Hôm nay,  

Niết Bàn

19/09/201500:00:00(Xem: 9933)
Niết bàn, phạn ngữ là Nirvàna, pàli ngữ là Nibbàna, là pháp ấn thứ ba trong Tam Pháp Ấn. Trong Đại Trí Độ Luận, quyển thứ 22, tổ Long Thọ viết: "Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh".

Kinh Tạp A Hàm của thượng tọa bộ Bắc phương, quyển thứ 10, bản chữ Hán cũng có đề cập đến Tam Pháp Ấn như trong Đại Trí Độ Luận. Theo Hán dịch thì Niết bàn được chuyển dịch là Diệt, Tịch diệt, Diệt độ, Tịch, Bất sanh, Vô vi, Giải thoát... Ngoài ra, Niết bàn còn được giải thích khác nhau theo lập trường của Nam Tông và Bắc Tông Phật Giáo.

Niết bàn được xem là mục đích cứu cánh của đạo Phật, chỉ trạng thái tâm thức đã gột sạch hết mọi vô minh phiền não, sự giải thóat khỏi các kiết sử tùy miên, sự đọan diệt hòan tòan mọi tham ái, sự dập tắt tham sân si. Trạng thái an tịnh tuyệt đối không còn bị bốn tướng sanh lão bệnh tử chi phối nữa.

Rất nhiều đoạn Kinh Đức Phật hay dùng phương pháp phủ định để hiển thị Niết bàn, như đoạn sau:

"Đồng nghĩa với Niết bàn giới, này các Tỷ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc."

"Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này các Tỷ kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo tám ngành là con đương đưa đến bất tử." (Tương ưng V - một Tỷ kheo khác (2) - 7)

Có hai loại Niết bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn. Hữu dư Niết bàn là chỉ người đã đạt đến giải thoát khỏi vòng luân hồi, nhưng phần nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô dư Niết bàn là cảnh giới vĩnh viễn khi xả ly phần nhục thể. Hai lọai Niết bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát.

Đức Phật với pháp thoại, giải thích về Niết bàn Hữu dư y và Vô dư y:

"Này các Tỷ kheo, thế nào là Niết bàn giới có dư y ? Ở đây này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là Bậc Alahán, các lậu hoặc đã tận, phạm hạnh đã thành, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy năm căn còn tồn tại, ngang qua năm căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý, vì rằng tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, sân diệt, si diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Niết bàn có dư y."

"Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là Niết bàn giới không có dư y? Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là bậc Alahán, các lậu hoặc đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh tri. Ở đây đối với vị ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỉ ưa thích, sẽ được lắng dịu. Này các Tỷ kheo, Đây gọi là Niết bàn không có dư y." (Phật thuyết như vậy, Duk III, 7 - 443)

Quả Hữu dư và Vô dư còn được giải thích, từ sơ quả đến tam quả Bất hoàn được gọi là Hữu dư. Quả Alahán thứ tư được gọi là Vô dư.

Niết bàn Hữu dư y hay Vô dư y thường là y cứ vào hữu thân hay vô thân, nhưng cả hai lọai Niết bàn này đều khiến cho cái nguyên động lực đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt:

"Này các Tỷ kheo! Thân của đức Như lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này tồn tại thời Chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời Chư thiên và loài người không thể thấy được." (Trường Bộ I, Phạm Võng - 46)

Trạng thái tâm vắng lặng mà thường biết là đương thể của Niết bàn. Thế nên, Niến bàn chính là bản tâm thanh tịnh xưa nay. Nhờ cái đương thể của Niết bàn mà thế gian sinh diệt mới có chổ dựa tối hậu. Niết bàn hay sinh tử rốt cùng cũng chỉ là cái tâm của chúng ta, vì sinh tử (mê) và Niết bàn (giác) chỉ là biểu tượng hai mặt của tâm. Có khi người ta hiểu Niết bàn là một cảnh giới, nhưng là một cảnh giới vi diệu mà ở đây tất cả dục vọng vô minh của cá thể không còn tồn tại nữa, vì thế những người đệ tử Phật muốn biết Niết bàn là gì chỉ có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp vào nguồn tâm của chính mình. Và khi nào ý niệm về TA và CỦA TA không còn năng lực hoạt động trong tâm, thì tự nhiên hành giả sẽ kinh nghiệm được cái "một" cái "Thuần nhất bất tạp" của muôn loài vạn vật. Có thể nói, Niết bàn là chân lý tuyệt đối nó vượt ngoài nhị nguyên và tương đối. Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn không có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường, đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời đại hôm nay, người ta đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm móng thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay. Giáo dục của thời đại không còn là giáo dục đạo đức nữa, mà giáo dục đã thiên về tri thức và hướng ngoại.


Cũng cần lưu ý, Niết bàn không thuộc về những tạo tác hữu vi. Tạo nhiều việc lành thì sinh về các thiên giới, còn mức trung bình thì sinh vào thân giới để hưởng thọ quả báo khổ vui. Cỏi người có những vận mệnh khác nhau vì trong những nhân lành có lẫn lộn nhân ác nhiều hay ít. Và tột cùng các thiện sự chỉ đạt được cao lắm sinh vào các cõi trời dục để hưởng phước báu hữu vi. Thế nên không thể dùng thiện sự trước tướng mà mong đạt đến cứu cánh Niết bàn (Vô vi). Muốn đến cõi sắc và vô sắc mà còn phải tu nhân thiền định, huống nữa là muốn thoát khỏi luân hồi.

Đức Phật thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết bàn:

"Này các Tỷ kheo, có xứ này tại này, không có đất, không có nước, không có lửa,, không có gió, không có hư không vô biên … không có phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau; không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ kheo ! Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Đây là sự đoạn tận khổ đau." (Phật tự thuyết, UD 80 - 381)

Đây là pháp thoại thứ hai liên tưởng đến Niết bàn:

"Này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các Tỷ kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở nay không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi." (Phật tự thuyết, UD 80 - 382)

Và đây là pháp thoại thứ ba liên tưởng đến Niết bàn:

"Cái gì có nương tựa, cái ấy có giao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau." (Phật tự thuyết, UD 81 - 382)

Vì Niết bàn được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định, nên nhiều người hiểu lầm đó là trạng thái tự hủy diệt. Nếu hủy diệt, chỉ là sự hủy diệt dục vọng và mọi ý tưởng sai lầm về Ngã. Niết bàn không thuộc về có, vì không có tướng mạo. Niết nàn không thuộc về không, vì hằng tri hằng giác. Đây là trạng thái thoát ly năm thủ uẩn, là cảnh giới "Phi nhị biên, ly tứ cú, tuyệt bách phi". Trạng thái tâm vắng lặng mà rỏ biết là đương thể của Niết bàn. Cái đương thể này đầy đủ bốn đặc tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì làm sao là hư vô đoạn diệt được ? Thế nhưng, nhiều học giả Phật tử đã coi Niết bàn là hư vô tuyệt diệt. Là đệ tử Phật mà hiểu Niết bàn là cảnh hư vô tuyệt diệt là đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bèn thành tà kiến, và dĩ nhiên là tự mình đã phản bội lại với đức Phật rồi.

Điểm nổi bật của Phật Giáo nguyên thủy coi Niết bàn là "Tĩnh". Ngược lại, nét đặc sắc của Phật Giáo phát triển coi Niết bàn là "Động". Nhưng thực ra tĩnh và động chỉ là hai mặt của cái Một tuyệt đối mà thôi. Đến thời đại A Tỳ Đạt Ma Luận Thư (Thời đại bộ phái) đã quan niệm Niết bàn là một cảnh giới vĩnh tịch. Thắm đượm một màu sắc vô cùng tiêu cực. Phật Giáo phát triển đến thời hưng khởi đã quan niệm Niết bàn mang tính hoạt dụng tích cực hơn. Các vị Bồ tát vì mang đại nguyện độ sinh nên vĩnh viễn hoạt động mà lòng không nhiễm trước thế gian, cái tâm không nhiễm trước đó được mệnh danh là Bất trụ Niến bàn.

Tất cả mọi công hạnh độ sanh của chư Bồ tát cũng từ quan điểm "Chủ động" ở trên mà được an lập. Các Ngài nguyện vĩnh viễn nơi bể sinh tử mà vĩnh viễn nơi bờ Niết bàn, vì sanh tử tức là Niết bàn, một loại Niết bàn rất sinh động. Niết bàn này của Phật giáo phát triển, thực ra cũng chỉ là thừa kế Niết bàn của Phật Giáo nguyên thủy trên phương diện tích cực nhập thế độ sanh mà thôi.

Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Quá khứ đã trôi qua, vị lai thì chưa đến, sự tồn tại chân chính chỉ có thể tìm thấy trong từng sát na hiện tại. Vì thế, Niết bàn chỉ có ở sát na hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Niết bàn cũng là chổ tiềm ẩn của thế giới hiện thực, song song tồn tại với thế gian vô thường, và vô thường chính là dụng lực của Niết bàn vô vi.

Có một thiền khách hỏi:

- Thế nào là Đại Niết bàn?

Sư đáp:

- Hãy nơi sanh tử mà nhận lấy.

(Nguồn: Thư Viện Hoa Sen -- http://thuvienhoasen.org/)

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.