Hôm nay,  

Nỗi Sợ và Cái Chết

06/11/201913:08:00(Xem: 5045)

Cái chết là nỗi sợ lớn nhất trong mọi nỗi sợ của con người. Tuy nhiên, có những người đã gắng vượt qua nỗi sợ, đi cạnh thần chết… để được Sống. Và, cũng có rất nhiều người, vì sợ đã chọn một cuộc sống… như đã Chết.

Có câu chuyện cười thời XHCN: “Giữa đêm, mật vụ KGB gõ cửa nhà một nhà văn Nga.

  • Ni-cô-lai Sa-ka-rốp có sống ở đây không?

  • Không.

  • Vậy anh tên gì?

  • Ni-cô-lai Sa-ka-rốp 

Gã mật vụ tức giận, trợn tròn mắt:

  • Sao vừa nãy mày nói mày không sống ở đây?

  • Thế các ông bảo Sống như thế này mà là sống à!”

***

Ở thời đại chúng ta, đặc biệt ở tại VN, nỗi sợ lớn nhất của bậc làm cha mẹ là sợ con mình gặp nguy hiểm. Chúng ta muốn bảo vệ chúng bằng mọi giá. Thế nhưng một nghịch lý đang xảy ra tại Hồng Kông, chưa bao giờ nhà tù ở đây lại giam nhốt nhiều tù nhân trẻ tuổi như vậy. Theo một bản tin của BBC có vào khoảng 2700 người biểu tình bị chính quyền bắt giữ thì trong đó có tới 750 em dưới 18 tuổi, trong số này lại có 104 em dưới 16 tuổi, và có em chỉ vừa 12 tuổi. 

Người Hồng Kông dũng cảm ư?

Không! họ sợ. Họ biết rằng họ đang phải đối đầu với một Trung Quốc hùng mạnh và tàn bạo. Họ cũng không che dấu nỗi sợ hãi của mình. Hàng ngày, họ hát với nhau, nói với nhau rằng họ đấu tranh vì nỗi sợ hãi trong đầu, và niềm hy vọng thúc họ tiếp tục tiến lên. Họ nắm tay các con của mình, cả những học sinh tiểu học, kéo chúng cùng ra đường. Họ dạy chúng phải biết đối mặt với nỗi sợ, phải kiên gan đạp trên nỗi sợ mà đi tới. Cuộc chiến đấu của họ như một bản trường ca tráng lệ về tự do.blank

Trên đời này không có gì là không thể, và không có cuộc chiến nào là hoàn toàn mới mẻ. Việt Nam đã từng phải đối đầu với một đế chế Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới. Ngày ấy, quân Mông Cổ đã chiếm được Turkestan, làm cỏ Trung Á, đuổi vua Hung-ga-ry, chiếm lĩnh nước Nga và kê ván trên đầu các tướng chỉ huy liên quân Nga mà mở tiệc… Có cái gì bảo đảm là Đại Việt sẽ không bị  bóp nát? Điều đặc biệt của quân dân Đại Việt ngày xưa và người Hồng Kông ngày nay là cách họ đối diện với nỗi sợ hãi của chính mình.

Tự do của nhân loại luôn luôn phải trả bằng hy sinh, bằng máu và nước mắt. Điều này cũng chứng minh một thực tế rằng dân tộc nào, cá nhân nào, không chịu trả giá thì họ không thể có, và không xứng đáng được sống trong một xã hội công bằng tươi đẹp. Bên cạnh đó, nếu bạn chưa một lần chịu mất mát hay đổ máu vì tự do, thì hãy nhớ chúng ta cũng đang thụ ơn những người đã ngã xuống cho tự do của chính mình.

Mỗi một cá nhân, mỗi một quốc gia đều có những trở ngại riêng như ngọn núi buộc mình phải vượt qua. Sở dĩ đa số người Hồng Kông không nhận mình là người Trung Hoa đại lục chỉ vì họ ghê sợ những gì ĐCSTQ gây ra cho người dân ở đại lục. Họ lao vào đấu tranh để gìn giữ bản sắc của mình. Họ cương quyết chống lại cái xấu, cái ác, để được sống còn và vươn tới ước mơ. Họ biết rằng họ không được quyền lùi bước, bởi khi họ thua cuộc, một lớp người khác sẽ sống dậy. Dưới sự lãnh đạo của ĐCSTQ những phẩm giá cao đẹp của con người sẽ không còn.

Có ai dám nói một dân tộc đã chiến thắng đế chế Nguyên Mông đến ba lần lại là những kẻ nhu nhược? Nhưng thử hỏi, ngày hôm nay có ai dám vỗ ngực tự xưng mình là con cháu của những chiến binh đã khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát” ?!

Hôm nay, người Hồng Kông nhìn thấy chính họ qua cô y tá bị trúng đạn túi đậu làm cô hỏng một mắt. Hàng nghìn người đã dùng bông băng để băng một mắt phải của mình và mang theo con mắt rỉ máu để xuống đường. Các tổ hợp y tế thì đình công vô thời hạn. Mai kia, người Hồng Kông sẽ chẳng khác gì chúng ta. Chẳng ai nhìn thấy mình qua hình ảnh tang thương của một ngư dân. Tôi không thấy chính mình là một tôi ngư dân, là một tôi dân oan, là một tôi nô lệ, … tôi sống không có một giá trị chuẩn mực. Tôi sống sợ hãi, ích kỷ, vơ vét, quơ quào,… từ một anh chủ tịch xã cho đến một Đô đốc Tư lệnh hải quân.

Hôm nay tuổi trẻ Hồng Kông xuống đường mang theo di thư trong túi áo. Sự khẳng định của họ làm thế giới xúc động. Tôi nghĩ đến nỗi cô đơn của các nhà hoạt động VN mà trào dâng niềm kính phục. Họ nhắc nhở tôi về sự tồn tại của con người với lịch sử. Từ một phụ nữ đơn phương chống BOT bẩn cho đến các nhà hoạt động đang bị cầm tù. Họ có sợ không? Tôi biết họ sợ, nhưng họ chọn hành động để thay đổi xã hội. Họ chọn cam go, chọn mất mát, để dựng lại những điều tốt đẹp từ những suy sụp hôm nay. Người dân ở các nước Cộng Sản trên thế giới đều đã phải trải qua thời gian cạn kiệt này. Nhưng Việt Nam có vượt qua được ngọn núi của mình hay không thì còn tùy thuộc vào sự lựa chọn của số đông – tức là sự lựa chọn của chính bạn.

Nói về nỗi sợ tôi lại nghĩ đến thi sĩ Paul Éluard. Paul không những nổi tiếng với những thi phẩm về tự do, ông còn là một người chiến đấu cho tự do của quê hương ông. Nếu như trong thời chiến tranh Nam Bắc, thỉnh thoảng chúng ta vẫn nhặt được truyền đơn thì người dân Pháp cũng thế. Trong suốt thời gian bị phát xít Đức chiếm đóng, máy bay của quân đồng minh Anh đã rải hàng ngàn truyền đơn xuống đất Pháp. Điều thú vị ở đây là những tờ truyền đơn ấy chính là bài thơ mang tên Liberté. Paul Éluard đã truyền cảm hứng cho nhân dân Pháp đứng dậy chống lại quân Nazi Đức.

Nhưng Paul cũng viết về nỗi sợ, cũng trăn trở về nỗi sợ như chúng ta. Tôi nghĩ tự do và nỗi sợ cũng giống như hai mặt của một đồng tiền. Chỉ khi nào bạn quyết định không tiếp tục giam mình trong sợ hãi, giây phút đó bạn sẽ là người tự do. 

Xin được khép lại bài viết ở đây bằng một bài thơ ít nổi tiếng của Paul Éluard. Tôi nhớ đến nó khi nhìn hình ảnh của cô gái trẻ bị trói tay bởi cảnh sát Hồng Kông. Liệu chúng ta có gì khác với người lính của tướng Franco không?

Bài thơ này Paul Éluard viết về tâm tư của một người lính chỉ vì sợ hãi đã chống lại đồng bào mình:

Tướng Franco đã bắt tôi gia nhập quân đội nên tôi trở thành một thằng lính đói rách ốm o.

Tôi không đào ngũ, tôi sợ, quý ngài biết đấy, tôi sợ họ bắn tôi,

Tôi sợ - cho nên, trong quân ngũ, tôi đã chiến đấu để chống lại công lý, chống lại tự do.

Dưới những tường thành ở Irún. Và cái chết cũng bắt lấy tôi như thế mà thôi.

“Lời Ghi Lên Bia Mộ Của Một Nông Dân Tây Ban Nha - Paul Éluard”

 

Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.