Hôm nay,  

BIÊN GIỚI SÔNG SAI

23/12/201811:58:00(Xem: 5923)

biên giới sông Sai

 

 

Hồ Đắc Túc

 

 

Mae Sai là quận lỵ cực bắc của Thái Lan, thuộc tỉnh Chiang Rai, cách biên quận Tachileik của Miến Điện dòng sông Sai.

          Tôi từ Tam Giác Vàng thuê xe đến Mae Sai vào sáng sớm. Dọc đường có các chốt cảnh sát soát giấy, không phải để tìm cần sa vì thời đại Khun Sa đã chìm vào dĩ vãng, phần đất phía Thái cũng hết trồng cây anh túc. Họ kiểm tra di dân lậu từ Miến Điện trốn qua. Đường dài gần 50 cây số, xung quanh là núi, ruộng lúa, nhà rất thưa, mây sà xuống thật thấp. Đồi núi và cỏ cây yên bình.

Mae Sai không thấy hộp đêm.

          Mae Sai không thấy karaoke.

          Mae Sai không gặp em út đứng đường mời kéo vào coi múa cột.

          Ấn tượng đầu tiên đến Mae Sai trong một sáng mùa mưa, là con đường chính Phaholyothin thênh thang và náo nhiệt với các quầy hàng nối nhau hai bên đường, ngang dọc bày bàn hàng trang sức bằng đủ loại đá quý.

 

blank

Sông Tam Giác Vàng: ảnh tnt

          Con đường này là đoạn cuối của quốc lộ 1 nối hai miền nam bắc.

          Người đi lại hai bên lề đông mà im lặng. Đó là một bầu khi tương phản ít nơi nào của Á châu có. Người ta đi lên ngược xuống, nói năng nhỏ nhẹ, mời hàng dịu dàng. Dường như âm thanh của xe cộ trên đường cũng chìm xuống.

          Khung cảnh đông đúc và yên lặng xung quanh cổng biên giới Mae Sai-Tachileik. Nơi đây có một chiếc cầu xi măng nhỏ và ngắn một phút đi bộ từ bên này Thái qua bên kia Miến, bắt qua dòng sông Sai phát nguyên từ Miến Điện.

          Tôi ngồi trong một quán nước nhỏ phía bờ Thái, cạnh chân cầu. Mây đen vần vũ từ bờ Miến kéo qua. Cơn mưa không bất chợt kéo đến dào dạt. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chưa đến đây bao giờ, nhưng nhạc phẩm của ông đến đúng khi ấy: Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…

          Tôi đến đây nhiều lần nữa trong ba ngày. Bên chân cầu, bên bờ cầu phía Thái, trong quầy hàng phía Thái, sáng, trưa, chiều, tối. Và chỉ thấy một không khí không đổi, lạ lùng.

          Đó là sự nhộn nhịp trong yên lặng.

          Buổi sáng, những người lao động Miến trên đủ mọi phương tiện thô sơ, xe máy, xe lôi đạp, cuốc bộ, đội các thúng và thùng to từ phía Miến qua cầu vào đất Thái.

          Buổi sáng, những người đàn bà Miến gùi con sau lưng, lầm lũi qua cầu ngồi xin ăn rải rác quanh cửa khẩu.

          Những đứa trẻ lam lũ lếch thếch qua bên này nhặt nhạnh nhiều thứ trong thùng rác Thái, cho vào một bao tải trắng quẩy trên vai.

          Những bé gái Miến bồng em, đứa nhỏ quặt đầu trên vai chị, mỏi mệt hay ngất lịm, lang thang trên vỉa hè Mae Sai.

          Buổi xế trưa, những chiếc xe hơi mới từ Thái nối nhau vượt cầu về phía Miến.

          Người Thái giàu có qua bên kia chơi. Bên đó có kaoraoke, gái, sân golf.

          Chiều chưa sẫm, những người Miến đội và xách hàng hóa từ phía Thái trở về làng.

          Những người Thái lái xe ngược về phố họ.

          Hai luồng người ngược nhau, đi về khác nhau.

          Người Miến Điện, gọi chung thế chứ họ gồm nhiều sắc tộc, ở chỗ này là người Shan, nước da sẫm và khuôn mặt trầm ngâm, thao thức, từ bên này sáng choang chợ búa lầm lũi về quê hương tối mịt chờ lại sáng mai.

          Buổi tối, cửa biên giới đóng. Cả một bầu khí quê hai bờ trộn với núi rừng chìm trong tịch mịch.

          Buồn như đôi mắt của người thiểu số Akha ở quanh biên giới của hai nước.

Các thiếu nữ Akha đằm thắm, lông mày đậm, da sậm, sóng mũi cao thanh nhã. Khi đi lại trên phố chợ người Thái, tuy đã rủ bỏ trang phục rực rỡ truyền thống, nhưng làn da và ánh mắt của họ còn nguyên.

Trong đôi mắt dài xênh xếch sáng lên phiền muộn. Họ ở giữa người nhưng như đang ở một thế giới khác. Họ nhìn mà như không, ngơ ngác, không hiểu, lạc lõng, âm thầm.

Vẻ núi rừng của họ có một sức hút thật lạ lùng, vừa nguyên sơ cô độc, vừa chưng hửng.

Một chiều thứ bảy, tôi gặp một nhóm trẻ em dưới và trên 10 tuổi, mặc áo quần đen đứng giữa các quầy hàng bán đá quý. Các thiếu nữ sáng và đẹp như trăng sớm, có đứa ranh mảnh lõi đời. Chúng múa và hát, phía trước có một thùng quyên tiền.

          Nhóm trẻ phần đông là người Akha từ Miến Điện hay từ các làng Akha trong đất Thái, mồ côi, vong gia thất thổ, có đứa từng vào tù vì đem ma túy qua Thái, đứa ăn xin hay được giải thoát từ nhà thổ. Nếu sinh trong đất Thái thì vẫn là di dân bất hợp pháp do chính phủ Thái không cấp giấy tờ tùy thân cho người thiểu số, nên sống lang thang trên đường phố, ăn xin, nhặt rác, hay làm mọi thứ để có tiền. Tổ chức thiện nguyện chidlifemaesan (chidlifemaesan.org) gom chúng về một nơi cách biên giới bảy cây số.

Dol, nhân viên xã hội người Thái đang chăm sóc đám trẻ gây quỹ, nói mong muốn tổ chức cho chúng đi dã ngoại một chuyến lên Doi Tung. Bây giờ trung tâm chăm nuôi trên một trăm đứa, đưa đi ngần ấy thật khó.

          Doi Tung, tiếng bắc Thái nghĩa là Kỳ Sơn (núi cờ), cách trung tâm biên quận Mae Sai 40 cây số, cũng thuộc tỉnh Chiang Rai. Một rặng núi gồm nhiều đỉnh nối nhau, mây giăng qua đường đi, cây xanh ngút tầm mắt. Trên các nương xanh rải rác các cụm làng người Thượng giữa các chim sóc. Cây cỏ được bàn tay người chăm sóc nên không hoang dã. Rặng núi toát lên vẻ sang trọng nhưng vẫn tự nhiên, không luộm thuộm giả tạo như người ta gắn thang máy cạnh thác Damri ở Lâm Đồng, kéo cáp treo lên núi hay băng qua biển Nha Trang.

          Nhóm trẻ Akha đứng hát tập thể giữa phố đông người, cách dòng Mae Sai chừng vài trăm thước. Đi gần về phía sông, một giọng ca nam đơn độc khác, hòa trong tiếng guitar điện, vang lên trong chiều tà. Đó là một thanh niên cao lớn vạm vỡ, ôm đàn đứng giữa chợ, quần đen, áo cổ tròn đen, đeo một chuổi đá đen quanh cổ, tóc dài quá cổ, khuôn mặt sám đen cương nghị cúi xuống, duy đôi mắt mù ngước lên trời cố trông. Tiếng hát của anh quyến rũ lạ kỳ, điệu nhạc nhanh và mạnh nhưng thảm thiết, rồi anh ta chuyển qua một bản slow rock mượt mà, chùng xuống kể lể. Chiều biên giới buồn hơn, lẻ loi hơn với tiếng hát của người nghệ sĩ mù.

          Thứ bảy, sau khi các quầy hàng bán ngọc vàng đóng cửa lúc sáu giờ chiều, các quầy ăn đêm dọn ra. Tiếng hát của đám trẻ, của nghệ sĩ mù vang rất rõ trong một khu chợ yên tĩnh dù đông người. Cửa biên giới đã đóng nhưng quán nước bên dưới cầu biên giới vẫn mở cửa. Suốt con đường nhỏ cong theo bờ sông bên dưới cầu chỉ có cái quán này nằm sát sông nhìn qua Miến Điện. Bàn gỗ chữ nhật, ghế nhựa kê sát lan can gỗ, bếp nấu trong tầm mắt, dãy hành lang dài dọc theo sông vắng ngắt. Quán nghèo nhưng ngăn nắp. Bóng đèn trắng bên hiên quán le lói chiếu trên dòng sông nhỏ bên này không đủ soi sáng phía bên kia bờ Miến. Hai cô bé Miến Điện giúp việc cho bà chủ quán ngồi thù lu một góc, đối diện nhau nhưng không nói chuyện. Một trong hai đứa là người Akha, mặc áo ca rô xanh đậm, khuôn mặt sậm có một vẻ đẹp núi rừng mờ trong bóng tối, duy đôi mắt xếch và to phản chiếu ánh đèn hay màu nước sông thỉnh thoảng lóe lên.

          Chính phủ Miến không trực tiếp xuất khẩu lao động, nhưng ngó lơ để dân trốn sang nước làng giềng giàu có làm đủ thứ nghề. Chế độ có hai món hàng trời cho là người và mỏ. Người thì không phải lo nuôi, tự lớn và tự tìm đường trốn qua Thái làm nghề nào cũng được, gửi tiền về nuôi nhà và lợi nước. Các mỏ đá quý ở tiểu bang Shan, sát biên giới, cũng nhờ trời cho, cứ khai lên và chở qua Thái (và qua Tàu). Cây rừng cũng không thiếu, chở qua biên giới Trung Quốc. Quý nhất là người thiểu số. Miến Điện có trên 130 sắc dân, ngôn ngữ bất đồng, thất học, nghèo. “Đầu ra” của những thôn nữ thiểu số có sẵn ở Thái Lan là các khách và khứa săn tìm thanh thiếu niên vị thành niên.

          Bang Shan, giáp biên giới Trung Quốc, Lào và Thái, có các nhóm vũ trang sắc tộc chống quân đội chính quyền để đòi độc lập hoặc vùng tự trị. Chính quyền đàn áp tàn bạo. Quân đội cư xử như đạo quân xâm lăng chứ không phải để bảo vệ đất nước. Lính tráng vào làng trộm cắp gà vịt, bắt dân đi xây dựng công sự, làm đường, rà mìn, nếu chỗ nào nghi có mìn họ lùa dân đi trước mở đường. Quân đội đuổi người sắc tộc, phần lớn là người Shan, để lấy đất. Phụ nữ và trẻ em là nạn nhân trực tiếp của quân đội. Theo rất nhiều phúc trình của các tổ chức phi chính phủ, lính Miến vào từng nhà hiếp dâm phụ nữ theo lịnh của chỉ huy. Phụ nữ thiểu số chỉ có hai con đường: một là bị lính hiếp dâm, hai là tìm đường qua Thái Lan bán thân.

          Qua Thái Lan, dù cuộc sống không còn là người nữa trong thế kỷ 21, vẫn đỡ tồi tệ hơn ở lại quê nhà.

 

  

blank

Cầu sông Sai. Ảnh:tnt

          Họ vượt biên bằng nhiều cách. Ngoài con đường hợp pháp là băng qua cầu xin chiếu khán có giá trị một ngày hay một tuần, họ bơi hay chèo qua sông, hay đi từng nhóm nhỏ trên các phao nổi bằng ruột xe hơi. Không có con số chính xác bao nhiêu người Miến qua Thái vì rất nhiều di dân lậu, nhưng ước tính có hơn hai triệu người Miến sống hợp lệ hay ngoài vòng pháp luật ở Thái Lan.

          Cô bé Akha bán quán là một trường hợp may mắn hiếm hoi. Bà chủ quán tử tế, không thấy sai bảo quát tháo gì, cô bé chỉ việc bưng nước cho khách hay lau chùi bàn ghế. Ngoài ra cô chỉ việc ngồi nhìn nước sông Sai chảy, lặng lẽ.

          Bên kia bờ Sai, chỉ cách non mười thước, là quê hương Miến Điện.

          Cô có thể về lại quê, chỉ việc lội qua dòng nước sâu không tới đầu gối. Nhưng bên đó là lao tù. Một loạt ‘trung tâm’ dựng rải rác trong tiểu bang Shan, nhốt những người Shan chống đối, hay bị Thái trục xuất theo giao kèo giữa hai chính phủ.

          Cô còn một người cha đang làm ruộng bên đó, một người mẹ và chị gái đang dệt các hàng thủ công để tuồn qua chợ Mae Sai bán.

          Mỗi tháng, cô bé tiếp viện cho gia đình 500 baht, chừng 16 đô Mỹ.

          Nếu muốn có nhiều tiền hơn, cô phải rời cái quán này, đi sâu vào đất Thái. Nhưng muốn lọt vào các thành phố lớn như Chiang Mai hay Bangkok, cô phải chung tiền cho cò mới thoát rất nhiều trạm kiểm soát di dân trên mọi cửa ngõ ra vào Chiang Rai.

          Buổi tối, ánh đèn từ quê nhà lay lắt đây đó. Sau lưng, ánh sáng trên đường cái rừng rực. Quốc lộ 1 chạy từ thủ đô Bangkok, đến chỗ cô là điểm cuối, đánh mốc cây số 891.

          Phía sau lưng rất nhiều tiền và cạm bẫy.

          Trước mắt quê hương mờ mờ.

          Cô gái ngồi nhìn quê hương trong tầm mắt. Cách một dòng sông nhỏ, rất nhỏ. Nước sông xuất phát từ núi rừng bên nhà, chảy âm thầm và chia cắt.

          Ấn tượng cuối cùng của tôi về Mae Sai không còn là khu chợ nhộn nhịp im lặng nữa.

          Bây giờ chỉ còn một dòng sông rất nhỏ.

Sông Sai.

Và người ngồi yên nhìn quê hương bên kia.

Rất yên.

Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có trụ sở đặt tại Geneva, được thành lập vào ngày 7 tháng 4 năm 1948 và hiện nay có 194 quốc gia thành viên. Công việc chính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là giúp các nước nghèo chống lại bệnh tật. Và để có khả năng làm được công việc này, WHO cần sự đóng góp của tất cả các quốc gia thành viên.(1)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.