Hôm nay,  

Baltimore Hay Baltiless?

02/05/201500:00:00(Xem: 7511)
Sự thật đen trắng tại Hoa Kỳ…

Tuần qua, không chỉ có người Việt chúng ta mà cả Thủ tướng Nhật Shinzo Abe cũng ngậm ngùi rồi ngẩn ngơ về nước Mỹ.

Qua chuyến thăm viếng kéo dài một tuần, Thủ tướng Abe vận động việc củng cố quan hệ Mỹ-Nhật về kinh tế lẫn an ninh, lần lượt gặp Ngoại trưởng rồi Tổng thống Mỹ và là Thủ tướng đầu tiên của Nhật được mời đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ trong một phiên khoáng đại. Sau ba ngày ở Thủ đô Hoa Kỳ, ông Abe chỉ muốn bay qua California để sớm thấy một nước Mỹ khác, tại Silicon Valley, San Francisco và Los Angeles, những nơi mà ông muốn học hỏi kinh nghiệm sáng tạo để cải thiện nước Nhật. Tại thủ đô Mỹ, ông chỉ thấy một trường bát nháo.

Lý do là từ khi rời Boston đến thủ đô Washington, ông bị thời sự đẩy qua một góc vì vụ khủng hoảng tại Baltimore. Trong buổi tiếp xúc với báo chí kéo dài một tiếng đồng hồ bên Tổng thống Barack Obama trước Vườn Hồng của tòa Bạch Ốc, vị thượng khách của nước Mỹ đứng làm cảnh mất 15 phút - lọt khỏi màn ảnh truyền hình – khi ông Obama trả lời báo chí về vụ Baltimore.

Đầu đuôi là hôm 19, một thanh niên da đen Freddie Gray của thành phố Baltimore đã chết vì cột sống bị hư hại trong một xe câu lưu của cảnh sát. Sau quá nhiều vụ người da đen tử vong vì cảnh sát, việc Freddie Gray bị chết trong hoàn cảnh mờ ám, và đang được điều tra, đã gây căm phẫn trong cộng đồng da đen, nhiều vụ biểu tình phản đối đã bùng nổ trên nước Mỹ.

Thế rồi, trong ngày tang lễ của Freddie, đám biểu tình biến thành bạo động, đốt nhà, hôi của, tấn công cảnh sát.

Baltimore của tiểu bang Maryland tiếp giáp với thủ đô Hoa Kỳ đã trở thành vùng giao tranh khi cảnh sát bị tràn ngập. Thị trưởng Stephanie Rawlings-Blake, một phụ nữ da đen sáng giá trong đảng Dân Chủ, cùng Ủy viên Cảnh sát Anthony Batts, một người da đen khác, phải cố bảo vệ quyền tự do phát biểu lẫn sự ổn định của thành phố mà 64% là người da đen. Nhưng bà Thị trưởng thất bại hoàn toàn trước cảnh bạo động tràn lan, Thống đốc Larry Hogan, một nhân vật Cộng Hòa, phải ban bố tình trạng khẩn cấp và đưa Vệ binh Quốc gia vào vãn hồi trật tự.

Trong khi đó, phong trào phản đối cảnh sát vẫn lan rộng trên toàn quốc.

Nạn kỳ thị hay ngược đãi người da đen đang thành đề tài tranh luận, khi lần đầu tiên Hoa Kỳ có một Tổng thống da đen là Barack Obama, thuộc đảng Dân Chủ. Từ cánh tả của đảng này đã có nhiều tiếng nói về tình trạng bất công ấy đối với người da đen. Có lẽ, đảng Dân Chủ nên tự kiểm điểm về những gì đã xảy ra từ nửa thế kỷ - không, từ lâu hơn nữa - với vai trò bất ngờ của đảng.

Vì các chính khách ít dám nhìn vào đó, bài này sẽ giúp độc giả chúng ta thấy ra một phần sự thật về nước Mỹ, một nghịch lý bất ngờ.

* * *

Sau thời lập quốc, từ gần 190 năm nay, người da đen tại Mỹ đã là nạn nhân của đảng Dân Chủ.

Lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, một nhân vật Dân Chủ đã đắc cử Tổng thống vào năm 1828. Đó là người hùng Andrew Jackson. Từ khi ra đời vào thời điểm ấy, đảng Dân Chủ là đảng bảo vệ chế độ nô lệ, với nhiều đảng viên có nông trang trồng bông tại miền Nam và cần nhân lực lao động của dân nô lệ được đưa từ Phi Châu qua Mỹ. Trong các cuộc tranh cử từ 1840 đến trước Nội chiến, đảng Dân Chủ đưa chủ trương đó vào chương trình hành động.

Năm 1860, đảng Cộng Hoà với cả hai ứng viên tranh cử tổng thống là Abraham Lincoln và William Seward thì vận động bãi bỏ chế độ nô lệ. Trở thành Tổng thống, ông Lincoln tiến hành việc đó, với cái giá là cuộc Nội chiến (1861-1865) và cả mạng sống của mình.

Khi ấy, đảng Dân Chủ bị rạn trên đường tuyến Nam Bắc. Phe miền Nam đòi bảo vệ quyền sở hữu nô lễ bằng một đạo luật liên bang, miền Bắc thì cho là chỉ nên bảo vệ quyền đó ở cấp tiểu bang, so với miền Nam thì tiến bộ hơn được vài phân.

Sau Nội chiến, chế độ nô lệ được bãi bỏ nhưng người da đen chưa được hoàn toàn giải phóng. Đảng Dân Chủ phản công bằng cách khai triển các đạo luật phân biệt màu da, gọi là Jim Crow laws, và bằng tổ chức Ku Klux Klan (KKK).

Luật Jim Crow được tăng cường từ năm 1877 sau khi Bắc quân rút khỏi miền Nam và người Mỹ da trắng nơi đó khó chịu vì bọn nô lệ cũ còn dám cướp việc làm của họ. Còn tổ chức KKK thì thực tế là lực lượng “dân quân” sử dụng võ khí để bảo vệ quyền thế của người da trắng bằng cách giết hại và thiêu sống người da đen. Khi ấy, các đạo luật bảo vệ quyền mang súng là sáng kiến Cộng Hòa nhằm khai triển Tu chính án Hai của Hiến pháp để giúp người da đen có phương tiện tự vệ!

Một chính khách Dân Chủ, thành viên của tổ chức KKK hắc ám này mới chỉ tạ thế vào năm 2010. Nghị sĩ Robert Byrd. Như nhiều chính khách Dân Chủ khác, ông ta đã từng biểu quyết chống Đạo luật Dân quyền Civil Rights Act năm 1964.

Về đạo luật CRA đó, có vài sự thật cũng phải được làm cho sáng tỏ.

Người ta cứ ngỡ rằng đấy là công trình của hai Tổng thống Dân Chủ là John Kennedy và Lyndon Johnson. Thật ra, Kennedy không có thiện cảm với phong trào tranh đấu cho dân quyền của người da đen vì ông sợ mất phiếu của miền Nam bảo thủ. Ông rất kỵ lãnh tụ Martin Luther King và cho người điều tra đời tư để vu cáo mục sư King mà không thành, vì Kennedy bị ám sát vào Tháng 11 năm 1963 tại Dallas.

Lên kế nhiệm Kennedy, Lyndon Johnson là một chính khách ưu hạng khác của đảng Dân Chủ.

Là người của miền Nam, thuộc tiểu bang Texas, Nghị sĩ Lãnh đạo khối Đa số (Dân Chủ) tại Thượng viện, Johnson từng hóa giải để phá hoại đạo luật CRA năm 1957 do Tổng thống Cộng Hòa Dwight Eisenhower đề nghị. Johnson còn thường xuyên bỏ phiếu chống lại các luật lệ bảo vệ người da đen. Vậy mà Đạo luật bị Johnson pha loãng để vô hiệu hóa còn bị Nghị sĩ John Kennedy bỏ phiếu chống!

Sau khi Kennedy bị ám sát và lên làm Tổng thống Xử lý Thường vụ, Johnson mới đổi ý và ủng hộ đạo luật Dân quyền vì sẽ phải ra tranh cử Tổng thống vào năm 1964. Nếu còn giữ tinh thần phân biệt đen trắng thì ông sẽ thất cử vì khi ấy đa số dân Mỹ đã ủng hộ chủ trương bình đẳng.

Sau đó là lịch sử. Lyndon Johnson là nhà quán quân tranh đấu cho người da đen với Đạo luật CRA 1964, và lời tuyên bố lạnh người của một chính khách đểu cáng: Tôi sẽ có bọn mọi đen ấy (niggers) bỏ phiếu Dân Chủ trong 200 năm tới! Nhiều người da đen (và cả da vàng) lại quên chuyện ấy rồi.

Họ càng không thấy rằng từ đó, chánh sách đãi ngộ da đen xuất phát từ đảng Dân Chủ và kế hoạch Đại đồng (Great Society) của Johnson mới dẫn đến tình trạng hôm nay: các gia đình da đen bị vỡ tan. Nhiều hộ gia đình thiếu người cha mà chỉ có bà mẹ độc thân, cứ thoải mái có con vì được nhà nước chu cấp.

Từ 1964 đến 2012, số trẻ em ngoại hôn, sinh ra ngoài hôn thú, tăng gấp bốn, từ 7% lên tới 41%. Trong cộng đồng da đen hiện nay, 70% trẻ em ra đời từ các bà mẹ độc thân, và chẳng là nhà xã hội học ta cũng biết rằng tuổi trẻ bất thường ấy rất dễ đưa tới sự nghèo khốn, và tội ác. Tỷ lệ có mức sống bần cùng của người đa đen là 27%, gấp ba dân da trắng, và nạn giết người cướp của liên quan đến người da đen chiếm hơn phân nửa trong xã hội Mỹ dù dân da đen chỉ có 13% dân số toàn quốc. Và nạn nhân của chuyện bạo hành chính là người da đen.

Hiện trường của tình trạng bi thương đó là các thành phố có đông dân da đen và được đảng Dân Chủ lãnh đạo. Baltimore là một thí dụ, thành phố vỡ nợ Detroit là một thí dụ khác. Nhiều lắm.

Người da đen là nạn nhân của người da đen, và trên cùng họ là nạn nhân của các chính khách Dân Chủ do họ bầu lên. Nhiều người trong đảng Dân Chủ đã thành công vượt bậc mà khỏi cần các đạo luật Jim Crow hay KKK. Nhưng người da đen không biết vậy, Thản hoặc như có người biết và nói ra thì bị đả kích là «nô lệ của bọn Cộng Hoà!»

Bao giờ nước Mỹ dám có «Đạo luật Baltiless» để trả lại quyền tự chủ cho người da đen?

Bi hài kịch “ngoại giao cây tre”, với hoạt cảnh mới nhất là “cưỡng bức đặc xá”, đã giúp chúng ta nhận ra rằng, dẫu khác nhau nước lửa, “phóng sinh” và “hiến tế” vẫn có thể hội tụ ở ý nghĩa “triều cống” khi phải chiều lòng hai cường quốc ở hai đầu mút của hai hệ tư tưởng trái ngược nhau. Để đẹp lòng bên này thì phải nhẫn tâm “hiến tế”, mà để làm hài lòng bên kia thì phải diễn tuồng “phóng sinh” để có một dáng dấp khai phóng, cởi mở. “Chiến lược ngoại giao” này, phải chăng, là một trò chơi “ăn bù thua” mà, diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học của Game Theory, là có tổng bằng không?
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.