Hôm nay,  

Định Mệnh

08/11/201200:00:00(Xem: 20630)
(Trích Quê Hương Còn Đó trong Tuyển Tập Trần Phong Vũ do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành và sẽ được tổ chức giới thiệu ở Trung Tậm Công Giáo Việt Nam Giáo phận Orange lúc 2 giờ chiều Chúa Nhật 11-11-2012.)

- Ông nói chi mô lạ rứa?

Nguyễn lặng người. Âm vang của những-ngày-xưa-thân-ái bên giòng Hương Giang, dưới chân Núi Ngự, trên những con đường mòn quanh co như bày rắn dẫn lên những đồi thông hoặc vào khu lăng tẩm cổ kính rêu phong của những bậc Đế Vương Triều Nguyễn… trong một giây –cùng với giọng nói ngọt ngào thánh thót của người con gái trước mặt- lãng đãng hiện về trong tâm tưởng anh.

- Xin lỗi cô. Cô là người Huế ạ?

- Dạ. Còn ông, chắc ông là người Hànội phải không ạ?

Nguyễn nhận ra trong câu trả lời của người đối diện một vẻ diễu cợt cố tình. Nàng nhấn mạnh tiếng ạ ở cuối câu cho có vẻ Bắc, nhưng vẫn không che giấu được cái âm sắc đặc biệt trong giọng nói của người con gái đất Thần kinh.

- Dạ, cô nói đúng nhưng chỉ đúng có một nửa thôi.

- Ủa! Ông nói chi mô lạ rứa? Trúng mà chỉ trúng có một nửa là răng tề?

- Dạ. Thưa cô, vì thực tế tôi chỉ sống ở Hànội đến năm 18 tuổi và sau đó tiếp tục sống ở Sàigòn, ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Quảng Trị… và ở Huế nữa.

Người con gái lạ mỉm cười vu vơ. Nàng ngước mắt nhìn lên tàn cây cao. Qua nàng, Nguyễn như thấy lại một nhân dáng quen thuộc, nhưng nhất thời chưa nhận ra. Ẩn sâu sau cặp mắt mở lớn, đen láy, có hàng mi dài cong vút của nàng anh thoáng thấy hình ảnh giòng Hương Giang trong một đêm trăng huyền hoặc thuở nào.

Ký ức chập chờn, lãng đãng, lẩn khuất đâu đây như một làn khói mơ hồ.

- Người ta nói con gái Huế lãng mạn. Nguyễn, anh có nghĩ rứa không hỉ?

Nguyễn cúi xuống. Anh nhìn thật sâu vào đôi mắt Trà Giang. Đôi mắt sáng, trong như giòng sông phản chiếu ánh trăng thu.

- Trước khi trả lời câu hỏi của Giang, anh muốn biết em hiểu thế nào về hai chữ lãng mạn?

Một thoáng bối rối, Trà Giang chớp nhanh đôi mắt, dáng suy nghĩ. Một thoáng hồng e thẹn trên gò má, nàng ấp úng.

- Lãng mạn là… là… anh hỏi chi mô ác rứa? Giang trả lời bậy đừng cười nghe anh.

Nguyễn gật đầu, mỉm cười nhìn người yêu chăm chú.

- Lãng mạn là… là không đứng đắn… là đa tình… là ưa chuyện trai gái… là như Giang đây nè…

Trà Giang vươn đôi cánh tay trần, trắng, tròn lẳn, mát lạnh, bá cổ Nguyễn vít xuống, cuồng nhiệt hôn lên môi lên mắt chàng.

Nguyễn mỉm cười, nhẹ lắc đầu, hôn trả lại lên vầng trán rịn mồ hôi của người yêu.

- Định nghĩa của em có thể đúng, nhưng chỉ đúng ở khía cạnh hẹp và thấp nhất của từ lãng mạn. Theo anh, lãng mạn là một đặc tính, một hành vi vượt lên trên và ra ngoài khuôn khổ thông thường, không giống với lối nhìn, lối nghĩ, lối nhận, lối phản ứng của những người có tầm hiểu biết trung bình. Như thế, lãng mạn đâu có gì là xấu, là đáng trách. Anh nhớ một nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết nào đó đã hết lời biện hộ cho cái lãng mạn của người con gái Huế đại khái như sau. Nếu bảo rằng lãng mạn là một tội, một điều xấu xa đi nữa thì người phụ nữ Huế -bao gồm những người bị dư luận gán cho là lãng mạn- cũng không hề mang tội hoặc mang một điều xấu nào hết. Chính cái đẹp, cái thơ mộng muôn đời, bất tuyệt của cảnh trí nơi đây đã góp phần làm nên cái chất lãng mạn nơi người đàn bà.. Như thế, dù là ai chăng nữa, nếu có dịp sống ở Huế, thở hít bầu không khí nên thơ, diệu hoặc của Huế đều trở nên lãng mạn cả.

Lồng vội mười ngón tay ngà ngọc lên sóng tóc bồng bềnh của Nguyễn, Trà Giang rướn người tham lam vít đầu người yêu xuống hôn như điên như dại.

- Tư ơi! Tới giờ đi sắp hàng lãnh phần ăn rồi con.

Tiếng réo gọi chát chúa của người đàn bà vọng lên đâu đó. Ký ức chắp cánh bay xa. Nguyễn như bừng tỉnh, Anh ngước đôi mắt thất thần, trì độn nhìn ngơ ngác. Người con gái lạ nói giọng Huế đã bỏ đi từ lúc nào. Nguyễn tự giận mình đãng trí và không khỏi luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội không hỏi tên và nơi trú ngụ của gia đình nàng trong trại. Từ trong thâm tâm, Nguyễn vừa nhen nhúm một niềm hy vọng mong manh. Biết đâu người thiếu nữa lạ vừa rồi chẳng giúp anh biết đôi chút tin tức về Trà Giang.. Đưa mắt nhìn hàng trăm căn lều vải san sát đàng trước mặt đàng sau lưng, nơi tạm trú của hàng mấy chục ngàn bà con tị nạn, Nguyễn không giấu được cảm nghĩ chán chường, tuyệt vọng. Anh tự giận mình và loay hoay hoài với câu hỏi: làm sao và bằng cách nào tìm ra tông tích người con gái lạ có giọng nói xứ Huế vừa qua?

Gia đình Nguyễn đặt chân lên trại tị nạn Guam từ hơn một tuần nay. Anh xót xa nhớ lại những ngày chật vật, khốn khổ, chen chúc như bày súc vật trên con tàu chở tới trên 9000 nhân mạng. Và bây giờ là những buổi trưa chiều nối đuôi nhau đi xếp hàng lãnh phần ăn. Quá khứ tối đen! Hiện tại buồn chán, và tương lai mù mịt!

Thêm một tuần lễ nữa trôi nhanh. Bóng dáng người thiếu nữ lạ vẫn tuyệt mù tăm cá! Liên tiếp trong nhiều ngày, anh đã lê la tìm tới những lớp học anh văn, những phòng phát thuốc, những căn lều được dùng làm nhà thờ dành cho đồng bào Công Giáo, hoặc chùa của bà con Phật tử, kể cả các khu nhà ăn và văn phòng làm việc của ban quản trị trại, hy vọng gặp lại nàng nhưng hoàn toàn vô vọng. Một buổi chiều gia đình anh được lệnh lên xe buýt di chuyển tới một trại tạm cư khác trước khi hoàn tất thủ tục lên phi cơ vào lục địa Hoa Kỳ.

Nguyễn nối gót bà con đồng hương bước lên phi cơ mà nghe lòng mình đau xót. Ý niệm về sự gần gũi tương đối trong không gian cũng như khí hậu quen thuộc của đảo Guam dù sao cũng có lúc đánh lừa được Nguyễn là anh chưa hoàn toàn bị bứt lìa ra khỏi vùng trời quê hương yêu dấu. Nhưng giây phút này, khi biết rằng mình sắp sửa được người ta đưa đi định cư ở bang California thuộc miền tây Mỹ Quốc, Nguyễn bắt đầu cảm nhận được tất cả những mất mát to lớn trong anh.

Chiếc máy bay nhẹ nhàng rời phi đạo bốc lên trời cao. Nguyễn dán mắt vào chiếc cửa sổ hình bầu dục. Anh nhìn lại Guam tiếc nuối như nhìn lại một Hà Tiên, một Phú Quốc những ngày cuối tháng Tư khốn khổ. Cho tới lúc Guam chỉ còn là một chấm nhỏ rồi mất hút giữa đại dương mù mịt. Màu xanh của nước biển, màu xanh của nền trời đưa đẩy trí tưởng tượng của Nguyễn trở về với màu xanh bạt ngàn của một khu rừng thông vào một buổi chiều trên đồi Thiên An thuở trước.

Những đọt thông xanh ngắt, chen chúc phủ kín cả một vùng núi đồi mênh mông, nhấp nhô lên xuống. Nguyễn dìu Trà Giang men theo con đường mòn quanh co dẫn lên đỉnh cao. Mặc dầu mệt, Trà Giang vẫn lảnh lót nói cười luôn miệng. Những sợi tóc đen dài, mềm mại dính quện trên vừng trán phẳng rịn những giọt mồ hôi lấm tấm của nàng. Nguyễn ngừng lại đắm mắt nhìn người yêu. Trà Giang cất tiếng cười trong veo, tinh nghịch trấy những trái thông khô ném lên đầu Nguyễn. Quơ tay che mặt, anh lao người về phía trước ôm gọn người yêu vào lòng. Nguyễn nâng cầm người yêu, nhìn thẳng vào cặp mắt đam mê của nàng. Anh cúi xuống mải mê hôn lên đôi môi mọng chín của người con gái đất Thần Kinh. Có tiếng chim vỗ cánh xào xạc đâu đó. Hai người rời nhau. Trà Giang đảo mắt nhìn nhớn nhác.


- Có ai mô mà o có dáng sợ hãi rứa?

Trà Giang nhìn lại Nguyễn, Hóm hỉnh nhái giọng Bắc.

- Có chứ tại sao không? Bộ anh không thấy có anh, có Giang, có trời, có đất, có cỏ cây, đồi núi đó sao?

Nói xong nàng cất tiếng cười vang động cả một vùng đồi núi rồi chạy mất hút vào khu rừng thông phía sau đồi. Còn lại một mình, Nguyễn bâng khuâng nhớ lại ngày đầu tiên gặp Trà Giang trong phái đoàn sinh viên đại học Huế đi ủy lạo đơn vị anh đang trấn đóng ở một vùng giáp ranh Bến Hải. Và hình ảnh người nữ sinh viên trong bộ áo dài đen với dáng dấp e thẹn, với hàng mi dài cong vút, với cặp mắt sáng đam mê ấy đã mê hoặc Nguyễn. Và cũng từ đấy, Huế đã trở thành một khối từ thạch thu hút tâm hồn và trí não người lính Bắc đa tình là Nguyễn. Những ngày nghỉ phép hiếm hoi, ngắn ngủi của anh đã biến thành kỷ niệm bên những ly chè Cồn Hến, những đĩa bánh bèo, bánh lá Vĩ Dạ, cùng những buổi rong chơi hò hẹn bên bờ sông Hương hoặc trên những con đường mòn dẫn vào lăng mộ các vua triều Nguyễn.

Sau chuyến đi chơi đồi Thiên An hôm ấy, vì chiến cuộc trở nên căng thẳng bất ngờ, đơn vị anh liên tiếp phải di chuyển nên Nguyễn không còn có cơ hội trở về Huế thăm gặp Trà Giang. Anh không ngờ rằng đấy là chuyến đi chơi cuối cùng của hai người.

Mặt trận cực bắc tan vỡ. Nguyễn theo đơn vị rút vào Đà Nẵng. Khi đoàn xe di chuyển qua cầu Trường Tiền, anh xót xa chứng kiến cảnh tan hoang náo loạn của cố đô với từng đoàn người hốt hoàng, lũ lướt bồng bế nhau tất tả xuôi nam. Lòng đau như cắt, Nguyễn không làm cách nào liên lạc được với người yêu. Rồi những ngày tháng Tư định mệnh chụp xuống như một cơn lốc kinh hoàng đã tàn nhẫn đẩy anh ra khỏi vùng trời quê hương không một chọn lựa!

Đang bay thật đầm, bỗng dưng gặp khoảng chân không, phi cơ trút xuống thật sâu, khiến đám hành khách hầu hết là dân tị nạn la lên hốt hoảng. Nguyễn nhìn qua khung kính. Từng tảng mây trắng lơ lửng lưng trời. Âm hưởng bốn câu thơ ngày nào Trà Giang kẹp bào cuốn sách gửi cho anh với cánh hoa màu tím lại vang lên bên tai Nguyễn.

Tôi trở lại con đường lên núi biếc,
Thương mây bay từ đấy vẫn cô đơn
Những bông hoa còn có nửa linh hồn,
Những lá cỏ xôn xao tìm ảo mộng!

- Giờ thì hết, hết thật rồi Trà Giang ạ. Những con đường xưa, những áng mây cũ, những rặng thông, những cỏ hoa tươi thắm thuở nào chỉ còn là những kỷ niệm buồn trong anh mà thôi.

Mảnh trăng lưỡi liềm nhô lên sau rặng dừa bên kia bờ nước. Nguyễn ngồi lặng câm, mặc cho những sợi tóc của Linda vờn nhẹ trên má, trên cổ anh.

- Tại sao mỗi lần ngồi ngắm trăng khuya anh lại có vẻ buồn và xa vắng như vậy hả Nguyễn?

Dựa đầu vào vai Nguyễn, Linhda nhướng mắt hỏi anh lần thứ hai.

- Linhda thấy anh buồn và xa vắng lắm sao? Có lẽ đấy là một thói quen xấu. Chính anh cũng không hiểu tại sao nữa.

- Thôi quên đi cưng.

Nói xong Linda rướn người lên, vươn đôi tay dài ôm Nguyễn hôn say đắm. Nguyễn cuồng nhiệt hôn trả lại.

Trong môi hôn anh nghe trong đầu có tiếng Trà Giang thì thầm. Nguyễn muốn trốn chạy Giang nhưng anh không thể trốn được định mệnh. Em nói đúng Trà Giang à. Và chúng mình đã bị định mệnh cột chặt bên nhau vào một đêm trăng huyền hoặc nơi cố đô muôn đời thơ mộng. Anh yêu em Trà Giang ơi!

Linda đẩy mạnh Nguyễn ra xa rồi bật đứng dậy cất tiếng cười như xé lụa.

- Anh này lạ. Lúc thì giá lạnh như tảng băng miền Bắc cực. Khi thì cuồng say như con thú khát tình. Anh cắn môi Linda muốn đứt rồi nè.

Đang nói bỗng dưng Linda im bặt khi nhận ra vẻ mặt ngơ ngác, thất thần của Nguyễn. Nàng bước tới ôm anh dìu đứng dậy.
- Thôi khuya rồi. Mình về phòng nghe cưng.

Nhịp thở của Linda vang lên đều đặn. Nguyễn nhẹ nhàng ngồi dậy, cố gắng không gây một tiếng động. Anh đứng lên, với tay cầm bao thuốc và chiếc hộp quẹt trên bàn ngủ rối lách mình ra ban công châm hút. Những ý nghĩ âm thầm dựng lên trong trí Nguyễn. Bốn tháng ở trại tạm cư Indian Town Gap, Pennsylvania. Một năm theo chân người bảo trợ lưu lạc miền băng giá Alaska. Và bây giờ sống tạm bợ bên một cô gái Mỹ hoàn toàn khác biệt về mọi phương diện, từ những rung động thể xác cho tới những xúc cảm của tâm hồn. Chưa bao giờ anh cảm thấy sự cô đơn lớn rộng vây bủa con người và trí tưởng anh bằng lúc này.

Tiếng chuông đĩện thoại trong phòng reo lên từng nhịp. Linda trở mình, ú ớ. Nguyễn dụi tàn thuốc lá, lách vội vào phòng. Anh áp ống nghe vào tai. Từ bên kia đầu giây, giọng hối hả, giục giã của một người đàn bà Huế vang lên.

- Có phải ông là ông Nguyễn không? Xin ông tới lẹ không trễ mất. Chị Trà Giang tôi muốn gặp ông lần cuối. Chúng tôi đang ở bệnh viện…. số ….. đường…..

Nguyễn bàng hoàng, chết lặng trong giây lâu. Anh nghe có tiếng nấc ở bên kia đầu giây nói. Mặc những lời cật vấn của Linda, Nguyễn lẳng lặng mặc quấn áo, mang giầy rồi tất tả ra xe.

Khoảng 15 phút sau, Nguyễn bước vào phòng chờ trước khu cấp cứu của bệnh viện. Một người thiếu phụ đầu tóc bơ phờ, dáng dấp mệt mỏi từ hàng ghế bên kia đi tới. Nàng khóc nấc khi đứng trước mặt Nguyễn.

- Ông tới trễ mất rồi. Chị Trà Giang không còn nữa. Chị tui kêu tên ông hoài hoài trước khi nhắm mắt.

Mặt đất tưởng chừng rạn vỡ dưới chân Nguyễn. Người thiếu phụ vẫn tiếp tục kể lể, giọng đầy nước mắt.

- Gặp ông ở Guam, tui đâu có dè ông là bạn của chị Giang. Ngay buổi chiều hôm ấy chị em tui rời trại Ô-Rốt qua A-San ở một tuần để làm thủ tục trước khi được đưa vào lục địa Mỹ. Chúng tui ở trại Fort Chaffee, Arkansas hai tháng thì xuất trại theo người bảo trợ đi định cư ở bang Iowa. Cách đây một tuần, tình cờ chị tui đọc báo và nhận được tin ông rao tìm. Chị tui mừng quýnh. Mặc dầu chưa kịp bán nhà, bán đồ đạc nhưng chị Giang nhất quyết qua gặp ông ngay. Tui hối chị biên thư hoặc kêu điện thoại báo tin ông hay nhưng chị tui không chịu vì muốn dành cho ông sự bất ngờ. Ai dè tai nạn đã bất ngờ xảy ra. Bây giờ thì thật hết rồi. Khổ thân chị tui!!!…

Với cặp mắt đẫm lệ, người con gái nhìn Nguyễn giọng thì thầm như nói với chính mình.

- Nhờ mẩu tin tìm người thân trên báo, ông nhắc lại cuộc gặp gỡ tình cờ ở Guam tôi mới hay ông là bạn chị Trà Giang. Thật đáng tiếc, nếu…

Nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của Trà Giang, lòng Nguyễn như dao cắt.

- Tại sao gặp anh mà em không nói với anh một lời hả Trà Giang? Em nói đúng Giang ạ. Anh đã không trốn khỏi bàn tay của định mệnh. Ngày xưa –những-ngày-xưa-thân-ái- có lần anh muốn trốn chạy em, nhưng định mệnh đã cột anh lại bên em. Chừ đây, chúng mình muốn tìm tới bên nhau thì định mệnh quái ác lại đẩy chúng ta xa nhau. Xa nhau vĩnh viễn.

Overland Park, Kansas, những ngày cuối thu 1977
Trần Phong Vũ

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.