Hôm nay,  

Thời Của Sư Phụ

14/02/201500:00:00(Xem: 4898)
Báo Xuân hay Báo Tết?

Báo chí Việt nam hằng năm, cứ đến ngày Tết, giử truyền thống gần như bất di, bất dịch là cho phát hành một số báo đặt biệt “Số báo Xuân”. Khi số báo Xuân có nhiều bài vở về biên khảo, văn chương,… hơn thông tin thường ngày còn được gọi là “Giai phẩm Xuân”.

Báo Xuân phát hành xong, nhà báo vẫn tiếp tục những số báo thường ngày cho đến ngày nghỉ Tết. Số báo cuối năm thường cũng nhiều trang, nhiều màu, hình bìa lộng lẫy và bên trong cũng có nhiều bài nhắc lại năm củ như tổng kết, liên quan tới năm mới như gởi gắm ước mơ. Đó là sốt báo Tất niên. Giá bán cao hơn giá báo hằng ngày. Một dạng báo Xuân thu ngắn!

Nghỉ Tết xong, nhà báo trở lại làm số báo đầu năm gọi là số Tân niên. Báo cũng nhiều trang, cũng hình bìa màu mè,…

Chắc chỉ có báo Việt nam mới có Báo Xuân. Ở Việt nam, vào đầu thập niên 60, còn tờ nhựt báo pháp ngữ “Le Journal dExtrême-Orient” không có số báo Xuân như báo Việt nam.

Nhưng báo Xuân Việt nam xuất hiện từ năm nào?

Có lẽ Đông Pháp Thời Báo Xuân xuất hiện năm Mậu Thìn, 1929, là tờ báo Xuân đầu tiên ở Việt nam. Từ năm sau, các báo tiếp theo làm báo Xuân là Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, năm 1930, Công Luận năm 1931, Trung Lập năm 1933, Đuốc Nhà Nam năm 1935,…

Báo Xuân là số báo dành cho năm mới nên báo nhứt định phải có bài dành riêng cho năm đó. Năm con gì, người ta sẽ làm thịt đủ món con vật đó, từ văn chương, bói toán, y lý, dinh dưởng, ẩm thực, …

Nhưng ở hải ngoại nói báo Xuân thì không đúng. Một nghịch lý nổi cợm bất kỳ ở đâu. Nói báo Tết đúng hơn nhưng đã là truyền thống nên không thay đổi được.

Vậy Báo Xuân Việt nam năm nay 2015 nhứt thiết phải nói tới con dê.

Mà nói tới con dê là điều cấm kỵ. Một thứ phạm húy hay nghiêm trọng hơn, là phạm thượng. Vì nói tới Sư Phụ. Theo đạo lý thánh hiền thì Quân Sư (phụ) …làm đầu. Nhưng tại sao người làm báo lại không biêt kiêng cử?

Tuổi Dê hay tuổi Mùi

Theo sách bói toán, Dê vì hiện thân Sư Phụ nên rất thanh lịch, quyến rũ, yêu nghệ thuật,…Từ đó người ta luận ra người sinh ra ở năm dê cũng vô cùng sáng tạo. Họ tinh tế trong cách cư xử và luôn quyến rũ khiến nhiều người ngưỡng mộ. Nhứt là phái nữ.

Con gái tuổi dê/mùi rất thưận lợi về tình yêu. Họ thẳng thắng bày tỏ tình cảm với người mình yêu, quan tâm chăm sóc người yêu. Trong đời sống gia đình, người phụ nữ tuổi mùi đảm đang, biết giử gìn hạnh phúc gia đình.

Con trai tuổi mùi chân thành với tình yêu, chết bỏ cho tình yêu nên khiến người yêu hài lòng. Họ chung thủy với tình yêu, dốc hết sức lực xây dựng gia đình hạnh phúc.

Phải chăng vì vậy mà người đời ca ngợi tuổi mùi và than trách thân phận không sanh nhằm tuổi mùi:

“Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi,
Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân” (Ca dao).

Vận mệnh người tuổi mùi là sung sướng, cả nam lẫn nữ. Còn năm ngọ cũng là năm thành đạt cho người sanh vào năm này. Hai năm liền đều tốt:

“Năm Ngọ, mã đáo thành công
Năm Mùi, dê béo, rượu nồng phủ phê” (Vè miền quê)

Dê và Mùi

Mùi sao là Dê được? Chữ hán Dê là Dương kia mà? Các con giáp khác cũng vậy. Năm Ngọ là năm Ngựa. Không ai nói năm Mã bao giờ. Vậy Mùi, Ngọ không phải là tiếng hán Việtn mà là tiếng Việt thuần túy? Cỏ May có đem điều này hỏi một Cụ Đồ ở Paris thì cụ cũng chịu thua.

Trong gần đây có đọc hai học giả về Việt nam: Ông Nguyễn Cung Thông ở Melbourne, Úc và Ông Đặng Tiến ở Pháp. Cả hai ông đều giải nghĩa Mùi đúng là Dê theo chữ Việt cổ. Và Mùi còn đọc là Vị, chữ hán cổ và cách đọc này phổ thông hơn (theo Thiều Chửu).

Mùi/Vị có nghĩa liên hệ tới giác quan là khác tuy cùng gốc chữ (từ nguyên). Riêng chữ Vị có nhiều nghĩa hơn và ghép với nhiều chữ khác còn lưu hành ngày nay. Như “Vị lai, Vị thành niên, …

Ông Nguyễn Cung Thông nhấn mạnh sự tự tin của ông: “Tóm lại, ta có cơ sở rất vững chắc để kết luận âm Mùi là âm cổ hơn của Vị. Không những thế, phạm trù nghĩa của Mùi tiếng Việt chỉ giới hạn trong các ý chỉ 12 con giáp”.Nhưng người ta không dùng chữ Mùi thay cho Vị để nói “Mùi hôn phu - Chồng chưa cưới, Mùi thành niên – Chưa tới tuổi thanh niên.

Cách dùng chữ Mùi như trên tương ứng với nghĩa cổ nhất của Mùi chỉ thời gian/Thập Nhị Chi.

Tác giả Đặng Tiến nói rỏ và đơn giản Mùi/Vị có nghĩa là Dê, tức năm Dê hay năm Mùi. Còn ông Nguyễn Cung Thông thì cắt nghĩa theo khoa học nên rất phức tạp. Người không giỏi chữ Hán và chữ Nôm khó theo dõi. Cỏ May chỉ biết nhắm mắt tin theo lời gỉải thích của ông mà thôi.


Ở Miền Trung có bài hát ru em trong đó có chữ Mùi/Muồi. Không biết phải khi viết lại từ lời hát, người ta tôn trọng luật chánh tả mà viết mùi thành muồi?

“Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi (muồi)
Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi,
Con dê chín mùi (muồi) làm thịt em ăn”.

Dê là biểu tượng giàu ý nghĩa

Theo sách vở, Dê xuất hiện từ thời tiền sử cùng với loài người. Dê có mặt trong đời sống vật chất và tâm linh của lơài người. Thời Hồng Bàng, người Việt đã biết "giết trâu dê làm đồ lễ". Nghĩa là con dê đã được nuôi làm gia súc và sử dụng vào việc tế lễ.

Biểu tượng Dê khá phức tạp. Theo thần thoại hi-lạp, Dê Cái là hình ảnh đáng kính yêu vì là nghĩa mẫu của thần Zeus, vị thần của các thần. Dê còn là hình ảnh con người gian nan vượt núi trèo non để mưu sinh và đeo đuổi lý tưởng. Sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh và sự phồn thịnh.

Ngược lại, dê đực tượng trưng cho sức mạnh nam tính, sự hùng dũng và nhu cầu tính dục. Mà thật vậy, chỉ cần một con đực có thể phục vụ cả đàn dê cái mà vẫn giử được phong độ tay chơi như thường.

Trông gương Dê bản lảnh như vậy, người đời ai mà không bái phục nên Dê mới được tôn lên hàng Sư Phụ!

Tuy vậy, miệng đời thường ác nên biêu ríu Dê. Người ta gọi những người đàn ông thấy phụ nữ là muốn nhảy xỏm tới là Dê. Người dê thiếu văn minh bị đặt tên là dê xồm và còn bị xỉ vả nặng lời:

Dê xồm ăn lá khổ qua

Ăn nhằm sâu rợm, chết cha dê xồm:

Hoặc ác hơn khi người phụ nữ bị dê thiếu lịch sự, không chịu được nữa, bèn nguyền rủa:

Phượng hoàng đậu nhánh sa kê
Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi.

Kẻ dê ra vẻ đạo mạo thì đó là dê cụ. Người thấy gái đẹp thì tìm cách kín đáo “tiếp cận” bằng thái độ vì không dám ngỏ lời bị mang tiếng là người có máu dê.

Chưa đủ. Tên Dê còn được dùng thành động từ: dê gái.

Thật tội nghiệp cho Sư Phụ. Người ta chê cười Sư Phụ nhưng trong thâm tâm ai cũng mong muốn được bản lảnh như Sư Phụ.

Nhưng vì khó tiếp thu được tài đức của Sư Phụ, người đời nghĩ bắt Sư Phụ bỏ vô bụng thì chắc hưởng được phần nào của Sư Phụ. Vậy là họ ngưởng mộ Sư Phụ theo văn hóa ẩm thực và dinh dưởng.

Dê béo là dê thịt ngon nhất, một món ăn khá hấp dẫn được kể một trong ba cái thú vị mà con người ca ngợi, không ai là không thèm khi nói đến. Tuy nó thiên về vật chất quá, nhưng cũng là người trần mắt thịt mà, xin đừng chấp. Vả lại cũng vì Sư Phụ khiêu khích thôi:

Thế gian, ba sự khôn chừa

Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ (Ca Dao).

Ăn được thịt Sư Phụ không khác gì ma quỉ thèm ăn được thịt Đường Tam Tạng để sống thọ ngàn năm. Ăn thịt Sư Phụ thì thanh niên chạy rong khắp xóm làng, các cụ bảy tám mươi thì khỏi cần phải 1 viên viagra để giúp đi tiểu cho khỏi ướt mủi giày, mà còn khôi phục lại thời oanh liệt trong giấy lát.

Chính Cố Giáo sư Đông Y Đỗ Tất Lợi quả quyết: ” Thịt dê có tánh nhiệt và có tác dụng trợ dương, bổ huyết, rất tốt cho phụ nũ mới sanh nở ”. Ngày nay, người ta biết rỏ thịt dê bổ dưởng, không mở, không có cholesterol, cho nhiều chất dinh dưởng hơn cả thịt bò.

Hầu như tất cả bộ phận của cơ thể dê đều có thể xử dụng để làm thuốc. Dái dê và thận dê giàu tánh bổ dương. Xương nấu cao. Thị dê có tác dụng giải độc, bổ huyết, trị choáng váng, đau lưng, chóng mặt, nhức đầu, …

Thật tội nghiệp cho Sư Phụ. Thân của Sư Phụ, người đời làm thịt để họ bồi dưởng. Lúc khỏe mạnh, Sư Phụ còn ra sức kéo xe phục vụ nhà vua vào buổi tối. Nhưng vai trò của Sư Phụ là lãnh đạo nhà vua vì Sư Phụ đi đâu, nhà vua theo đó:

“… Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào …” (Cung oán)

Năm nay, Sư Phụ tới, phải chăng là thời của Sư Phụ:

“Mã đề, dương cước, gian hùng tận …”? (Sấm Trạng Trình: anh hùng tãn)

Xưa nay, Sư Phụ đã bao nhiêu lần xuất hiện nhưng tình hình xứ Viêt nam của Sư Phụ chi tồi tệ thêm dưới chế độ cộng sản. Lời tiên tri của Cụ Trạng Trình không ứng nghiệm. Phải chăng vì Cu Trạng dạy “anh hùng tận ” mà ở Việt nam với cộng sản không có anh hùng? Lénine, Staline, Mao đều là những tên gian hùng. Hồ Chí Minh là tên tà-lọt của trùm gian hùng.

Xin mời nghe một bà mẹ ở Hà nội định nghĩa anh hùng: “ Con ơi! Con nên nhớ đảng ta là đảng anh hùng. Con ra tới ngò là gặp ngay anh hùng. Đi, con nhớ cẩn thận khóa xe đạp bằng 6 khóa. Con nhé. Cả gia tài của nhà ta đó!”

Nguyễn thị Cỏ May

Tạp chí TIMES kết thúc cuộc phỏng vấn với Tổng thống Trump nhân dịp đánh dấu 100 ngày ông ta quay lại Tòa Bạch Ốc (20/1/2025) bằng câu hỏi, “John Adams, một công thần lập quốc, vị tổng thống thứ hai của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1797 – 1801) đã nói chúng ta là một quốc gia pháp trị, chứ không phải bất kỳ người nào, Tổng thống đồng ý không?” Donald Trump trả lời: “Chúng ta là một chính phủ do luật pháp cai trị, không phải do con người sao? Ồ, tôi nghĩ vậy, nhưng anh biết đấy, phải óc ai đó quản lý luật pháp. Bởi nên, con người, nam hoặc nữ, chắc chắn đóng một vai trò trong đó. Tôi không đồng ý với điều đó 100%. Chúng ta là một chính phủ mà con người tham gia vào quá trình thực thi luật pháp, và lý tưởng nhất là anh sẽ có những người công chính như tôi.”
Chuyện “Ngưng bắn…” kể cho độc giả Bloomington ngày ấy, đã là chuyện quá khứ. 30 tháng Tư năm sau, cuộc chiến trên đất Việt tàn. Chủ nghĩa Cộng sản, nguyên nhân của nạn binh đao, dìm quê hương tôi trong biển máu hàng thập kỷ, cuối cùng đã hưởng hết 70 năm tuổi thọ. Tưởng chuyện đau thương trong một ngày ngưng bắn của gia đình, vì sự an toàn, phúc lợi của loài người, phải trở thành cổ tích. Vậy mà hôm nay, trong thời đại này, chuyện buồn chiến tranh của tôi đang tái diễn...
Mười năm, 20 năm, và nhiều hơn nữa, khi lịch sử kể lại buổi chuyển giao quyền lực hứa hẹn một triều đại hỗn loạn của nước Mỹ, thì người ta sẽ nhớ ngay đến một người đã không xuất hiện, đó là cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama.
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...
Ngày 30 tháng 4 năm 2025 là một ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam đương đại, cũng là dịp để chúng ta cùng nhau hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những gì mà dân tộc đã sống trong 50 năm qua. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc chiến tranh và đáng lẽ phải mở ra một vận hội mới huy hoàng cho đất nước: hoà bình, thống nhất và tái thiết hậu chiến với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc. Nhưng thực tế đã đánh tan bao ước vọng chân thành của những người dân muốn có một chỗ đứng trong lòng dân tộc.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Sau ngày nhậm chức, Tổng thống Donald Trump đã ban hành hàng loạt sắc lệnh hành pháp và bị một số tòa án tiểu bang chống đối và hiện nay có hơn 120 vụ tranh tụng đang được xúc tiến. Trump cũng đã phản ứng bằng những lời lẽ thoá mạ giới thẩm phán và không thực thi một số phán quyết của tòa án. Nghiêm trọng hơn, Trump ngày càng muốn mở rộng quyền kiểm soát hoạt động của các công ty luật và công tố viên nghiêm nhặt hơn. Trong khi các sáng kiến lập pháp của Quốc hội hầu như hoàn toàn bị tê liệt vì Trump khống chế toàn diện, thì các cuộc tranh quyền của Hành pháp với Tư pháp đã khởi đầu. Nhưng Trump còn liên tục mở rộng quyền lực đến mức độ nào và liệu cơ quan Tư pháp có thể đưa Trump trở lại vị trí hiến định không, nếu không, thì nền dân chủ Mỹ sẽ lâm nguy, đó là vấn đề.
Khi Bạch Ốc công bố công thức tính thuế lên các quốc gia với các thang thuế khác nhau, người ta nhận ra đó chỉ là một một phép tính toán học căn bản, chẳng liên quan đến kinh tế học hay mậu dịch lẫn các dữ liệu thực tế nào cả. Chúng chỉ là những số liệu vô nghĩa và phi lý. Việt Nam không đánh thuế hàng Mỹ đến 90% và đảo hoang của những chú chim cánh cụt có liên quan gì đến giao thương. Điều này thể hiện một đối sách vội vã, tự phụ và đầy cảm tính, cá nhân của Donald Trump nhằm tạo áp lực lên thế giới, buộc các nước tái cân bằng mậu dịch với Mỹ hơn là dựa trên nền tảng giao thương truyền thống qua các hiệp ước và định chế quốc tế. Hoặc nhỏ nhặt hơn, để trả thù những gì đã xảy ra trong quá khứ: Trump ra lệnh áp thuế cả những vật phẩm tâm linh từ Vatican đưa sang Mỹ như một thái độ với những gì đức Giáo Hoàng Francis từng bày tỏ.
Tổng thống Donald Trump vào hôm qua đã đột ngột đảo ngược kế hoạch áp thuế quan toàn diện bằng cách tạm dừng trong 90 ngày. Chỉ một ngày trước đó đại diện thương mại của Trump đã đến Quốc Hội ca ngợi những lợi ích của thuế quan. Tuần trước chính Trump đã khẳng định "CHÍNH SÁCH CỦA TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI". Nhưng Trump đã chịu nhiều áp lực từ những nhân vật Cộng Hòa khác, các giám đốc điều hành doanh nghiệp và thậm chí cả những người bạn thân thiết, đã phải tạm ngừng kế hoạch thuế quan, chỉ duy trì thuế căn bản (baseline tariff) 10% đối với tất cả những đối tác thương mại.
Trật tự thế giới là một vấn đề về mức độ: nó thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào các yếu tố công nghệ, chính trị, xã hội và ý thức hệ mà nó có thể ảnh hưởng đến sự phân phối quyền lực trong toàn cầu và ảnh hưởng đến các chuẩn mực. Nó có thể bị thay đổi một cách triệt để bởi các xu hướng lịch sử rộng lớn hơn và những sai lầm của một cường quốc. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, và gần một năm trước khi Liên Xô sụp đổ vào cuối năm 1991, Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã tuyên bố về một "trật tự thế giới mới". Hiện nay, chỉ hai tháng sau nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Donald Trump, Kaja Kallas, nhà ngoại giao hàng đầu của Liên minh châu Âu, đã tuyên bố rằng "trật tự quốc tế đang trải qua những thay đổi ở mức độ chưa từng thấy kể từ năm 1945". Nhưng "trật tự thế giới" là gì và nó được duy trì hoặc phá vỡ như thế nào?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.