Hôm nay,  

Mơ Trong Nỗi Nhớ

12/04/201500:01:00(Xem: 7745)
Mơ Trong Nỗi Nhớ
Nguyễn Ngọc Phúc
 
Saigon không phải là nơi sinh đẻ của tôi nhưng được lớn lên theo dòng đời với gia đình, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, bạn bè, truờng học và vợ con, tôi thương yêu Saigon vô cùng.
 
Với tôi, một quê hương rộng lớn kể từ Bến Hải cho tới mũi Cà Mâu, Saigon được xem như là một quê huơng thu nhỏ lại của tôi.
 
Năm 1979, sau nhiều lần cố gắng vượt biên không thành cộng thêm với tù tội và mất việc, ngày 18 tháng 10 năm 1982,tôi cùng vợ con và gia đình đã rời Saigon sang Mỹ theo diện ODP.
 
Mang theo cả một quãng thời gian dài hơn 30 năm với Saigon trên vai, tôi đã bỏ biết bao nhiêu thứ trong hành trang ly hương.
 
Nơi đất lạ quê nguời, hành trang đã đuợc mở ra.
 
Mình tuởng có thật là nhiều thứ mang theo nhưng cuối cùng chỉ còn vài bộ quần áo made in Vietnam, đồ dùng cá nhân không kể một số áo lạnh của tỵ nạn IRC Mỹ cho ở phi truờng Seattle, giấy tờ cá nhân và gia đình. Chắc chắn, không quên hằng trăm hình ảnh kỷ niệm ngày xưa.
 
Chẳng có gì hơn một valy xách tay  nhỏ đem theo nhưng bên cạnh đó, tôi không nhớ mình còn có một bao hành lý to lớn của kỷ niệm, đau thuơng và nhớ nhung đầy ở trong tim và ký ức.
 
Túi xách nhỏ được mở và quần áo được lấy ra dùng. Chẳng mấy chốc, chúng mau chóng bị thay thế bằng nhãn hiệu Made in USA.
 
Từ đó, túi xách nhỏ và những gì made in Viêtnam đã được xếp vào chỗ quên lãng không tên và rồi biến mất trên cõi đời này lúc nào không hay, không một chút thắc mắc luyến tiếc. Điều lạ là bao hành lý to lớn của kỷ niệm, đau thuơng và nhớ nhung vẫn còn nguyên trong người.
 
Những mảnh vụn của cuộc đời không biết đã đuợc từ đâu bỏ vào và từ bao giờ nhưng không có tên, thứ tự hay ghi chú. Cho nên, thời gian đã đứng lại trong bao hành lý kỷ vật đó.
 
Nó không cồng kềnh và chẳng được gói ghém cẩn thận, vừa to vừa nhỏ khác nhau. Nó có thể rực rỡ đẹp đẽ hay xấu xí lạ lùng và nằm trên khung đen trắng nhạt nhòa hay mang nhiều mầu sắc tươi sáng  khác nhau nhưng kỳ diệu thay cả một kho tàng nhặt nhạnh khổng lồ lung tung của hàng chục năm dài  như thế trong bao nhưng sao vẫn thấy nhẹ tênh bồng bềnh trên vai.
 
Có một lớp bụi mỏng của thời gian phủ mờ trên đó nhưng vẫn không che dấu nổi những gì bên dưới với gia đình, vợ chồng, con cái, bạn bè, xóm cũ, làng xưa và nhứt là của Saigon.
 
Lục lọi những gì của Saigon nằm trong ngăn kéo đời mình, tôi đã lôi ra được biết bao mầu kỷ niệm.
 
Có những cái nhạt nhòa đến độ chỉ nhìn thấy bóng mờ của thời gian. Chúng ở quá xa để kéo về và đến gần thì mọi vật tự nhiên tan biến đi như mù khơi bay theo mây trời chiều.
 
Mọi người trong thi văn, hội họa và âm nhạc nhắc đến quê xưa làng cũ, có cây đa cao ngất từng xanh, hay kể lể về buổi trưa hè sau mái liếc dừa và bụi tre, có em bé chăn trâu với tiếng sáo diều vi vu trên đê hay đôi cò trắng tung bay giữa trời.
 
Quê xưa làng cũ của tôi không có cảnh nên thơ và thanh thản đó. Quê hương nhỏ bé của tôi chỉ là cái xóm, cái khu có tên bình dân gọi là Bàn Cờ, nơi xóm hẻm quanh co, nhà ngõ chật hẹp, cột điện và giây nhợ giăng rối quay,  không cây cối bóng mát bên đường.
 
Ở một nơi, sáng không có tiếng gà gáy sớm gọi, trưa không có một bóng dâm để núp buổi nắng hè và rồi cũng không có gió chiều để thương nhớ bao nhớ nhung.
 
Tôi đã lớn lên với tiếng hàng rong rao bán đều đặn từ sáng sớm bình minh cho tới quá nửa đêm thanh vắng.
 
Chỉ nghe tiếng rao hàng, tôi biết mình đã đến giờ thức dậy hay nửa đêm đã về hay chưa.
 
Tôi vẫn nhìn thấy đuợc tại góc đuờng Phan Đình Phùng và Bàn Cờ, bên hông tiệm bán thuốc tây, mỗi đêm, có một xe chiên bánh tiêu và dầu cháo quẩy của một chàng trai  lùn nguời Hoa dễ thương đứng chiên, nói tiếng Việt giọng Nam rặt không thua nguời Bàn Cờ. 
 
Ánh sáng của bếp chảo làm lung linh bóng hình nguời mua và lạp lòe nỗi cô đơn im lặng của nguời bán.
 
Nguời mua và nguời bán chẳng ai nhiều lời với nhau đến độ biết nhau và gặp nhau cả chục năm thế nhưng cho đến lúc này, tôi cũng không biết tên chàng ta là gì?
 
Khi mọi nguời đã lên giường tìm giấc ngủ thì văng vẳng vào lúc nửa đêm đầu xóm, có tiếng rao hàng mệt mỏi mời ăn  “ nem nướng ” của một bà già Huế mảnh mai ốm yếu, chít khăn rằng, quẩy gánh trên vai, lắc lư buớc vào xóm, tưởng như đi không nổi qua bóng đêm dài vì gánh hàng quá nặng với nào là bếp nướng, thịt thà, rau cỏ, chén dĩa vv.
 
Thỉnh thoảng, đặt gánh trước cửa nhà tôi, bà già than thở “hôm nay, ế quá, cô cậu ăn dùm dì miếng nem đi”
 
Trong bóng đêm, tôi không trông thấy khuôn mặt sầu bi ế ẩm của bà nhưng nghe giọng nói bấy nhiêu đó cũng đủ làm cho chúng tôi thấy không thể nào từ chối lời mời này của bà mặc dù không đói.
 
Có khi thèm một đĩa bánh cuốn Lạng Sơn hay một tô phở Chua hoặc một chén cháo xườn, tôi phải mất cả nửa tiếng đồng hồ chờ đợi vài cái bánh cuốn nhân thịt cuốn méo mó xấu xí đưa ra từ một cửa hàng bánh cuốn Lạng Sơn trong xóm Bàn Cờ, cách nhà tôi khoảng 50 mét.
 
Chờ đợi nhưng đuợc giết thì giờ vì phải nghe những lời bà bán bánh cuốn chửi chó mắng mèo đến chồng con.
 
Một tay thì đổ bánh cuốn trên khung, một tay thì quậy nhân thịt chiên bằm trên chảo vàng cháy nhưng đầu và miệng thì luôn luôn phát thanh hướng vào trong nhà cho chồng con nghe.
 
Khách hàng ngồi nghe hay không nghe không phải là chuyện của bà bán hàng. Cho nên, cái  bánh cuốn được kéo ra khỏi nồi hấp, trải lên mâm nhôm, đổ một ít nhân thịt cháy vào giữa và cuốn lại nhanh đến độ bất kể nghệ thuật méo tròn xinh xắn gọn gàng như thế nào.
 
Cuối cùng, cái dị hình lập thể xấu xí nhăn nhúm bèo nhèo như tấm giẻ rách trắng nhỏ được đặt trên đĩa đưa ra cho khách.
 
Đến khi có chén nước mắm pha với thịt bánh cuốn chiên vàng cháy trộn lẫn đem ra, tôi chẳng còn nhớ những lời gì từ bà bán bánh cuốn phát thanh tát nuớc xối xả vào mặt chồng con.
 
Bỏ một tí bánh cuốn vào cho ngập chén nuớc mắm, xong sắn ra từng miếng nhỏ, đưa lên miệng, không quên xen lẫn với vài miếng nhân thịt vàng cháy béo ngậy trộn trong nuớc mắm.
 
Nó vừa mặn, vừa ngọt, vừa đậm đà mà vừa cay, ngon làm sao thế.
 
Nhai mà không dám nuốt vội vì sợ mất cái ngon và nước bọt đang từ từ đổ ra ào ạt trong miệng từ chân răng và miệng luỡi.
 
Thành ra, cái nhăn nhúm giẻ rách mầu trắng trên đĩa đó cuối cùng cùng được sung sướng êm ả nuốt trôi vào bụng nhờ cái vị ngọt, cay, mặn và đậm đà này.
 
Trăm lần như một, nửa tiếng đồng hồ sau , tôi luôn luôn bị Tào Tháo ruợt bắt đầu từ lâm râm bụng dạ, sau đó, không thể chần chờ lâu hơn nữa, phải nhập viện W.C tức khắc.
 
Nhưng chuyện nhỏ này không bao giờ có thể cấm tôi tránh xa cửa hàng bánh cuốn Lạng Sơn này đuợc.
 
Tôi vẫn đến ăn và tôi vẫn nhập viện W.C nửa giờ sau đó đều đều. Nó gần như là một phần tự nhiên nằm trong menu của món bánh cuốn Lạng Sơn Bàn Cờ.
 
Đôi khi nghe phát thanh mãi cũng chán, tôi mang ra một cái đĩa không của mình để lại đó chờ order to go và nửa tiếng đồng hồ sau, chạy ra pick up.
 
Bây giờ, nhờ văn minh của mạng lưới Internet toàn cầu và ông H.C.Đ, tôi mới chẩn được bệnh và tìm ra sự quan hệ giữa bánh cuốn, nước mắm của cửa hàng bánh cuốn Lạng Sơn và viện W.C.
 
Đó là hội chứng bột ngọt.
 
Tên khoa học gọi là Monosodium Glutamate hay Sodium Glutamate, gọi tắt là MSG. Người Saigon gọi là bột ngọt, người Hanoi gọi là mì chính.
 
Thay vì vào viện W.C , tôi đã may chẳng bao giờ phải nhập viện C.R ( Chợ Rẫy)
 
Năm 2003, tôi trở về Saigon lần đầu tiên sau 21 năm xa cách.
 
Nhìn thành phố quê huơng qua cửa sổ phi cơ khi nghiêng mình đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, lòng nôn nao bồn chồn dữ dội vì không biết ở duới đất kia có còn một chút gì để nhớ để thuơng không hay ở xóm Bàn Cờ ngày xưa đó, không biết xe bánh tiêu, gánh nem nướng, hàng bánh cuốn Lạng Sơn bây giờ ra sao.
 
Một tuần sau và chỉ một tuần thôi, ngày lên phi cơ trở về Mỹ và khi ngồi viết lại những cảm nghĩ này, tôi biết tôi có một nỗi buồn mới, nỗi buồn không thể nào cởi bỏ đuợc, nỗi buồn không bao giờ buông rơi đuợc, nỗi buồn không thể nào tha thứ đuợc vì tôi đã tự mình lấy ra trong ngăn kéo cuộc đời những khung hình kỷ niệm xưa của Saigon, tôi đã đánh rơi và làm nó bể tan nát trên các vỉa hè và ngõ ngách của Bàn Cờ rồi vỡ vụn trên đường phố của Saigon khi quay về thăm chốn xưa.
 
Dở lại trang sách cũ, tôi tuởng sẽ đuợc tô lại một lớp mầu tươi mới trên phố xưa cảnh cũ nhưng….
 
 Buồn Ơi! Tôi không tìm được đường xưa trở về.
 
Tôi mơ sẽ đuợc ngồi lại êm ả ở dưới mái hiên một quán cà phê nhỏ vỉa hè ngã tư Phan Đình Phùng và Bàn Cờ với một chút nhạc tình ca văng vẳng bên tai năm nào:
 
………..“ Em tan trường về đường mưa nho nhỏ…”
               Em tan trường về đường mưa nho nhỏ
 
cùng bạn bè lặng lẽ nhìn đời vui mắt qua lại và tận huởng nỗi bình yên êm ấm ngày xưa nhưng quanh tôi ở đây, có cả một dòng đời 360 độ đang quá ồn ào, cuồn cuộn, bụi mù, nguợc xuôi và hối hả.
 
Năm chữ nghĩa này không biết đã đủ để vẽ được khuôn mặt mới mệt mỏi xô bồ của Saigon chưa? Riêng tôi, quá nhiều.
 
Hạnh phúc không còn một chỗ đứng chen chân trong khói mù ngộp thở đó. Tôi không biết nếu có tìm được góc phố xưa trở về và đứng ở đấy, tôi phải định nghĩa hạnh phúc như thế nào.
     
Đây là một lần và là một lần duy nhứt, tôi mở ngăn kéo ra để xem gói hành trang xa xứ mà tôi cất dấu trong người. Tôi tự hứa sẽ không bao giờ lấy ra xem thêm những mầu kỷ niệm khác nghĩa là trở về lần thứ 2.
 
Tôi đã thật sự trả lại Saigon những gì của Saigon.
 
Hôm nay, không còn cuồn cuộn ồn ào và bụi mù hối hả nguợc xuôi ở đây, tôi biết hình như mình đã tìm được một bến đỗ để đứng lại đón chờ hạnh phúc đang tới.
 
Dù cũng chỉ là hình như nhưng chắc chắn tôi biết những gì của Saigon còn lại nằm trong túi hành trang mầu kỷ niệm của tôi mới thật sự của riêng tôi.
 
Ngoài ra, tôi đã trả hết cho Saigon những kỷ vật tôi còn mang trong người từ ngày ra đi hơn 30 năm trước đây.
 
Cuối cùng, rồi trôi theo dòng đời ở đây, hành trang mầu kỷ niệm có lẽ sẽ được xếp lại cũng giống như những ngày đầu tiên tôi đặt chân đến bến bờ tự do sau 30 tháng 4 năm 1975 này :
 
“Từ đó, túi xách nhỏ và mọi thứ đã được  xếp vào chỗ quên lãng không tên và rồi biến mất trên cõi đời này lúc nào không hay, không một chút thắc mắc luyến tiếc”.
 
Trước khi xếp lại lần cuối cùng, tôi đã không quên gói vào đó một dòng nhạc riêng của mình như một bi khúc của bản trường ca ước mơ, một tấu khúc khi mở đầu đã là kết thúc cho Saigon và cho một tình yêu đã mất, chỉ còn MƠ TRONG NỖI NHỚ.
 
Đấy chính là tấm hình mầu cuối cùng không mệt mỏi của Saigon, chắc chắn tôi sẽ để riêng trong bao kỷ vật.
 
Nó sẽ không bao giờ được xếp vào chỗ quên lãng hay biến mất trên cõi đời này.
 
Chỉ có tôi biến mất mà thôi.
 
Dù Xa, Dù Xưa, Vẫn Thương Nhớ.
                                                                  
MƠ TRONG NỖI NHỚ
 
Saigon ơi!
 Tên ngày xưa gợi giấc mơ hồng
Saigon xưa
 Tim còn vương nỗi nhớ thương
Saigon thân yêu ngày qua
Saigon vẫn như ngàn năm
Tên hát hát vang
Vượt biển khơi
Về với núi sông
 
Từ ngày xa đó.
 Theo từng bước về
  Tình hồng mơ
Đường thênh thang
 Nghe chiều rơi
 Chút mưa buồn
Nụ hôn xưa
 Chưa kịp trao
 Tim vỡ tan rồi
Thương cuồn cuộn trôi
Nỗi nhớ nhung
 
Saigon ơi!
 Tôi vẫn tin
 Ngày nắng mai hồng
Ngày trên môi
Tôi chợt nghe tiếng yêu thương
Gửi về nơi hương nồng xưa
Một trời thương nhớ
Tôi còn mơ
Việt Nam tiếng hát vang
Bài tình ca
Yêu đất nước phố xưa
 
Quê hương xa
Quê hương xưa
Thương nhớ
  
 Cám ơn bạn đã đọc.
 
 California, kỷ niệm mỗi tháng 4 trở về.

xin mời nghe ca khúc "Sài Gòn, Mơ Trong Nỗi Nhớ":
https://youtu.be/pE6zRmfxDBw
 
 Nguyễn Ngọc Phúc


.
,

Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
Trong một thế giới vẫn còn chìm trong tiếng súng của các cuộc chiến ở Ukraine, Gaza, Iran và nhiều nơi khác, Giải Nobel Hòa bình năm 2026 mang một ý nghĩa vượt xa khuôn khổ của một danh hiệu quốc tế. Bên cạnh ý nghĩa tôn vinh những cá nhân hay tổ chức đã góp sức cho hòa bình, cũng là lời nhắc nhở rằng sinh mạng người, nhân phẩm, lòng từ bi và sự thật vẫn có giá trị ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của nhân loại. Khi chiến tranh thường ca ngợi sức mạnh của vũ khí, Nobel Hòa bình hướng sự chú ý của thế giới đến sức mạnh của lòng từ bi: những bác sĩ cứu chữa bệnh nhân giữa bom đạn, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người dám lên tiếng cho công lý và những cộng đồng không từ bỏ hy vọng. Giải thưởng có ý nghĩa rằng hòa bình không chỉ là sự chấm dứt chiến tranh, mà còn là sự bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền được tồn tại của mọi con người.
Tối 5/10, tại một cuộc mít tinh ở Grand Island, Nebraska, Donald Trump đã nói một câu mà chưa người tiền nhiệm nào của ông từng nói. Trump biện hộ cho giá năng lượng tăng vì cuộc chiến với Iran, gọi đó là cái giá nhỏ để giữ an toàn cho nước Mỹ và thế giới. Chưa thỏa mãn với lời biện hộ, Trump nói Iran có thể xóa sổ một thành phố, vậy thì “hãy để họ xóa sổ Los Angeles đi; hãy để họ xóa sổ San Diego đi. Đó vẫn là một cái giá rất nhỏ và chiến tranh sẽ sớm kết thúc.” Đám đông ủng hộ vỗ tay kèm những tiếng reo hò. Họ là những người đang mặc áo tô điểm bằng quốc kỳ, đội nón đỏ MAGA.
Người ta thường nói, giữ cơ nghiệp đã khó, giữ gia phong còn khó hơn. Trong chính trị cũng vậy. Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi thắng lại; có thể theo đuổi một chính sách sai lầm rồi sửa đổi; thậm chí có thể trải qua một thời kỳ suy yếu rồi vẫn có thể phục hồi. Nhưng khi một chính đảng bắt đầu đánh đổi những tiêu chuẩn từng làm nên danh nghĩa và uy tín của mình để đạt lợi ích trước mắt, cái mất đi là danh dự — thứ không thể tính bằng quyền hay bằng tiền.
Theo một cuộc thăm dò mới của Reuters/Ipsos công bố hôm thứ Hai, 21/9, tỷ lệ ủng hộ dành cho Donald Trump đã giảm xuống còn 32%, mức thấp nhất trong sự nghiệp chính trị của ông ta. Trong lúc đó, các thành viên cùng đảng Cộng Hòa tỏ ra bất bình trước cách Trump xử lý vấn đề chi phí sinh hoạt trong bối cảnh cuộc chiến tại Iran vấp phải sự phản đối của công chúng. Tom Nichols của The Atlantic chỉ rõ hơn mức độ ủng hộ dành cho Trump hiện đang dao động quanh “tầng số” của George W. Bush trong nhiệm kỳ hai, và thậm chí có nguy cơ tụt xuống mức thấp kỷ lục như thời kỳ cuối nhiệm kỳ của Richard Nixon. Đất nước và chính quyền của tổng thống thứ 47 thuộc đảng Cộng Hòa đang gặp khó khăn trên mọi phương diện.
Án tử hình là một phần của lịch sử Hoa Kỳ từ thời thuộc địa. Vụ hành quyết đầu tiên xảy ra ở Jamestown, Virginia, năm 1608. Trong thời kỳ đầu, án tử hình áp dụng cho rất nhiều tội danh, không chỉ giết người. Sang thế kỷ XIX, các tiểu bang bắt đầu thu hẹp phạm vi tội danh bị xử tử và chuyển các cuộc hành quyết từ nơi công cộng vào nhà tù.
Trump có thể chi một triệu đô la để van nài "Love Me.” Trump có thể phát nó trong các trận bóng bầu dục ngày Chủ nhật và vào tối thứ Bảy. Ông có thể dùng tiền thuế của dân để trả, nhưng Trump có thể khiến quốc gia “Love Me” hay không, đó là chuyện không nằm trong con số tài chính. Nước Mỹ “mua” nền Dân chủ bằng xương máu của tiền nhân, nó không thể bị rao bán. Tình yêu của những hậu bối cũng thế.
Nhìn chung, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức về chất lượng, công bằng trong tiếp cận giáo dục, áp lực học tập và thi cử, nguồn lực, quản trị nhà trường, cũng như khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ...
Một ngày của tháng Chín, khi mùa bầu cử giữa nhiệm kỳ chỉ còn chừng sáu tuần lễ, tờ New York Times công bố bài phỏng vấn độc quyền với Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez (AOC), thuộc đảng Dân Chủ, New York. Cô phát biểu một câu, nghe không giống khẩu hiệu tranh cử, mà giống như kể lại lời người mẹ tâm sự với cô con gái đang bối rối trước một quyết định quan trọng của cuộc đời. “Có ý kiến cho rằng đây là một thời điểm chính trị vô cùng đặc biệt, và trong chính trị, thường thì ta chỉ có duy nhất một cơ hội,” AOC nói. “Và cũng như trong cuộc sống nói chung vậy, cuộc đời sẽ không chờ đợi cho đến khi bạn sẵn sàng mọi thứ thì sự việc mới diễn ra. Đôi khi, chính cuộc đời sẽ tự sắp đặt mọi thứ để kiến tạo sẵn sàng cho bạn.”
Đã nhắc đến khải hoàn môn thì phải nhắc đến Arc de Triomphe ở Paris, một trong những điểm thu hút du khách hàng đầu của nước Pháp. Được xây dựng theo lệnh của Napoleon Bonaparte vào năm 1806 sau chiến thắng vang dội tại Austerlitz vào cuối năm 1805 khi quân Pháp đánh tan tác Liên quân Áo-Nga dẫu bị áp đảo hoàn toàn về quân số, tuy nhiên, do những biến động lịch sử nên mất ba mươi năm sau mới có thể hoàn tất và, lúc này, khải hoàn môn không chỉ khắc tên vinh danh những đoàn quân làm nên chiến thắng Austerlitz mà chung cho những người lính đã bỏ mình cho nước Pháp, từ những cuộc chiến của Napoleon đến những cuộc chiến của chính quyền Cách Mạng với thù ngoài, nghĩa là, theo ngôn ngữ chính thống của bộ máy cai trị trên đất nước chúng ta, vòng nguyệt quế được quàng lên ngực “cách mạng” và cả “ngụy”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.