Hôm nay,  

Nước Mỹ và đàn cừu

27/03/202600:00:00(Xem: 828)

nuoc-my-va-dan-cuu
Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình. 
 
Kho tàng ngụ ngôn Aesop có hàng trăm câu chuyện, trong đó có hai hai câu chuyện sau đây đáng suy ngẫm trong tình hình hiện nay của nước Mỹ. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch.

Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.

Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình.

Trong xã hội hiện nay, biểu hiện của trạng thái vừa đa nghi vừa cả tin ấy không khó nhận ra. Một mặt, không ít người Mỹ xem vắc-xin như một thứ “thí nghiệm trên dân chúng”, dù các mũi chủng ngừa căn bản đã được chứng minh an toàn và hữu hiệu suốt nhiều thập niên.

Mặt khác, chính những người này lại yên tâm đưa vào người đủ loại thuốc tăng năng lực, dược phẩm bổ sung, “liệu pháp thải độc” không ghi rõ xuất xứ nguyên liệu, thiếu chứng minh khoa học. Người ta dè chừng những dòng tên hóa chất lắt nhắt dán trên nhãn thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng, nhưng làm lơ những quyết định cho phép doanh nghiệp xả thêm khói bụi, hóa chất vào không khí và nguồn nước – những thứ gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe gia đình và cộng đồng.

Ở lãnh vực tài chánh cũng vậy. Một số người không còn tin ngân hàng, quỹ đầu tư, hay hệ thống tài chính truyền thống. Các cuộc khủng hoảng tài chánh và các vụ bê bối của thị trường Wall Street đã khiến họ mất đi niềm tin, từ đó họ xem mọi thứ mang nhãn “chính thống” đều là trò dối trá. Quay lưng với những cơ chế chính thống có kiểm tra và giám sát, người ta đem tiền tiết kiệm cả đời đặt vào những dự án tiền mã hóa bấp bênh, các quỹ đầu tư mạo hiểm, những trò cá cược giả danh “tự do tài chính”, các tài khoản ẩn danh điều hành bởi những “chuyên gia tự xưng” trên mạng – những người giỏi biến lòng tham và nỗi sợ của người khác thành nghề kiếm sống.

Trong chính trị và đời sống công cộng, tình hình không khả quan hơn. Đa số người Mỹ không còn tin vào những cơ quan chuyên môn từng được xem là chỗ dựa uy tín: cơ quan kiểm soát dịch bệnh, viện nghiên cứu khoa học, trường đại học, báo chí chuyên nghiệp... Trong mắt họ, tất cả giờ chỉ là một “nhóm tinh hoa“ có “âm mưu lớn”, từ đó bất cứ điều gì từ nhóm này đưa ra đều mặc nhiên bị xem là đáng nghi ngờ. Ngược lại, những nhân vật sống nhờ nỗi sợ ấy – người dẫn podcast bán “thuốc giải độc”, những ‘youtuber’ rao bán tin giả, doanh nhân tung đồng tiền vàng mã nhân danh “cứu tương lai tài chính”, chính trị gia dựng sự nghiệp trên hoài nghi vắc-xin – lại được xem là những kẻ “dám nói thật”. Hơn ai hết, những kẻ trục lợi này hiểu rõ lợi ích của việc càng làm khán giả hoang mang, càng dễ kiếm tiền và củng cố quyền lực.

Trong bối cảnh này chính trị nước Mỹ ngày nay, các quyết định liên quan đến vắc-xin là ví dụ tiêu biểu. Khi người đứng đầu ngành y tế liên bang can thiệp để trang web của cơ quan đặc trách vắc-xin rút lại câu xác định “vắc-xin không gây tự kỷ”, thay bằng những dòng chữ lơ lửng, đó không chỉ là chuyện chỉnh sửa câu chữ, mà việc này gửi đi một tín hiệu: ngay cả những kết luận đã được củng cố bằng hàng loạt nghiên cứu lớn cũng có thể bị đặt lại dấu hỏi, nhất là khi điều đó ăn khớp với nỗi nghi ngờ sẵn có trong công chúng. Cùng lúc, bệnh sởi – từng được tuyên bố xóa sổ ở Mỹ – lại bùng phát ở nhiều tiểu bang, buộc những gương mặt như Mehmet Oz, vốn lâu nay nổi tiếng nhờ các tiết mục gieo lo âu trên truyền hình, phải quay lại màn ảnh với một giọng điệu khác hẳn: nài nỉ người dân “hãy đưa con đi tiêm chủng, chúng ta đã có sẵn vắc-xin”.


Hình ảnh một người từng góp phần bôi xóa ranh giới giữa khoa học và giải trí, nay lại đứng ra vá lại chiếc bình niềm tin chủng ngừa đã nứt vỡ – là một trong những cảnh tượng ngang trái của nước Mỹ hiện tại. Nó cho thấy: khi xã hội lạm dụng hoài nghi với những nguồn thông tin đáng tin cậy, thì đến lúc cần khôi phục lòng tin, ngay cả những nhân vật có thế lực cũng không còn đủ uy tín để thuyết phục nữa.

Đây không phải là chuyện ít thấy. Nhiều nhà nghiên cứu đã thử gọi tên trạng thái tâm lý – chính trị này là một kiểu “chủ nghĩa âm mưu mới”, nơi xã hội bị tẩu hỏa nhập ma với vô số cáo buộc vô căn cứ đến mức người ta không còn phân biệt được chuyện gì giả, chuyện gì thật, điều gì đúng, điều gì sai. Điểm đáng chú ý là những thuyết âm mưu mới ấy hiếm khi đưa ra kế hoạch thay thế hay vẽ ra mô hình nào tốt hơn. Chúng chỉ cần phá thối niềm tin của mọi người nhằm để lại một khoảng trống để dễ dàng thao túng. Cái “thay thế” thực sự chiếm chỗ, ngoài đời, là dược/thực phẩm chức năng không rõ công dụng, là súng ống và đồ ăn “ngày tận thế” chất đầy nhà, là đồng tiền kỹ thuật số đổi lấy tiền thật, là mất khả năng hiểu chuyện thực hư, đổi lại cái cảm giác ngây ngất tưởng rằng “mình hiểu bệnh tật và chính trị hơn bọn chuyên gia”.

Hannah Arendt, khi phân tích các phong trào toàn trị đã đề cập đến “hỗn hợp kỳ lạ giữa cả tin và hoài nghi” xuất hiện ở mọi tầng lớp. Những người trong lưới này vừa đủ cả tin để nuốt hết những huyền thoại được tô vẽ, vừa đủ hoài nghi để bác bỏ mọi bằng chứng ngược lại. Với kẻ giăng lưới, chỉ cần đủ lạnh lùng để sử dụng chính sự cả tin đó như một công cụ. Nước Mỹ hôm nay, trên nhiều mặt, đang vận hành trong chính thứ hỗn hợp tâm lý mà Arendt từng mô tả: người dân vừa tin quá nhiều vào những kẻ nói điều mình muốn nghe, vừa nghi quá mức mọi nguồn thông tin không khớp với thế giới quan của họ.

Trong một môi trường vừa nhẹ dạ vừa đa nghi như vậy, những phong trào như MAGA có quá nhiều thuận lợi. Từ nhiều năm nay, Donald Trump liên tục lặp lại những câu chuyện sai sự thật về “bầu cử bị đánh cắp”, “phiếu qua thư là gian lận”, “máy kiểm phiếu bị thao túng”, bất chấp kiểm phiếu lại, phán quyết của tòa và các báo cáo chính thức đều không tìm thấy chứng cứ như ông nói. Phần lớn lãnh đạo Đảng Cộng hòa không những không bác bỏ mà còn lặp lại, hoặc né tránh đối mặt với những lời nói dối đó, khiến chúng dần trở thành một thứ “chân lý phe mình” trong mắt nhiều cử tri.

Khi báo chí, tòa án, cơ quan bầu cử bị gán nhãn “fake news”, “kẻ thù nhân dân”, còn các kênh truyền thông và tài khoản chuyên gieo thuyết âm mưu lại được xem như nguồn tin “dám nói thật”, việc phân biệt đâu là sự kiện, đâu là hư cấu trở nên gần như bất khả. Những người ủng hộ Trump cho rằng chỉ có ông mới dám “nói thẳng nói thật”, bất chấp cách ông công kích người nhập cư, báo chí, đối thủ chính trị đầy mâu thuẫn và sai sự thật.

Dĩ nhiên, cánh tả Mỹ cũng không miễn nhiễm với thuyết âm mưu. Ở phe nào cũng có những người thích một lời giải thích đơn giản cho một thế giới phức tạp, chưa kể đổ lỗi cho người khác luôn dễ dàng hơn chấp nhận sự việc khó nuốt. Tự kỷ thì tại vắc-xin, bệnh tật thì tại “thực phẩm độc”, con cái “trở chứng” thì tại trường đại học và cái gọi là “woke” đã “tẩy não” chúng; còn chuyện không nhà, không việc, lạm phát – tất cả đều do người nhập cư gây ra. Cách giải thích “chỉ dựa vào một lý do” giúp người có đầu óc đơn giản vừa đỡ mệt vừa thấy mình thông thái, đồng thời mở toang cánh cửa cho định kiến và thù hằn.

Phần còn lại của câu chuyện thuộc về mỗi người. Trong một thế giới mà dữ liệu và luận thuyết tràn ngập, không ai có đủ thời gian để tự mình kiểm chứng mọi điều. Sớm muộn gì, mỗi người cũng phải chọn mình nên tin ai, nghi ai. Có lẽ đó là điểm khởi đầu ít ỏi còn lại cho nước Mỹ lúc này – và cho bất cứ xã hội nào đang trượt vào vùng nhẹ dạ – đa nghi.

Sau cùng, điều quyết định vẫn là bản lãnh của mỗi người trước câu chuyện thiệt hư.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Tham khảo: 1. “Gullible, Cynical America” của Adam Serwer, đăng trên The Atlantic ngày 9.3.2026. 2. The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt, A Lot of People Are Saying của Nancy Rosenblum & Russell Muirhead; 3. Bản tin về RFK Jr., dịch sởi và các tuyên bố gian lận bầu cử của Donald Trump trên The New York Times, PBS, Politico.

Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.