Hôm nay,  

Về Thăm Kinh-Đô Huế

02/03/201300:00:00(Xem: 13259)
Mẹ tôi gốc Hà-Nội còn Bố là người Nam-Định; di-cư 1954 vào Nam. Gần chục năm sau tôi được sinh ra ở nhà thương “Hà-Đông-Hà” vùng Tân-Định, thành-phố Saigon. Là một trong những thuyền nhân tỵ-nạn sau biến cố 1975; lấy quốc-tịch Úc rồi sang Hoa-Kỳ định-cư từ 1991 đến nay; cả trăm lần về Việt-Nam làm phim tài-liệu và đi giúp người nghèo khắp ba miền đất nước: Bắc, Trung & Nam.

Hình ảnh quyến-rũ và ghi đậm nhất trong tôi lại chính là xứ sở miền Trung trầm mặc u-hoài có kinh-đô Huế với giòng sông Hương và núi Ngự-Bình cùng rất nhiều đền đài lăng tẩm.

Thành phố Huế nằm về phía Bắc đèo Hải-Vân, cách Đà-Nẵng 112 km, xa biển Thuận-An 14 km, từ phi-trường Phú-Bài đến Huế độ 14 km và cách Cảng nước sâu Chân-Mây 50 km. Phía Bắc và Tây giáp thị-xã Hương-Trà, Nam giáp Hương-Thủy, Đông cùng giáp Hương-Thủy và huyện Phú-Vang.

Qua nhiều tài-liệu sưu-tầm, tôi được biết rằng: Vùng đất xây-dựng nên kinh-thành Huế nguyên là một địa-hình được sắp đặt lại bởi công sức lao-động của hàng vạn dân binh. Dưới thời vua Gia-Long, người ta điều-chỉnh lại "vương đảo” Phú-Xuân, lấp giòng Kim-Long cũ, đào mới một loạt các sông Ngự-Hà, Đông-Ba, An-Hòa, Bạch-Yến để tạo ra một thế đất cân đối bên Hương giang ngày nay. Đối diện với tiền-án núi Ngự, hai bên có Cồn Hến Tả Thanh-Long (con Rồng xanh bên trái) và cồn Giã-Viên Hữu Bạch-Hổ (con Cọp trắng bên phải) trong thế hài-hòa rất tự-nhiên; đến nỗi ít người nhận ra xưa kia là cả một quá trình gian-khổ xẻ đất, lấp sông của con người.
diamond_bich_ngoc_hue_duong_trinh_cong_son
Diamond Bích Ngọc ở Thành Nội Huế; đường mang tên Trịnh Công Sơn.
“Đất Thần kinh trai hiền gái lịch
Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng
Tháp bảy tầng, miếu Thánh, chùa Ông
Chuông khua Diệu-Đế, trống rung Tam-Toà
Cầu Tràng-Tiền mười hai nhịp bắc qua
Tả Thanh-long, hữu Bạch-Hổ đợi khách âu ca thái-bình.” (Ca Dao)

Trung-tâm Huế có Thành nội và Đại nội:

Đại nội: với Hoàng-Thành, Tử-Cấm-Thành và hàng trăm công-trình kiến-trúc tinh-xảo, sơn son thiếp vàng, bố-trí cân-xứng thể-hiện nghiêm-ngặt trật-tự và uy-thế chốn cung-đình.

Thành nội: có Kỳ-Đài vững-chãi, uy-nghi, gồm 10 cổng đối xứng, hệ-thống các dinh-thự như Lục-Bộ, Cơ-Mật-Viện, Quốc-Tử-Giám, Tàng-Thư-Lâu...Phản ánh được bộ mặt sinh-hoạt chính-trị, văn-hóa chốn kinh-kỳ của một thời oai-phong lẫm-liệt. Nơi đây cũng là chứng-tích ghi dấu sự có mặt của nhiều thế-hệ danh-nhân đất nước ta như: Nguyễn-Du, Nguyễn-Công-Trứ, Cao-Bá-Quát, Bà Huyện Thanh-Quan, Phan-Thanh-Giản, Nguyễn-Tri-Phương, Hoàng-Diệu, Tôn-Thất-Thuyết, Phan-Bội-Châu, Phan-Chu-Trinh…

Phong cách kiến-trúc tinh-tế của cung-đình Huế còn thể-hiện ở một số lăng tẩm nằm ẩn mình trong vùng đồi núi ven hai bờ sông Hương thuộc phía Tây-Nam kinh-thành. Các lăng vua triều Nguyễn khá bề-thế theo hệ-thống sân chầu; tẩm điện, bi-đình, bảo-thành; đồng thời lại vận-dụng hình-thái xây-dựng như cung điện, có cả hồ sen, lối dạo, tùng-viện, thủy-tạ, đình-quán; đôi khi còn thêm nhà đọc sách, nhà hát, trường bắn của vua như lăng Tự-Đức.

Mỗi lăng vua là một phong-cách kiến-trúc riêng, thể-hiện một phần những yếu-tố triết-lý, tâm- linh và giá-trị thẩm-mỹ cá-biệt; không gợi lên cảm xúc đau buồn thương tâm về cái chết, ngược lại nơi đây là một chốn thanh-nhã để du khách tham-quan, ngắm nhìn và suy-tuởng.

Gắn với kinh-thành, cung-điện, lăng-tẩm còn có các đền miếu, Đàn Nam-Giao, Đàn Xã-Tắc, điện Hòn Chén, chùa Thiên-Mụ, chùa Túy-Vân và rất nhiều danh-lam cảnh tự ở kinh kỳ…

diamond_bich_ngoc_hoang_cung_hue
Chàng và nàng trong bộ triều phục Hoàng đế và Hoàng hậu.
Nằm giữa những vùng dân cư có nhiều phủ đệ, đình miếu, nhà vườn nên người xứ Huế nhiều đời gắn bó với mảnh đất cố-đô được thấm nhuần giá-trị truyền-thống lễ-nghi, vì vậy họ còn lưu-giữ khá đậm nét những tính-cách, phong-tục, tín-ngưỡng một thời của vùng đô-thị cổ Việt-Nam cách đây nhiều thế kỷ:

“Người xứ Huế trang nghiêm và thầm lặng
Thường hay sầu giữa lúc thế nhân vui
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi
Thanh lịch thay bạn văn nhân xứ Huế!”
(trích thơ của Thi-Sĩ Bạch-Lan)

Lần này về thăm Huế, phòng trọ chúng tôi ở ngay bên giòng Hương giang, nhìn sang bên trái thấy cầu Trường-Tiền, đối diện là cồn Hến, thỉnh-thoảng những bóng dáng con thuyền thơ mộng lướt nhè nhẹ, êm-ái, lặng-lẽ trên sông:

“Giòng nước Hương-Giang chảy lặng-lờ
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ
Gió cầu nghiêng áo nàng Tôn-Nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ” (Ca-Dao).

Một buổi sáng loanh-quanh phố-phường, tình cờ nhìn thấy con đường mang tên Trịnh-Công-Sơn. À! Thì ra Huế mộng, Huế mơ là quê-hương của cố nhạc-sĩ này; nơi mà bản nhạc “Diễm-Xưa” ra đời; theo như Hoàng-Tá-Thích (em rể TCS) đã kể rằng:

“...Ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng của trường Đồng-Khánh, vẫn thường đi ngang, băng qua cầu, rẽ tay mặt về nhà. Hình ảnh nàng thùy mị mang nét kín cổng cao tường rất cổ điển đó đã làm cho anh không ngày nào là không nhìn xuống đường chờ đợi: Lụa áo em qua phủ mặt đường

Gót nhỏ xanh xao tựa khói sương.

Diễm mang đến cho anh một mối tình nhẹ nhàng và lãng mạn như hai chữ Diễm xưa. Có hôm thức dậy muộn, nhìn thấy bên cửa sổ cài một nhành dạ lý hương, anh biết người đẹp đã đi qua nhà mình. Và mỗi lần thức dậy anh đều mong nhìn thấy cành hoa cài trên cửa: "Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhớ mãi trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau…"

Chúng tôi được dịp ghé đến “Royal Park Restaurant”; một nhà hàng tọa-lạc trên thôn Vỹ-Dạ với lối kiến-trúc cổ-điển, có cung lầu và vườn thượng-uyển cùng những bức tượng quan-quân u hoài trầm mặc; tôi và phu-quân được khoác Long Bào của Vua và Hoàng-Hậu như một thời Phong-Kiến xưa, thưởng-thức các món Phượng-Hoàng, Long-Quân khai-vị, Nem-Công-Chả-Phụng tuyệt-hảo và thích nhất khi xem trình diễn “nhã nhạc cung-đình” trong một không-gian rất Huế, rất hoàng-triều. Đúng như ý bài thơ của Đinh-Thu đã giới-thiệu về nơi chốn này:

“Đến đây trông bóng người xưa
Cung ngà điện ngọc nắng mưa một thời
Tìm riêng mình phút thảnh thơi
Quên đi hiện tại nghiệp đời mênh mang
Dìu hồn vào cõi mơ màng
Lắng trong quá khứ son vàng từ tâm”

(Link: http://www.royalpark.com.vn/Home )

Cảm-ơn Huế cho một lần trở lại rất trữ tình. đáng ghi nhớ, đáng mến, đáng yêu. Xin viết lại bài ca-dao dưới đây để gửi tặng phu-quân tôi và cho tất-cả những đôi uyên-ương của Huế chan hòa yêu thương & ngàn đời thơ mộng:

“Khi nào cạn nước Đồng-Nai
Nát chùa Thiên-Mụ mới sai lời nguyền!
Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau!
Núi Ngự-Bình trước tròn sau méo
Sông An-Cựu nắng đục mưa trong,
Đôi ta nguyện kết chữ đồng
Đá mòn sông cạn mà lòng thủy-chung!
Dãy dọc tòa ngang, giàu sang có số
Kim-Long, Nam-Phổ, nước đổ về Sình
Hai đứa mình gá nghĩa ba sinh,
Dẫu có mần răng đi nữa, hai đứa mình không thể bỏ nhau
Đôi ta kết nghĩa vợ chồng
Đá mòn, sông cạn mà lòng thủy-chung!” (Ca Dao)

www.diamondbichngoc.com

Hoa Kỳ luôn được tôn vinh là một cường quốc tích cực tham gia trong mọi sinh hoạt chính trị quốc tế, nhưng lịch sử ngoại giao đã chứng minh ngược lại: Hoa Kỳ từng theo đuổi nguyên tắc bất can thiệp và cũng đã nhiều lần dao động giữa hai chủ thuyết quốc tế và cô lập. Trong việc thực thi chính sách đối ngoại trong thế kỷ XX, Hoa Kỳ mới thực sự trực tiếp định hình cho nền chính trị toàn cầu, lãnh đạo thế giới tự do và bảo vệ nền an ninh trật tự chung. Nhưng đối với châu Âu, qua thời gian, vì nhiều lý do khác nhau, càng ngày Hoa Kỳ càng tỏ ra muốn tránh xa mọi ràng buộc càng tốt.
Tiếng Việt không ít những thành ngữ (ví von) liên hệ đến đặc tính của nhiều con vật hiền lành và quen thuộc: ăn như heo, ăn như mèo, nhát như cáy, gáy như dế, khóc như ri, lủi như trạch, chạy như ngựa, bơi như rái, khỏe như voi, hỗn như gấu, chậm như rùa, lanh như tép, ranh như cáo, câm như hến …Dù có trải qua thêm hàng ngàn hay hàng triệu năm tiến hóa, và thích nghi để sinh tồn chăng nữa – có lẽ – sóc vẫn cứ nhanh, sên vẫn cứ yếu, cú vẫn cứ hôi, lươn vẫn cứ trơn, đỉa vẫn cứ giai, thỏ vẫn cứ hiền, cá vẫn cứ tanh, chim vẫn cứ bay, cua vẫn cứ ngang (thôi) nhưng hến thì chưa chắc đã câm đâu nha.
Khi thiên tai đổ xuống, thảm họa xảy ra, và con người với khả năng chống đỡ có giới hạn, thì những gì nhân loại có thể làm là cứu nhau. Ngược lại với nguyên tắc tưởng chừng như bất di bất dịch của một thời đại mà con người luôn hướng đến hòa bình và lương thiện, lại là các thuyết âm mưu tạo ra để lan truyền thù ghét và mất niềm tin vào chính quyền đương nhiệm. Đại dịch Covid-19 vĩnh viễn là sự thật của lịch sử Mỹ, trong triều đại của Donald Trump. Tòa Bạch Ốc của Trump lúc ấy, qua lời mô tả của những nhân viên trong ngày dọn dẹp văn phòng làm việc để bắt đầu bước vào giai đoạn “work from home” là “ngôi nhà ma.” Giữa lúc số người chết tăng theo từng giây trên khắp thế giới thì Trump vẫn điên cuồng xoay chuyển “tứ phương tám hướng” để kéo người dân quay về một góc khác của đại dịch, theo ý của Trump: “Covid không nguy hiểm.”
Mặc dù các bác sĩ tâm thần có bổn phận bảo mật các thông tin sức khỏe tâm thần do bệnh nhân tiết lộ, nhưng hầu hết các tiểu bang tại Hoa Kỳ đều có luật bắt buộc hoặc cho phép bác sĩ tâm thần tiết lộ thông tin bí mật khi bệnh nhân có triển vọng gây tổn hại cho cộng đồng...
Trong tuần lễ cuối cùng của chiến dịch tranh cử tổng thống vào năm 1980 giữa Tổng Thống Đảng Jimmy Carter (Dân Chủ) và ứng cử viên Ronald Reagan (Cộng Hòa), hai ứng cử viên đã có một cuộc tranh luận duy nhất vào ngày 28 tháng 10. Trong cuộc tranh luận, Reagan đã nêu ra một trong những câu hỏi quan trọng nhất trong mọi thời đại: “Hôm nay quý vị có khá hơn bốn năm trước hay không?” Câu trả lời của Carter là “KHÔNG." Cùng với một số lý do không kém quan trọng khác, số phiếu của ông đã giảm xuống vào những ngày quan trọng cuối cùng của chiến dịch tranh cử. Reagan đã giành được số phiếu phổ thông lớn và chiến thắng trong cuộc bầu cử.
Nobel là một giải thưởng cao qúy nhưng đó không phải là tất cả hay tối thượng mà, xét cho cùng, mục tiêu của nền văn học quốc gia hay bất cứ lĩnh vực nào khác đâu nhất thiết là hướng tới giải Nobel? Mahatma Gandhi đã năm lần bị bác giải Nobel Hoà Bình nhưng so với một Henry Kissinger hí hửng ôm nửa cái giải ấy vào năm 1973, ai đáng ngưỡng mộ hơn ai? Tuyên ngôn Nobel Văn Chương 1938 vinh danh nhà văn Mỹ Pearl Buck về những tác phẩm “diễn tả xác thực đời sống của nông dân Trung Hoa” nhưng, so với Lỗ Tấn cùng thời, nhà văn không chỉ diễn tả xác thực đời sống mà cả tâm não của người Trung Hoa, ai để lại dư âm lâu dài hơn ai?
Nếu mũ cối là biểu tượng của thực dân Tây phương vào thế kỷ 18 thì, bây giờ, “năng lượng tích cực”, như là diễn ngôn của thực dân Đại Hán với những dấu ấn đậm nét của tân hoàng đế Tập Cận Bình, đã trở nên gắn bó với người Việt, từ diễn ngôn của thể chế cho đến giọng điệu ngôn tình của những đôi lứa bỡ ngỡ trước ngưỡng cửa hôn nhân.
AI là trí tuệ nhân tạo. AI là một kho kiến thức nhiều vô cùng vô tận, đã siêu xuất chứa đựng nhiều thư viện nhân loại hơn bất kỳ dữ liệu tri thức nào, và cứ mỗi ngày AI lại mang thêm nhiều công năng hữu dụng, mà một người đời thường không thể nào có nổi kho tri thức đó. Trong khi đó, Thầy Tuệ Sỹ là một nhà sư phi thường của dân tộc, với những tri kiến và hồn thơ (như dường) phong phú hơn bất kỳ nhà sư nào đã từng có của dân tộc Việt. Câu hỏi là, AI có thể biểu hiện như một Tuệ Sỹ hay không? Chúng ta có thể gặp lại một phong cách độc đáo của Tuệ Sỹ trong AI hay không? Thử nghiệm sau đây cho thấy AI không thể sáng tác được những câu đối cực kỳ thơ mộng như Thầy Tuệ Sỹ. Để thanh minh trước, người viết không phải là khoa học gia để có thể hiểu được vận hành của AI. Người viết bản thân cũng không phải học giả về kho tàng Kinh Phật để có thể đo lường sự uyên áo của Thầy Tuệ Sỹ.
Israel và Iran đã âm thầm chống nhau trong một thời gian dài. Nhưng nhiều diễn biến sôi động liên tục xảy ra gần đây làm cho xung đột giữa hai nước leo thang và chiến tranh có nguy cơ bùng nổ và lan rộng ra toàn khu vực. Điển hình là vào tháng 4 năm nay, Iran công khai tấn công bằng tên lửa vào lãnh thổ Israel. Đầu tháng 10, Israel đã tấn công bằng bộ binh ở miền nam Lebanon. Trước đó, trong cuộc không kích vào trụ sở dân quân Hezbollah ở Beirut, Israel đã tiêu diệt thủ lĩnh Hezbollah là Hassan Nasrallah và nhiều nhân vật quan trọng khác.
Nhà báo Cù Mai Công vừa lên tiếng nhắc nhở đồng nghiệp (“Ráng Xài Tiếng Việt Cho Đúng, Xài Bậy, Dân Họ Cười Cho”) vào hôm 6 tháng 9 vừa qua. Ông dùng tựa một bản tin của báo Dân Trí (“Hai Kịch Bản Siêu Bão Yagi Tác Động Đến Đất Liền”) như một thí dụ tiêu biểu: “Trong toàn bộ các tự điển tiếng Việt xưa nay, ‘kịch bản’ nguyên nghĩa là bản viết cho một vở kịch, sau có thể mở rộng thành văn bản, bản thảo về nội dung cho một phim truyền hình, quảng cáo, phim ảnh, gameshow…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.