Hôm nay,  

Phiếm Luận Về Ma

10/01/201913:36:00(Xem: 6147)
Phiếm Luận Về Ma
 
Trước khi bàn về ma, chúng ta thử định nghĩa xem “ma” là gì. Thông thường, ma là người đã chết hay người chết. Đang sống thì là người. Nhưng vừa chết một cái đã thành ma, thây ma. Chính vì thế đám ma là nghi thức hoặc tục lệ để khóc than, để tang, thăm viếng, tiễn đưa hoặc chôn cất, hỏa thiêu người chết.
Thế nhưng theo kinh điển, “ma” do chữ Phạn Mâra mà ra. Vì vần “r” không có trong tiếng Trung Hoa nên người Trung Hoa thường gọi là Ma-la thay vì là Ma-ra. Còn Tây Phương định nghĩa “ma” (ghost) như sau, “Đó là sự hiện diện của một người đã chết và được tin rằng xuất hiện và biểu lộ như có sự sống, thường hiện ra dưới hình ảnh mờ mờ.” (an apparition of a dead person which is believed to appear or become manifest to the living, typically as a nebulous image)
Khác với quỷ hay yêu tinh có thể giết hoặc ăn thịt người, ma không hề hại ai. Ma chỉ hù dọa, cám dỗ hoặc làm người ta sợ chứ không hại được người. Tây Phương thật chí lý khi nói rằng “Dead men tell no tales” tức “Người chết thì không còn tiết lộ bí mật/nói năng gì được nữa”. Chính vì thế mà để “diệt khẩu”, diệt nhân chứng, những sát thủ thường giết, thủ tiêu nạn nhân để không một ai biết gì về hành vi tàn ác nữa. Xác chết nằm đó chằng thể nói năng được gì, làm sao có thể hại được người? Thế nhưng tại sao người ta lại sợ ma? Theo Phân Tâm Học, người ta sợ ma không phải sợ cái xác nằm đó mà chính là sợ Sự Chết hay Cái Chết vì Cái Chết hay Sự Chết là điều ghê gớm nhất.
Theo truyền khẩu, sách, truyện, phim ảnh…và có thể do “thần hồn nát thần tính” người ta thấy ma hiện ra dưới rất nhiều hình thức.
-Tiếng kẽo kẹt trong đêm ở bụi tre cũng có thể là ma.
-Một bóng trắng tha thướt trong rừng, có thể do mắt quáng gà, cũng có thể là ma.
-Trong đêm, cánh cửa không có người bỗng nhiên mở ra, cũng có thể là ma.
-Tiếng hú trong tòa lâu đài là do tác động của gió thổi xuyên qua nhiều hành lanh, khe hở cũng có thể là ma kêu quỷ hờn.
-Một bóng người mờ mờ trong đêm tối, giống như người đàn bà gục đầu khóc bên mồ trong nghĩa trang …nhưng khi đến gần thì chẳng có gì cả…cũng có thể là ma.
-Một cảnh cây đong đưa trong cơn gió ban đêm cũng có thể là ma đánh đu.
-Ánh lửa lập lòe trong đêm do đom đóm hay lân tinh chiếu sáng trên cánh đồng vắng…cũng thể là ma trơi.
-Đang ăn uống bình thường, bỗng nhiên nhảy chồm chồm, nói năng nhảm nhí…do bị dồn nén, khủng hoảng tâm thần…cũng có thể nói là bị ma nhập.
-Căn nhà dường như luôn luôn bị phá phách lúc về đêm…như ném đá, cậy cửa…có thể do băng đảng rắn mắt nào đó nghịch ngợm…cũng có thể gọi đó là căn nhà có ma.
Nói tóm lại ma hiện diện khắp nơi, từ Âu sang Á. Chỉ khi nào con người “bất tử” tức không chết nữa hoặc tận thế thì mới hết chuyện ma.
- Thế nhưng nhiều khi ma cũng bị “vu oan giá họa”. Chẳng hạn một người do lòng tham-sân-si quá độ, không kiểm soát được mình, đã làm chuyện xấu xa tồi bại, thay vì nhận lỗi lại đổ thừa là “bị ma đưa lối, quỷ đưa đường.” Xin nhớ, mọi hành vi tốt xấu trên thế gian này đểu do chính mình là tác giả hay tác nhân chứ ma quỷ, thần linh không thể can dự vào. Chính mình phải nhận lãnh hậu quả việc mình làm, không thể van vái thần linh, ma quỷ  để rửa tội hay chạy tội được.
            Trên đây chỉ là những con ma tưởng tượng, cảm thấy, dường như thấy, nhưng không thực. Tuy nhiên có những loại ma dưới đây thì rất thực và đang sống chung với chúng ta:
-Ma mãnh tức là kẻ khôn ngoan những chuyện lặt vặt để thủ lợi.
-Ma bùn tức kẻ có những hành vi ám muội không tốt.
-Ma túy bao gồm cần sa, bạch phiến, thuốc phiện… tàn hại tâm trí và cuộc đời con người.
-Ma men là những người nghiện rượu, tê liệt cả ý chí, sống đời phế bỏ, làm khổ cha mẹ, vợ con.
-Ma-cà-bông là bọn người tụ họp, lang thang, phá làng phá xóm, rải đinh trên đường, vẽ bậy lên tường, thậm chí ăn trộm chó bị người ta đánh nhừ tử.
-Ma xó là hạng người ưa tọc mạch vào chuyện riêng của gia đình người ta.
-Ma nữ là những cô gái có thân hình gợi dục, dùng mọi hình thức uốn éo, mời mọc, lời nói lả lơi để quyến rũ người nam thèm muốn, giao hoan, làm tình.
-Ma đói là kẻ quá tham ăn, tham uống, mà người đời gọi là phàm phu tục tử.
-Ma ăn cỗ là loại người làm ăn bất chính như nhũng lạm, ăn cắp của công, xén bớt tiền bạc cứu trợ, dự án để bỏ túi riêng.
-Ma đuổi – là chính mình ù té chạy vì chuyện gì đó, nghe tiếng chân thình thịch phía sau, sợ hết hồn,  nhưng đó chính là tiếng chân của mình.
-Ma phiền là phiền não, buồn bực luôn luôn làm chúng ta cảm thấy không hạnh phúc. Ma phiền não ngự trị trong tâm trí mọi người và hành khổ con người bất cứ lúc nào và ở đâu.
            Đó là ma của cuộc đời, của thế tục, của nhân gian và sống thực trong nhân gian. Thế còn Đạo Phật nhìn ma như thế nào? Trên Thư Viện Hoa Sen, cư sĩ Hoang Phong đã có một bài viết về ma với tựa đề, “Có Ma Hay Không?”. Theo sưu tầm của Hoang Phong thì:
“Thật ra thì ma nhiều lắm, nhưng tựu trung được kinh sách phân loại thành bốn thứ gọi là Tứ ma. 
Tứ Ma của Thừa Kinh Điển là:
 1. Ma cấu hợp (Skandhamara) : đó là thứ ma quái tượng trưng bởi ngũ uẩn làm cơ sở cho khổ đau và cái chết mà ta phải gánh chịu trong cõi luân hồi. Con ma đó gọi là "con ma gánh chịu cái chết", kinh sách tiếng Hán gọi là Ấm ma, Uẩn ma, hay Ngũ chúng ma.
 2. Ma dục vọng (Klesamara) : bao gồm các dục vọng, sự ham muốn, thèm khát, xui khiến ta phạm vào những hành động tiêu cực, tạo ra nghiệp xấu, thu ngắn kiếp nhân sinh, đưa ta vào vòng khổ đau của cõi luân hồi. Đó là "con ma đưa đến cái chết", kinh sách gốc Hán gọi là Phiền não ma.
 3. Ma thần chết (Mrtyumara) : đó là sự hủy hoại, cứu cánh tất nhiên của sự sinh, hậu quả của bản chấtcấu hợp của mọi hiện tượng, tức đấy là quy luật vô thường. Con ma này có tên là "con ma vô thường",kinh sách gốc Hán gọi là Tử ma.
 4. Ma con trời (Devaputramara) : bao gồm những thứ ma làm cho ta đãng trí, phân tâm, xúi dục ta bám víu vào ảo giác của những vật thể bên ngoài và cả trong tâm thức, cản trở sự tu học. Đó là "con ma bấn loạn", kinh sách gốc Hán gọi là Tha-hoá Tự-tại Thiên-tử ma, gọi tắt là Thiên ma, tức thần thánh tay sai của Thiên-hóa Tự-tại Vương.
 Tứ ma của Thừa Kim Cương là: 
 1. Ma xiềng xích (tiếng Tây Tạng : thogs-bcas-kyi bdud) : con ma này rất hung tợn và lộ liễu, gây ra phiền não, bệnh tật và các chướng ngại bên ngoài. Đây là con ma của sự bám víu và ghét bỏ đối với những vật thể và hiện tượng chung quanh. Con ma này luôn tìm cách trói buộc ta vào những thứ ấy. Kinh sách gốc Hán gọi con ma xiềng xích là Phiền não ma.
 2. Ma thả lỏng (tiếng Tây tạng : thogs-med-kyi bdud) : đó là ba thứ nọc độc chính và năm thứ nọc độc phụ, tức là những dục vọng chính yếu và thứ yếu, những tư tưởng hay tư duy bấn loạn chưa được khắc phục, xâm chiếm tâm thức và gây ra khổ đau cho ta. Kinh sách gốc Hán gọi con ma này là Tâm ma.
 3. Ma khánh hỷ (tiếng Tây tạng : dga’-brod-kyi bdud) : đó là con ma đội lốt hân hoan, vui thích, thỏa mãn với chính mình, xem ta hơn cả mọi người, xúi dục ta bám víu vào những "kết quả" và "kinh nghiệm"thiền định đã thực hiện được và cho đấy là cao siêu, rồi trở nên hãnh diện, không chịu cố gắng tu tậpthêm. Kinh sách gốc Hán gọi con ma này là Thiện-căn ma.
 4. Ma kiêu căng (tiếng Tây tạng : snyems-byed-kyi bdud) : đó là con ma ngạo mạn, tự mãn, tự kiêu, tự đại. Đấy là bản chất căn bản của con ma mang tên là cái "ta", cái "tôi", cái "ngã". Kinh sách gốc Hán gọi con mà này là Tam-muội ma.
            Tôi năm nay đã ngoại thất tuần. Ở Việt Nam, từ lúc tấm bé đã nghe nói về ma, đọc truyện ma, kể chuyện  ma, qua các ngõ vắng về đêm đều ù té chạy vì sợ ma. Rồi qua Mỹ hơn 30 năm cũng nghe người ta nói, viết về ma, chụp hình được cả ma nhưng bản thân chưa hề thấy ma bao giờ. Thế nhưng có điều tức cười là, để mua vui cho đời, với tư cách một nhà văn, để ẩn dụ và triết lý, tôi cũng viết vài truyện ngắn về ma, hoàn toàn bịa đặt. Nay học Phật, tôi có ý nghĩ hoàn toàn khác về ma. Là người con Phật chúng ta nên và không nên:
1)      Không nên sợ ma. Ma khác với quỷ và yêu tinh - ma không bao giờ hại người. Vì thế chúng ta nên đối xử với ma như người còn sống. Theo giáo lý nhà Phật, ma là những oan hồn uổng tử không thể đầu thai hoặc vì chết oan ức, hoặc còn quyến luyến, hận thù, thương tiếc những gì có trước khi chết khiến thần thức u trệ không sao đầu thai được. Nghĩ cho cùng ma thật đáng thương, đáng cứu vớt.
2)      Nếu ma có hiện lên, chẳng qua là ma muốn giãi bày một tâm sự, một niềm u uẩn gì đó, một nguyện vọng gì đó, hoặc vì đói lạnh chứ không phải để hãm hại chúng ta. Tôi chưa bao giờ nghe nói ma hại người - mà chỉ có người hại người thôi.
3)      Không nên tìm thầy pháp, thầy bùa để trừ ma. Làm như thế là hủy hoại lòng Từ Bi. Đức Phật dạy chúng ta xót thương và cứu vớt muôn loài chúng sinh. Bồ Tát  Địa Tạng còn tìm vào địa ngục để độ cho những kẻ có tội mà. Ma nhiều khi chính là ông bà, cha mẹ, anh em, con cái chúng ta đã chết đi. Tại sao chúng ta không cứu vớt họ mà lại “trừ khử” họ?
4)      Do đó, khi thật sự thấy ma, bị ma ám, ma hành, chúng ta nên mời ni/sư tụng kinh siêu độ trong tinh thần Từ Bi/Giải Thoát của nhà Phật. Chư tăng/ni trong mọi khóa lễ đều cầu nguyện “Âm siêu dương thới”, tức người chết cũng cần được hưởng những gì tốt lành qua lời dạy của chư Phật.
Tuy nhiên có những thứ ma sau đây chúng ta phải cảnh giác, xa lánh hoặc diệt trừ, đó là:
-Ma túy cần phải diệt trừ vì nó tàn hại nhiều thế hệ thanh niên, gây tội phạm và băng hoại xã hội.
-Ma men cần phải xa lánh vì “rượu vào lời ra” hoặc không còn kiểm soát được đầu óc khiến lái xe giết người hàng loạt, đánh đập vợ con, gia đình đổ vỡ, bản thân sống như một kẻ tàn phế.
-Ma-cà-bông sống lang thang phóng đãng, phá làng phá xóm, vẽ bậy lên tường, ăn cắp ăn trộm, nghiện ngập xì ke ma túy khiến gây bất ổn xã hội.
-Ma-lanh là thủ đoạn khôn ngoan lặt vặt để thủ lợi khiến nhân cách trở nên xấu xa. 
-Ma bùn là có hành vi xấu, lén lút giống như “ngụy quân tử”.
-Thiên Ma hay Ma Ba Tuần cai quản cõi trời Tha Hóa Tự Tại (tầng trời thứ sáu) không tin vào chánh pháp, chấp thủ tà kiến tự ngã và thường đoạn kiến sâu nặng, không muốn có người tu đắc đạo thoát khỏi luân hồi trong ba cõi. Ma Ba Tuần trong thế gian này có thể  hiểu là người hoặc giàu có, trí thức, có quyền thế nhưng không tin chính pháp, phỉ báng và ngăn cản người tu học. Ma Ba Tuần cho rằng sống chỉ để hưởng thụ và không cần hướng thượng và cứu giúp mọi người và không tin luân hồi, nhân quả.
-Ma nữ là thứ ma cuối cùng nguy hại không sao lường hết được. Thời đại văn minh điện tử ngày nay có cả triệu ma nữ gọi là “gái sexy”, “hot girl”, ăn mặc hở hang, dâm ô, đóng phim sex, chụp hình phô bày cả bộ phận sinh dục để  kiếm tiền. Mở bất cứ trang báo điện tử nào ra cũng đều thấy hàng loạt, hàng loạt ma nữ được quảng cáo nhiệt tình. Loại ma nữ này xuất hiện trong cả các đại hội Liên Hoan Điện Ảnh, trình diễn thời trang ăn mặc gần như trần truồng, được dùng để quảng cáo bán hàng, ngụy trang qua các dịch vụ đấm bóp, du lịch (sex tour), phòng trà, quán nhậu ôm, cà-phê ôm, quán rượu. Lại còn có cả ma nữ ăn mặc hở hang lái xe đua lượn trên đường phố trong những ngày hội, rồi tự chụp hình đưa lên mạng lưới toàn cầu cho người ta xem. Các loại ma nữ này náo loạn thanh niên, thiếu nữ, đại gia, các chịnh trị gia… đã đành mà còn hủy hoại cuộc đời của nhiều nhà tu hành. Dính vào ma nữ coi như sự nghiệp tiêu tan, tiếng xấu để đời. Thế nhưng ma nữ là loại ma hấp dẫn,  đàn ông ông, con trai ai cũng thích lao vào. Ma nữ là loại ma không có trí tuệ và không biết xấu hổ. Mục đích chính của nó là phô bày thân thể để mời gọi đàn ông. Ngay Đức Phật trước khi thành đạo còn bị ma nữ não hại, nhưng ngài vượt qua được.
             Viết về chuyện ma, bàn tán về ma là chuyện ngàn đời nhiều khi chỉ để hù dọa trẻ con, mua vui, câu độc giả hay trám chỗ trên mấy tờ báo. Là người học Phật chúng ta không sợ ma chết mà sợ ma sống. Chính ma sống làm não loạn và làm xấu con người mà ma nữ là trở ngại chính trên bước đường tu hành. Ngài A Nam tí nữa cũng chết vì ma nữ. Cho nên người tu hành, từng giây, từng phút phải cảnh giác với ma nữ. Ma nữ là hình ảnh nổi bật của hai chữ Ái-Dục.
Nói chung, ma không có thật. Và nếu có thật thì chẳng có gì đáng sợ.. Nhưng nếu hiểu “ma” là chúa tể của dục vọng hay ham muốn của chính chúng ta….thì ma đó vô cùng đáng sợ, hãm hại chúng ta đã đành, mà còn hủy diệt luôn cả trái đất này.
Đào Văn Bình
(California ngày 10/1/2019)


Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có trụ sở đặt tại Geneva, được thành lập vào ngày 7 tháng 4 năm 1948 và hiện nay có 194 quốc gia thành viên. Công việc chính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là giúp các nước nghèo chống lại bệnh tật. Và để có khả năng làm được công việc này, WHO cần sự đóng góp của tất cả các quốc gia thành viên.(1)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.