Hôm nay,  

Sát Thủ Người Anh

17/07/201800:00:00(Xem: 4650)
Thành Lacey

(trích dịch  -  “The English Assassin” by Daniel Silva)

     
Bối cảnh câu truyện “ The English Assassin” – nxb The Signet Book:

Trong thời kỳ chếm đóng nước Pháp, lực lượng Nazi của Đức Quốc Xã chiếm lấy hàng trăm ngàn tranh, tượng, thảm và những danh tác nghệ thuật cổ khác.  Hàng chục ngàn tác phẩm các loại đó đến nay vẫn chưa phát hiện được.  Năm 1996, hội đồng liên bang của Thụy sĩ thành lập Ủy Ban các Chuyên Gia Độc Lập và ra lệnh ủy ban này điều tra hành động của xứ Thụy Sĩ trong Thế Chiến Thứ Nhì.  Trong bản báo cáo chung cuộc đưa ra vào tháng Tám 2001, uỷ ban công nhận là Thụy sĩ lúc đó là một “trong tâm mua bán” các tác phẩm nghệ thuật cổ bị cướp  và một số lớn tranh đã đưa nhập vào xứ trong thời kỳ chiến tranh.  Không ai biết được là có bao nhiêu tác phẩm còn lại còn dấu trong kho chứa của các nhà băng Thụy Sỉ và tại nhà riêng của công dân xứ này.

Sơ lược cốt truyện:

   Cựu điệp viên Do Thái và người chuyên về phục hồi các danh tác hội hoạ cổ tên Gabriel Allon đến Zurich để phục hồi lại một danh tác hội hoạ cổ cho một một triệu phú chủ nhà băng  – để rồi khi vào khỏi cữa anh ta thấy khách hàng của mình đã chết trong  phòng khách biệt thự mình ở và chính Gabriel lại bị dàn đựng trở thành kể sát nhân. Cái thế giới điệp viên khi xưa mà anh ta đã rời bỏ khi xưa giờ lại bao trùm anh một lần nữa.  Gabriel phải chiến đấu cho sinh mạng của mình chống lại kẻ sát thủ mà khi xưa anh đã huấn luyện hắn.

Vài dòng về tiểu thuyết gia Daniel Sylva:

   Là một tiểu thuyết gia ở tuổi trung niên, ông đã viết trên chín cuốn tiểu thuyết được đọc giả ưa chuộng, trong số đó có truyện The Confessor được tờ New York Times nhận là best seller, bán trên triệu cuốn. Ông có vợ và hai con.  Trong quyển tiểu thuyết dựa theo những sự kiện về lịch sử thời Đức Quốc Xã và tính đặc trưng của quốc gia Thuỵ Sĩ về mặt ngân hàng chuyên cất giữ tài sản và của cải của thân chủ trên thế giới và không hề tiết lộ cho bất cứ ai hay chánh phủ nào về xuất xứ và nguồn gốc của thân chủ.  – như tác giả Jean Ziegler nói: “ Bưng bít quá khứ là truyền thống của Thụy Sĩ.”-  Daniel Sylva đã tiếp xúc với các thức giả về vấn đề này  và nghiên cứu cặn kẻ về các sự kiện xãy ra thời cuối đời của Hitler và hành vi ăn cắp các hoạ phẩm nổi danh của những thế kỷ trước rồi biến những báu vật đó thành của cải hợp pháp do mình sở hữu của các sĩ quan cao cấp Đức Quốc Xã cũng như tìm toài về  bí ẩn của các ngân hàng Thuỵ sĩ để hư cấu nên quyển tiểu thuyết đầy thu hút này.

     trang 20  - đây là đoạn Gabriel đến lâu đài nơi được chủ nhân mướn để phục hồi lại một bức  danh hoạ cổ để thấy chú nhân  đã bị ám sát trước đó.  Sau này Daniel mới khám phá ra rằng người bị giếtnày là chủ nhân của biệt thự này và là một tay đầu nậu làm trung gian cho đám sĩ quan cao cấp Đức Quốc Xã để không phải rửa tiền mà là ... “rửa tranh” ăn cướp được từ các bảo tàng viện Âu Châu hồi thế chiến Thứ nhì.  Những đại tác phẩm hội họa cổ bị ăn cướp này được ‘biến hoá’ thành tài sản hợp pháp và được các ngân hàng Thụy sĩ thời đó nhận từ những đầu nậu trung gian để cất dấu cách an toàn và bí mật.

...  Rosenbuhlweg là một con đường hẹp, chỉ đủ rộng  vừa cho hai chiếc xe hơi và dốc lên thật gắt.   Biệt thư hai bên cổ kính và san sát nhau, tường vôi, mái ngói, vườn cây cỏ rậm rạp chỉ trừ ngôi biệt thự mà bác tài taxi ngừng lại phiá trước.  Không giống như những biệt thự kế bên, nó nằm cao trên đỉnh đồi nhô ra cách xa con đường, lui thụt vào trong vài mét.  Một hàng rào thanh bằng sắt cao như rào nhà giam bao quanh khu vực nhà.  Cổng có gài mả số an ninh và một máy thu hình nhỏ.  Khi vào tới nơi, hiện ra  trước mặt chàng một kiến trúc đồ sộ xây bằng đá xám nằm cô đơn với những tháp nhọn và một cái cổng xây gạch lớn hình vòng cung ở phiá mặt  tiền.

Chiếc xe taxi vọt đi.  Bên dưới đồi là trung tâm của thành phố  Zurich và mặt hồ, mây che phủ bờ bể phía xa.    Gabriel nhớ là mình có thể nhìn thấy dãy nuí Alps vào ngày trời trong nhưng bây giờ thì đầy mù.

Bên cạnh cổng có gắn một điện thoại.  Chàng nhắt ống nghe lên thì nghe có tiếng chuông reo bên đầu kia và chờ.   Không nghe thấy gì.  Anh để phone lại và bắt máy lên lại.  Vẫn không có trả lời.


Anh lấy ra số fax của ông luật sư mà Julian Isherwood đưa cho anh hồi ở London.  Anh phải đến đúng 9  giờ sáng.  Rung chuông cữa và anh sẽ được đưa vào bên trong.  Gabrile nhìn đồng hồ tay.  Chín giờ ba phút.

Khi anh đút mảnh giấy fax vào túi thì trời bắt đầu mưa.  Anh nhìn quanh : không có quán cà phê nào để vào ngồi cho ấm, không có công viên nào hay khu công cộng nào để có thể vào trú. Chỉ là một khu vực to lớn với gia cư đồ sồ.  Nếu anh đứng trên vệ đường quá lâu thế nào cũng bị bắt về tội la cà, lãng vãng.

Anh rút cái điện thoại di động ra và gọi số của Isherwood.  Trong khi Gabriel chờ bắt được liên lạc , anh hình dung ra Isherwood đang gò lưng trên chiếc xe máy dầu hiệu Jaguar mới tinh, bóng loáng chạy ven theo bờ biển Picadilly như là đang hướng dẫn lái chiếc tàu chở dầu qua sóng dữ.

Isherwood: “ Xin lỗi nhe, nhưng tôi e rằng có thay đổi trong chương trình.  Người xắp đặt để gặp anh bị gọi đi xa bất ngờ.  Chuyện khẩn cấp gì đó.  Anh ta không nói rõ là chuyện gì.  Anh cũng biết người Thụy sĩ là như thế nào chứ bồ mình.”

 Gabriel: “ Rồi tôi phải làm gì đây?”

“ Hắn gởi cho tôi số mật mả an ninh để mở cổng và cữa trước.  Anh tự mở mà vào.  Có một tờ ghi chú viết cho anh để trên cái bàn nơi hành lang đi vào sẽ giải thích nơi nào mà anh sẽ thấy bức hoạ và chỗ nào anh ngủ lại.”

“ Bạn có thấy nó là lạ không?”

“ Coi như anh may mắn đó.  Xem như anh sống một mình  ở lại nơi này vài ngày và không ai dòm ngó anh khi anh làm việc phục hồi bức tranh.”

“ Coi như sẽ đúng như lời bạn nói đi.”           

“ Để tôi nói cho anh mả số.  Anh có viết và giấy đó không vì nó hơi dài đó.”

“ Đọc dùm nhanh lên đi. Mưa tầm tả , tôi đang bị ướt sủng đây.”

“ Nghe rồi ông tướng ơi.”

Isherwood đọc nhanh hai dãy số , mỗi dãy là tám con số rồi cúp máy .

  Gabriel nhấc cái  ống nghe ở cổng lên rồi bấm số vào.  Có tiếng reo, anh vặn chốt cữa và bước vào bên trong cổng.  Tới trước cữa vào căn nhà anh lại bấm số vào và sau đó Gabriel đang đứng trước căn phòng ở tiền sảnh tối om và lần dò tìm cái công tắc điện.

Cái bao thư nằm trên cái chén thuỷ tinh lớn trên cái bàn chạm cổ nằm dưới chân cầu thang. Trên bao thư để là gởi cho Ông Delvecchio, tên dùng nghề nghiệp của Gabriel.  Anh lấy cái thư lên và dùng ngón trỏ rạch nó ra.  Bên trong là một tờ giấy dầy, màu xám, không có tựa đề, lối viết rõ ràng, rạch ròi, không có chữ ký.  Anh đưa lá thư lên mũi.  Không có muì gì.

Gabrile bắt đầu đọc. “ Bức tranh treo ở phòng khách do danh hoạ sư Raphael vẽ,  Chân dung của một Chàng trai .  Phòng đã được đặt chỗ trước cho ông ở đại khách sạn Dolder Grand Hotel, cách đây khỏan một dặm bên kia thành phố Zurichberg.  Trong tủ lạnh có thức ăn.  Chủ nhân sẽ trở về từ Zurich ngày hôm sau.  Chủ nhân rất vô cùng cảm tạ nếu Ông Delvecchi có thể bắt đầu công việc ngay.”

Gabriel nhét miếng giấy nhắn đó vào tuí.  Như vậy lại là một bức tranh của danh họa Raphael.  Đây là bức tranh thứ hai của Raphael mà anh nhận phục hồi.  Năm năm trước đây, anh nhận phục hồi một bức tranh với chủ đề tôn giáo , Đức Mẹ và Chúa Hài đồng, dựa vào bức nổi danh của hoạ sư vĩ đại Leonardo.  Gabriel cảm thấy được cảm giác đầy sự rung động hứng thú truyền khắp các đầu ngón tay của mình.  Đây quả thật là một cơ hội tuyệt diệu.  Anh thấy vui vì đã nhận công việc này dù cho cuộc hẹn có vẽ kỳ lạ.

Anh bước hết lối đi vào một căn phòng rộng.  Căn phòng tối om, không có ánh sáng nào, tấm màn dầy thì kéo kín lại chặt.  Dù cho với cái vẽ u minh đó, anh có cái cảm giác là mình đang ở giữa đống đồ đạc của giới quí tộc thời Trung cổ Âu châu.

Anh bước tới thêm vài bước.  Dưới chân anh là tấm thảm ẩm ứơt.  Có mùi của muối và rỉ sét.  Anh cuối xuống, lấy ngón tay chạm vào tấm thảm và đưa lên mặt mình.

Gabriel đang đứng trong máu.

Tấm thảm dệt ở phương Đông bạc màu và rất cũ cũng như xác chết của một người đàn ông nằm dài chính giữa nó.  Mặt cái xác chết úp xuống, trong khi chết bàn tay mặt của cái xác vươn lên trước.  Cái xác mặc một aó veste xẽ đằng sau và cái quần nỉ màu xám.  Đôi dày da nâu.  Một chiếc giày bên phải  có gó và đế dầy.  Ống quần bị kéo tuột lên ở phần dước chân.  Nước da cái xác trắng bệt một cách dễ sợ.

Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.