Hôm nay,  

Đông Nam Á Lưỡng Nan

12/04/201700:00:00(Xem: 8469)

...Việt Nam cũng nên giảm dần sự lệ thuộc vào xuất khẩu...

Hội nghị cấp cao tại Hoa Kỳ giữa lãnh đạo hai cường quốc kinh tế số một thế giới trên hai bờ Thái Bình Dương đã kết thúc tuần trước mà chưa có kết quả đột phá. Ít ai ngạc nhiên về chuyện ấy, nhưng ta nên tự hỏi là các nước Đông Nam Á xử trí ra sao trước mâu thuẫn đa diện giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về chuyện này và kết thúc là từ giác độ quyền lợi của Việt Nam.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kỳ trước, khi nói về buổi tiếp xúc đầu tiên giữa lãnh đạo Hoa Kỳ là Tổng thống Donald Trump với lãnh tụ Trung Quốc là Chủ tịch Tập Cận Bình, ông có dự đoán là mâu thuẫn kinh tế giữa hai nước năm nay sẽ chưa bùng nổ thành một trận chiến mậu dịch mà thế giới lo ngại. Nhưng ông cũng nói rằng lãnh đạo Bắc Kinh có thể nhượng bộ Hoa Kỳ một phần có tính chất biểu kiến hay tượng trưng về kinh tế. Thượng đỉnh mà chúng ta có thể gọi là Mỹ-Hoa đó đã kết thúc trong khung cảnh khá bất ngờ về một biến cố quân sự tại Syria ở Trung Đông, nhưng ông kết luận thế nào về cuộc gặp gỡ đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có thể nghĩ đến một cuộc cờ đa diện giữa hai cường quốc từ hai bờ Thái Bình Dương khi lãnh đạo gặp nhau lần đầu và không thể chờ đợi bước đột phá. Thứ hai, yếu tố về an ninh cũng chi phối quan hệ giữa hai nước cho nên mâu thuẫn không chỉ thu hẹp vào kinh tế. Kết thúc hội nghị khá bất thường ấy thì đôi bên cùng đồng ý sẽ nâng cấp đối thoại và cố gắng giải quyết mâu thuẫn về kinh tế trong vòng 100 ngày tới.

- Tôi xin được nhắc lại rằng quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có ba mâu thuẫn lớn mà không duy nhất 1/ tình trạng bất lợi kinh tế về phía Mỹ; 2/ hành vi khiêu khích của chế độ Bắc Hàn khi cứ thử nghiệm hỏa tiễn trong dự án sử dụng võ khí hạch tâm mà Bắc Kinh không can ngăn; 3/ việc Bắc Kinh quân sự hóa vùng biển Đông Nam Á là một trục giao lưu then chốt cho cả khu vực. Chi tiết tôi chú ý là sau hội nghị khi Tổng thống Mỹ nói là chưa có kết quả gì lớn, thì Tổng trưởng Ngân Khố là Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ cho biết là phía Bắc Kinh lại xác nhận rằng việc họ đạt xuất siêu, là bán nhiều hơn mua với Mỹ, cũng gây bất lợi về tiền tệ và lạm phát cho Trung Quốc. Tôi nghĩ chuyện ấy hơn là quyết định của Bắc Kinh về vụ nhập thịt bò Mỹ mới là sự nhượng bộ kín đáo từ phía Trung Quốc, họ bắn tiếng là sẽ tìm cách hạ mức xuất siêu như Hoa Kỳ đòi hỏi. Chúng ta sẽ còn thời giờ theo dõi chuyện này trong suốt năm nay.

Nguyên Lam: Bây giờ chúng ta đi vào tiết mục chính. Thưa ông, các nước Đông Nam Á đều nín thở theo dõi tình trạng đối thoại và có thể là đối đầu giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Qua chuyện đó, phải chăng người ta thấy một nghịch lý là vì quyền lợi kinh tế, các nước trong khu vực đều muốn làm ăn với Bắc Kinh, nhưng lại trông cậy vào Hoa Kỳ ở bên kia Thái Bình Dương để bảo vệ quyền lợi an ninh của họ. Ông nghĩ sao về nghịch lý này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng đáng lẽ ta phải thấy nghịch lý đó sớm hơn vậy. Sáu năm trước, Chính quyền Barack Obama nói đến việc chuyển trục về Đông Á nhưng chẳng làm gì cụ thể trước sự hung hăng của Bắc Kinh trên hai vùng biển mà họ gọi là Hoa Đông và Hoa Nam. Ngày nay, khi ông Trump lên làm Tổng thống thì mọi người đều lo sợ Hoa Kỳ lui về chính sách bảo hộ mậu dịch và gây ra chiến tranh ngoại thương khiến các nước khó làm ăn và dường như Mỹ còn chủ trương tự cô lập là mặc cho các nước phải tự lo lấy về quốc phòng.

- Nhưng nếu nhìn từ phía Hoa Kỳ thì dân Mỹ có thể tự hỏi rằng họ bị thiệt hại trong giao dịch kinh tế với Trung Quốc trong khi xứ nào cũng muốn kiếm ăn nhờ Bắc Kinh mà lại trông cậy vào lá chắn quân sự của Hoa Kỳ. Tôi cho rằng đấy mới là bài toán nan giải hay lưỡng nan vì cả hai ngả đều khó của các nước Đông Á mà người ta nên nhìn ra.

Nguyên Lam: Có lẽ khán thính giả của chúng ta thấy là ta đang đi vào chủ điểm của vấn đề. Thưa ông Nghĩa, sau khi ông Trump đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ, quả thật là nhiều người lo sợ hai việc. Thứ nhất là Hoa Kỳ từ bỏ chủ trương tự do thương mại mà lui về chế độ bảo hộ mậu dịch. Thứ hai là Hoa Kỳ sẽ tự cô lập và không còn muốn lo cho an ninh của xứ nào khác. Thế thì khi cần làm ăn với Bắc Kinh mà lại cũng dưới tầm đạn của Trung Quốc, các nước Đông Á nên nghĩ sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra đấy mới là thảm kịch Đông Á vì khu vực này mới chỉ theo kinh tế thị trường từ 60 năm khi Hoa Kỳ đã thấy ra nhiều bất toàn của tự do mậu dịch và nay hoài nghi chủ nghĩa toàn cầu hóa. Một nước đi sau và tăng trưởng mạnh nhờ kinh tế thị trường là Trung Quốc lại làm như vô địch thế giới về toàn cầu hóa dù thực chất vẫn duy trì chế độ bảo hộ mậu dịch để bảo vệ khu vực kinh tế nhà nước và các tập đoàn quốc doanh. Truyền thông cứ nhìn sai chứ Trung Quốc vẫn bảo vệ tập đoàn kinh tế nhà nước và phát huy chủ nghĩa tư bản thân tộc cho đảng viên chứ không mấy quan tâm đến dân nghèo, trừ phi là dân họ nổi loạn. Trong khi đó, nhờ kinh tế tăng trưởng, Bắc Kinh có thêm phương tiện quân sự để khuynh đảo các lân bang và dùng quyền lợi kinh tế để tranh thủ hậu thuẫn của các nước hầu gạt Hoa Kỳ ra khỏi khu vực Đông Á. Chúng ta phải trở lại bối cảnh sâu xa mới hiểu ra sự thể này.


Nguyên Lam: Như vậy, xin đề nghị ông trình bày cho cái bối cảnh sâu xa ấy.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Về bối cảnh xa, Hoa Kỳ là thành cường quốc Á Châu từ đầu Thế kỷ 20 sau khi đánh bại Đế quốc Tây Ban Nha và lấy đất Phi Luật Tân của Tây Ban Nha làm thuộc địa. Trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ ba lần tham chiến tại Châu Á và sau Thế chiến II khi đã trao trả độc lập cho Phi Luật Tân thì sát nhập thêm hai tiểu bang trọng yếu là Alaska và Hawaii vào năm 1959. Kể từ 1983, giao dịch của Mỹ với Châu Á qua Thái Bình Dương đã vượt giao dịch xuyên Đại Tây Dương với Châu Âu cho nên nước Mỹ không thể buông vùng Đông Á hay Tây Thái Bình Dương như Bắc Kinh mơ ước. Nhưng cũng từ Thế chiến II các nước Đông Á thoát dần khỏi ách thuộc địa – ngoại lệ là Việt Nam vì vẫn quá lệ thuộc vào Trung Quốc – và phát triển kinh tế là nhờ thị trường và quyền tự do giao lưu do Hoa Kỳ bảo vệ.

- Nói về bối cảnh gần thì các nước Đông Á gồm có Nam Hàn, Đài Loan, Nhật, Úc, New Zealand và 10 quốc gia trong Hiệp hội ASEAN. Ngần ấy quốc gia đều lấy ngoại thương làm đòn bẩy kinh tế. Họ buôn bán với nhau và với Trung Quốc, Âu Châu hay Hoa Kỳ. Nếu nhìn vào luồng giao dịch hàng hóa, các nước ASEAN buôn bán với nhau tới gần 25% lượng ngoại thương, với Tầu thì 19% và với Mỹ thì chỉ có 10%. Trường hợp kia là Nam Hàn, với 30% xuất khẩu là qua Tầu và Hong Kong, cao gấp đôi nếu so với Mỹ. Úc hay New Zealand cũng thế….

Nguyên Lam: Như thế, phải chăng các nước đó có thể nghĩ là quyền lợi kinh tế của họ gắn bó với Trung Quốc hơn là với Hoa Kỳ hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Họ có thể nghĩ như vậy nên cố đu dây ở giữa để khỏi chọn Hoa Kỳ hay Trung Quốc. Điển hình là hai nước Thái Lan và Phi Luật Tân đã có hiệp ước hỗ tương quân sự với Hoa Kỳ nhưng chính quyền hiện tại lại sẵn sàng có chánh sách thân Tầu. Tức là họ muốn ôm két bạc của Bắc Kinh nhưng vẫn được lá chắn của Mỹ che chở. Bây giờ, khi thấy Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP thì các nước có thể nghĩ là nên gần Trung Cộng hơn thì bảo vệ được quyền lợi kinh tế nhưng lại nơm nớp sợ bị Bắc Kinh uy hiếp mà chẳng được Hoa Kỳ bênh vực khi lãnh đạo lại là ông Donald Trump với chủ trương xét lại về mậu dịch và ưu tiên là bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ. Nhưng sự thật lại khác.

- Sự thật kinh tế ở đây là các nước Đông Á có thể buôn bán với nhau nhiều hơn với Hoa Kỳ nhưng sở dĩ buôn bán được như vậy là nhờ có quyền tự do hàng hải được Hải đội Mỹ bảo vệ. Sự thật chính trị ở đây là nếu Trung Quốc thực hiện được tham vọng bá quyền tại Đông Á, là đẩy Hoa Kỳ ra ngoài, thì các nước Đông Á sẽ chẳng còn tự do. Trong hiện tại, Đông Á chưa nhìn ra chuyện ấy mà cứ lo chiến tranh mậu dịch Mỹ-Hoa bùng nổ thì họ sẽ khó làm ăn ở giữa. Nhưng cũng vì vậy, sau khi Tổng trưởng Quốc phòng Jim Mattis đã ưu tiên thăm Nam Hàn và Nhật Bản hồi Tháng Hai, trong tháng này, từ ngày 15 tới 25, Phó Tổng thống Mike Pence cũng sẽ thăm viếng các nước Đông Á như Nam Hàn, Nhật Bản, Indonesia và Úc trong tinh thần thuyết phục và trấn an các nước. Ta cũng không quên năm nay có lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Hiệp hội ASEAN, nên có thể là một cơ hội để Hoa Kỳ và các nước nhìn ra thực tế này.

Nguyên Lam: Chúng ta trở lại với mối quan tâm của Việt Nam. Thưa ông, Việt Nam nên làm gì trong tình thế mà ông gọi là lưỡng nan, giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, Việt Nam ở vào hoàn cảnh bất lợi về địa dư vì tiếp cận với lãnh thổ Trung Quốc nên dễ bị uy hiếp hơn các nước kia sau khi đã bị cướp một số quần đảo. Việt Nam lại còn nằm dưới sự cai trị của một đảng độc quyền coi đảng Cộng sản Trung Quốc là đồng chí. Thứ hai, đa số các nước Đông Á buôn bán nhiều với Trung Quốc hơn Hoa Kỳ nên có thể tính khác, chứ Việt Nam bị kẹt ở hai đầu: Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nên quyền lợi kinh tế cũng gắn bó với Mỹ, nhưng đạt xuất siêu với Hoa Kỳ bao nhiêu thì Việt Nam lại bị nhập siêu bấy nhiêu với Trung Quốc.

- Trong khung cảnh éo le ấy, có lẽ ta nên thấy vài sự thật. Số nhập siêu về hàng hóa của Hoa Kỳ với Trung Quốc lên tới hơn 300 tỷ đô la, cao gấp 10 số xuất siêu của Việt Nam với Mỹ, nghĩa là Trung Quốc mới là ưu tiên nước Mỹ cần quan tâm. Đã vậy, người ta cứ sợ Hoa Kỳ có chánh sách bảo hộ mậu dịch bất lợi cho Việt Nam, nhưng sự thể nó không đơn giản như vậy. Chính quyền Trump chỉ đòi xét lại mối giao thương với các nền kinh tế lớn đã trục lợi bất chính chứ không hẳn là trở về chủ trương bảo hộ hoặc đồng loạt tăng thuế nhập nội trên hàng hóa của các nước vì điều ấy cũng gây bất lợi cho kinh tế Mỹ. Vì vậy, Việt Nam vẫn còn khả năng thương thảo với Mỹ và nên sớm chuẩn bị việc đó, với điều kiện là chứng tỏ kinh tế Việt Nam không là vệ tinh của Trung Quốc để giúp Bắc Kinh chiếm lợi thế gián tiếp với Hoa Kỳ. Sau cùng, nếu nhìn trong trường kỳ thì Việt Nam cũng nên giảm dần sự lệ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp của nước ngoài mà tìm cách nâng cao khả năng sản xuất và tiêu thụ nội địa. Đấy mới thật sự là bảo vệ độc lập và tránh được ảnh hưởng của nước ngoài.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
Trong một thế giới vẫn còn chìm trong tiếng súng của các cuộc chiến ở Ukraine, Gaza, Iran và nhiều nơi khác, Giải Nobel Hòa bình năm 2026 mang một ý nghĩa vượt xa khuôn khổ của một danh hiệu quốc tế. Bên cạnh ý nghĩa tôn vinh những cá nhân hay tổ chức đã góp sức cho hòa bình, cũng là lời nhắc nhở rằng sinh mạng người, nhân phẩm, lòng từ bi và sự thật vẫn có giá trị ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của nhân loại. Khi chiến tranh thường ca ngợi sức mạnh của vũ khí, Nobel Hòa bình hướng sự chú ý của thế giới đến sức mạnh của lòng từ bi: những bác sĩ cứu chữa bệnh nhân giữa bom đạn, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người dám lên tiếng cho công lý và những cộng đồng không từ bỏ hy vọng. Giải thưởng có ý nghĩa rằng hòa bình không chỉ là sự chấm dứt chiến tranh, mà còn là sự bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền được tồn tại của mọi con người.
Tối 5/10, tại một cuộc mít tinh ở Grand Island, Nebraska, Donald Trump đã nói một câu mà chưa người tiền nhiệm nào của ông từng nói. Trump biện hộ cho giá năng lượng tăng vì cuộc chiến với Iran, gọi đó là cái giá nhỏ để giữ an toàn cho nước Mỹ và thế giới. Chưa thỏa mãn với lời biện hộ, Trump nói Iran có thể xóa sổ một thành phố, vậy thì “hãy để họ xóa sổ Los Angeles đi; hãy để họ xóa sổ San Diego đi. Đó vẫn là một cái giá rất nhỏ và chiến tranh sẽ sớm kết thúc.” Đám đông ủng hộ vỗ tay kèm những tiếng reo hò. Họ là những người đang mặc áo tô điểm bằng quốc kỳ, đội nón đỏ MAGA.
Người ta thường nói, giữ cơ nghiệp đã khó, giữ gia phong còn khó hơn. Trong chính trị cũng vậy. Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi thắng lại; có thể theo đuổi một chính sách sai lầm rồi sửa đổi; thậm chí có thể trải qua một thời kỳ suy yếu rồi vẫn có thể phục hồi. Nhưng khi một chính đảng bắt đầu đánh đổi những tiêu chuẩn từng làm nên danh nghĩa và uy tín của mình để đạt lợi ích trước mắt, cái mất đi là danh dự — thứ không thể tính bằng quyền hay bằng tiền.
Theo một cuộc thăm dò mới của Reuters/Ipsos công bố hôm thứ Hai, 21/9, tỷ lệ ủng hộ dành cho Donald Trump đã giảm xuống còn 32%, mức thấp nhất trong sự nghiệp chính trị của ông ta. Trong lúc đó, các thành viên cùng đảng Cộng Hòa tỏ ra bất bình trước cách Trump xử lý vấn đề chi phí sinh hoạt trong bối cảnh cuộc chiến tại Iran vấp phải sự phản đối của công chúng. Tom Nichols của The Atlantic chỉ rõ hơn mức độ ủng hộ dành cho Trump hiện đang dao động quanh “tầng số” của George W. Bush trong nhiệm kỳ hai, và thậm chí có nguy cơ tụt xuống mức thấp kỷ lục như thời kỳ cuối nhiệm kỳ của Richard Nixon. Đất nước và chính quyền của tổng thống thứ 47 thuộc đảng Cộng Hòa đang gặp khó khăn trên mọi phương diện.
Án tử hình là một phần của lịch sử Hoa Kỳ từ thời thuộc địa. Vụ hành quyết đầu tiên xảy ra ở Jamestown, Virginia, năm 1608. Trong thời kỳ đầu, án tử hình áp dụng cho rất nhiều tội danh, không chỉ giết người. Sang thế kỷ XIX, các tiểu bang bắt đầu thu hẹp phạm vi tội danh bị xử tử và chuyển các cuộc hành quyết từ nơi công cộng vào nhà tù.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.