tục lên phi cơ vào lục địa Hoa Kỳ.

Nguyễn nối gót bà con đồng hương bước lên phi cơ mà nghe lòng mình đau xót. Ý niệm về sự gần gũi tương đối trong không gian cũng như khí hậu quen thuộc của đảo Guam dù sao cũng có lúc đánh lừa được Nguyễn là anh chưa hoàn toàn bị bứt lìa ra khỏi vùng trời quê hương yêu dấu. Nhưng giây phút này, khi biết rằng mình sắp sửa được người ta đưa đi định cư ở bang California thuộc miền tây Mỹ Quốc, Nguyễn bắt đầu cảm nhận được tất cả những mất mát to lớn trong anh.

Chiếc máy bay nhẹ nhàng rời phi đạo bốc lên trời cao. Nguyễn dán mắt vào chiếc cửa sổ hình bầu dục. Anh nhìn lại Guam tiếc nuối như nhìn lại một Hà Tiên, một Phú Quốc những ngày cuối tháng Tư khốn khổ. Cho tới lúc Guam chỉ còn là một chấm nhỏ rồi mất hút giữa đại dương mù mịt. Màu xanh của nước biển, màu xanh của nền trời đưa đẩy trí tưởng tượng của Nguyễn trở về với màu xanh bạt ngàn của một khu rừng thông vào một buổi chiều trên đồi Thiên An thuở trước.

Những đọt thông xanh ngắt, chen chúc phủ kín cả một vùng núi đồi mênh mông, nhấp nhô lên xuống. Nguyễn dìu Trà Giang men theo con đường mòn quanh co dẫn lên đỉnh cao. Mặc dầu mệt, Trà Giang vẫn lảnh lót nói cười luôn miệng. Những sợi tóc đen dài, mềm mại dính quện trên vừng trán phẳng rịn những giọt mồ hôi lấm tấm của nàng. Nguyễn ngừng lại đắm mắt nhìn người yêu. Trà Giang cất tiếng cười trong veo, tinh nghịch trấy những trái thông khô ném lên đầu Nguyễn. Quơ tay che mặt, anh lao người về phía trước ôm gọn người yêu vào lòng. Nguyễn nâng cầm người yêu, nhìn thẳng vào cặp mắt đam mê của nàng. Anh cúi xuống mải mê hôn lên đôi môi mọng chín của người con gái đất Thần Kinh. Có tiếng chim vỗ cánh xào xạc đâu đó. Hai người rời nhau. Trà Giang đảo mắt nhìn nhớn nhác.


- Có ai mô mà o có dáng sợ hãi rứa?

Trà Giang nhìn lại Nguyễn, Hóm hỉnh nhái giọng Bắc.

- Có chứ tại sao không? Bộ anh không thấy có anh, có Giang, có trời, có đất, có cỏ cây, đồi núi đó sao?

Nói xong nàng cất tiếng cười vang động cả một vùng đồi núi rồi chạy mất hút vào khu rừng thông phía sau đồi. Còn lại một mình, Nguyễn bâng khuâng nhớ lại ngày đầu tiên gặp Trà Giang trong phái đoàn sinh viên đại học Huế đi ủy lạo đơn vị anh đang trấn đóng ở một vùng giáp ranh Bến Hải. Và hình ảnh người nữ sinh viên trong bộ áo dài đen với dáng dấp e thẹn, với hàng mi dài cong vút, với cặp mắt sáng đam mê ấy đã mê hoặc Nguyễn. Và cũng từ đấy, Huế đã trở thành một khối từ thạch thu hút tâm hồn và trí não người lính Bắc đa tình là Nguyễn. Những ngày nghỉ phép hiếm hoi, ngắn ngủi của anh đã biến thành kỷ niệm bên những ly chè Cồn Hến, những đĩa bánh bèo, bánh lá Vĩ Dạ, cùng những buổi rong chơi hò hẹn bên bờ sông Hương hoặc trên những con đường mòn dẫn vào lăng mộ các vua triều Nguyễn.

Sau chuyến đi chơi đồi Thiên An hôm ấy, vì chiến cuộc trở nên căng thẳng bất ngờ, đơn vị anh liên tiếp phải di chuyển nên Nguyễn không còn có cơ hội trở về Huế thăm gặp Trà Giang. Anh không ngờ rằng đấy là chuyến đi chơi cuối cùng của hai người.

Mặt trận cực bắc tan vỡ. Nguyễn theo đơn vị rút vào Đà Nẵng. Khi đoàn xe di chuyển qua cầu Trường Tiền, anh xót xa chứng kiến cảnh tan hoang náo loạn của cố đô với từng đoàn người hốt hoàng, lũ lướt bồng bế nhau tất tả xuôi nam. Lòng đau như cắt, Nguyễn không làm cách nào liên lạc được với người yêu. Rồi những ngày tháng Tư định mệnh chụp xuống như một cơn lốc kinh hoàng đã tàn nhẫn đẩy anh ra khỏi vùng trời quê hương không một chọn lựa!

Đang bay thật đầm, bỗng dưng gặp khoảng chân không, phi cơ trút xuống thật sâu, khiến đám hành khách hầu hết là dân tị nạn la lên hốt hoảng. Nguyễn nhìn qua khung kính. Từng tảng mây trắng lơ lửng lưng trời. Âm hưởng bốn câu thơ ngày nào Trà Giang kẹp bào cuốn sách gửi cho anh với cánh hoa màu tím lại vang lên bên tai Nguyễn.

Tôi trở lại con đường lên núi biếc,
Thương mây bay từ đấy vẫn cô đơn
Những bông hoa còn có nửa linh hồn,
Những lá cỏ xôn xao tìm ảo mộng!

- Giờ thì hết, hết thật rồi Trà Giang ạ. Những con đường xưa, những áng mây cũ, những rặng thông, những cỏ hoa tươi thắm thuở nào chỉ còn là những kỷ niệm buồn trong anh mà thôi.

Mảnh trăng lưỡi liềm nhô lên sau rặng dừa bên kia bờ nước. Nguyễn ngồi lặng câm, mặc cho những sợi tóc của Linda vờn nhẹ trên má, trên cổ anh.

- Tại sao mỗi lần ngồi ngắm trăng khuya anh lại có vẻ buồn và xa vắng như vậy hả Nguyễn?

Dựa đầu vào vai Nguyễn, Linhda nhướng mắt hỏi anh lần thứ hai.

- Linhda thấy anh buồn và xa vắng lắm sao? Có lẽ đấy là một thói quen xấu. Chính anh cũng không hiểu tại sao nữa.

- Thôi quên đi cưng.

Nói xong Linda rướn người lên, vươn đôi tay dài ôm Nguyễn hôn say đắm. Nguyễn cuồng nhiệt hôn trả lại.

Trong môi hôn anh nghe trong đầu có tiếng Trà Giang thì thầm. Nguyễn muốn trốn chạy Giang nhưng anh không thể trốn được định mệnh. Em nói đúng Trà Giang à. Và chúng mình đã bị định mệnh cột chặt bên nhau vào một đêm trăng huyền hoặc nơi cố đô muôn đời thơ mộng. Anh yêu em Trà Giang ơi!

Linda đẩy mạnh Nguyễn ra xa rồi bật đứng dậy cất tiếng cười như xé lụa.

- Anh này lạ. Lúc thì giá lạnh như tảng băng miền Bắc cực. Khi thì cuồng say như con thú khát tình. Anh cắn môi Linda muốn đứt rồi nè.

Đang nói bỗng dưng Linda im bặt khi nhận ra vẻ mặt ngơ ngác, thất thần của Nguyễn. Nàng bước tới ôm anh dìu đứng dậy.
- Thôi khuya rồi. Mình về phòng nghe cưng.

Nhịp thở của Linda vang lên đều đặn. Nguyễn nhẹ nhàng ngồi dậy, cố gắng không gây một tiếng động. Anh đứng lên, với tay cầm bao thuốc và chiếc hộp quẹt trên bàn ngủ rối lách mình ra ban công châm hút. Những ý nghĩ âm thầm dựng lên trong trí Nguyễn. Bốn tháng ở trại tạm cư Indian Town Gap, Pennsylvania. Một năm theo chân người bảo trợ lưu lạc miền băng giá Alaska. Và bây giờ sống tạm bợ bên một cô gái Mỹ hoàn toàn khác biệt về mọi phương diện, từ những rung động thể xác cho tới những xúc cảm của tâm hồn. Chưa bao giờ anh cảm thấy sự cô đơn lớn rộng vây bủa con người và trí tưởng anh bằng lúc này.

Tiếng chuông đĩện thoại trong phòng reo lên từng nhịp. Linda trở mình, ú ớ. Nguyễn dụi tàn thuốc lá, lách vội vào phòng. Anh áp ống nghe vào tai. Từ bên kia đầu giây, giọng hối hả, giục giã của một người đàn bà Huế vang lên.

- Có phải ông là ông Nguyễn không? Xin ông tới lẹ không trễ mất. Chị Trà Giang tôi muốn gặp ông lần cuối. Chúng tôi đang ở bệnh viện…. số ….. đường…..

Nguyễn bàng hoàng, chết lặng trong giây lâu. Anh nghe có tiếng nấc ở bên kia đầu giây nói. Mặc những lời cật vấn của Linda, Nguyễn lẳng lặng mặc quấn áo, mang giầy rồi tất tả ra xe.

Khoảng 15 phút sau, Nguyễn bước vào phòng chờ trước khu cấp cứu của bệnh viện. Một người thiếu phụ đầu tóc bơ phờ, dáng dấp mệt mỏi từ hàng ghế bên kia đi tới. Nàng khóc nấc khi đứng trước mặt Nguyễn.

- Ông tới trễ mất rồi. Chị Trà Giang không còn nữa. Chị tui kêu tên ông hoài hoài trước khi nhắm mắt.

Mặt đất tưởng chừng rạn vỡ dưới chân Nguyễn. Người thiếu phụ vẫn tiếp tục kể lể, giọng đầy nước mắt.

- Gặp ông ở Guam, tui đâu có dè ông là bạn của chị Giang. Ngay buổi chiều hôm ấy chị em tui rời trại Ô-Rốt qua A-San ở một tuần để làm thủ tục trước khi được đưa vào lục địa Mỹ. Chúng tui ở trại Fort Chaffee, Arkansas hai tháng thì xuất trại theo người bảo trợ đi định cư ở bang Iowa. Cách đây một tuần, tình cờ chị tui đọc báo và nhận được tin ông rao tìm. Chị tui mừng quýnh. Mặc dầu chưa kịp bán nhà, bán đồ đạc nhưng chị Giang nhất quyết qua gặp ông ngay. Tui hối chị biên thư hoặc kêu điện thoại báo tin ông hay nhưng chị tui không chịu vì muốn dành cho ông sự bất ngờ. Ai dè tai nạn đã bất ngờ xảy ra. Bây giờ thì thật hết rồi. Khổ thân chị tui!!!…

Với cặp mắt đẫm lệ, người con gái nhìn Nguyễn giọng thì thầm như nói với chính mình.

- Nhờ mẩu tin tìm người thân trên báo, ông nhắc lại cuộc gặp gỡ tình cờ ở Guam tôi mới hay ông là bạn chị Trà Giang. Thật đáng tiếc, nếu…

Nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của Trà Giang, lòng Nguyễn như dao cắt.

- Tại sao gặp anh mà em không nói với anh một lời hả Trà Giang? Em nói đúng Giang ạ. Anh đã không trốn khỏi bàn tay của định mệnh. Ngày xưa –những-ngày-xưa-thân-ái- có lần anh muốn trốn chạy em, nhưng định mệnh đã cột anh lại bên em. Chừ đây, chúng mình muốn tìm tới bên nhau thì định mệnh quái ác lại đẩy chúng ta xa nhau. Xa nhau vĩnh viễn.

Overland Park, Kansas, những ngày cuối thu 1977
Trần Phong Vũ

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.