Hôm nay,  

Món Nợ Phải Trả

09/10/202600:00:00(Xem: 52)

Đảng-voi

Năm 1874, họa sĩ biếm họa Thomas Nast lần đầu dùng hình ảnh con voi để tượng trưng cho lá phiếu của Đảng Cộng Hòa. Trong tranh, con voi dường như chưa biết hết sức nặng của chính mình, đang bước qua những tấm ván tượng trưng cho cương lĩnh của đảng. Ảnh: Thomas Nast/Harper’s Weekly, 1874, Smithsonian Institution.

 
Người ta thường nói, giữ cơ nghiệp đã khó, giữ gia phong còn khó hơn. Trong chính trị cũng vậy. Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi thắng lại; có thể theo đuổi một chính sách sai lầm rồi sửa đổi; thậm chí có thể trải qua một thời kỳ suy yếu rồi vẫn có thể phục hồi. Nhưng khi một chính đảng bắt đầu đánh đổi những tiêu chuẩn từng làm nên danh nghĩa và uy tín của mình để đạt lợi ích trước mắt, cái mất đi là danh dự — thứ không thể tính bằng quyền hay bằng tiền.

Đảng Cộng Hòa Hoa Kỳ được thành lập năm 1856. Trong gần hai thế kỷ tồn tại, đảng này đã đưa nhiều chính khách kiệt xuất vào Tòa Bạch Ốc, từ Abraham Lincoln, Theodore Roosevelt, Dwight Eisenhower cho đến Ronald Reagan. Điều khiến tên tuổi họ được lưu lại không phải vì họ hoàn hảo hay họ luôn luôn đúng, mà vì họ hiểu đâu là giới hạn của quyền lực và đâu là trách nhiệm đi kèm với quyền lực.

Người ta có thể đồng ý hay phản đối các chính sách của họ, nhưng khó phủ nhận rằng các vị quốc trưởng này xem chức vụ tổng thống là việc công chứ không phải lợi tư; là sự ủy thác của quốc dân chứ không phải phần thưởng dành cho người chiến thắng. Họ có thể tham vọng, có thể kiêu hãnh, có thể phạm sai lầm, nhưng họ luôn giữ một ý niệm rõ ràng về phẩm cách của chức vụ mình đang nắm giữ. Đó là một phần của truyền thống chính trị Mỹ, và cũng là điều mà Đảng Cộng Hòa từng xem như niềm hãnh diện của mình.

Bởi vậy, sự lựa chọn mà đảng này thực hiện gần đây không thể xem như một biến cố chính trị thông thường. Nó là một bước ngoặt. Nói cho đúng hơn, đó là một cuộc ly khai với những mực thước từng làm nên bản sắc của Đảng Cộng Hòa.

Đảng Cộng Hòa không suy yếu vì Donald Trump xuất hiện. Donald Trump xuất hiện vì Đảng Cộng Hòa đã chấp nhận hạ thấp những tiêu chuẩn mà chính họ từng xem là cột trụ căn bản.

Điều hôm qua bị xem là không xứng đáng với chức vụ tổng thống, hôm nay có thể được giải thích là “phong cách.” Điều hôm qua bị coi là vượt quá giới hạn, hôm nay trở thành sức mạnh “chiến đấu.” Điều mà một tổng thống Dân Chủ làm sẽ bị lên án, một tổng thống Cộng Hòa làm lại có thể được bỏ qua.
Cái giá lớn nhất của sự lựa chọn ấy không phải là Donald Trump đã thay đổi Đảng Cộng Hòa. Mà là Đảng Cộng Hòa đã thay đổi chính mình để có thể tiếp tục chấp nhận Donald Trump.

Điều đó cũng có nghĩa rằng không thể giải thích hiện tượng Trump như một tai nạn. Tai nạn là chuyện xảy ra ngoài ý muốn. Ở đây, Donald Trump đã đi qua mọi tầng nấc sàng lọc của một chính đảng lớn, từ các cuộc bầu cử sơ bộ cho đến đại hội đảng, từ cử tri cơ sở cho đến những người có ảnh hưởng nhất trong bộ máy lãnh đạo. Nếu gọi đó là một tai nạn âu quá coi nhẹ vai trò của những người góp phần tạo ra nó.

Hiện tượng Trump không phải từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của những quyết định được thực hiện có ý thức, hết quyết định này đến quyết định khác. Thoạt đầu chỉ là một số người đặt cược vào ông Trump như một hành động nhất thời. Sau đó là những người nghĩ rằng có thể sử dụng ông như một công cụ chính trị. Cuối cùng là cả một hệ thống dần dần thích nghi với sự hiện diện của ông, rồi xem điều bất thường trở thành bình thường.

Trong tiến trình ấy, trách nhiệm không chỉ thuộc về một cá nhân. Không một chính khách nào, dù tài giỏi hay nhiều tham vọng đến đâu, có thể làm thay đổi hướng đi của một chính đảng lớn nếu không được tiếp sức bởi hàng ngàn viên chức dân cử, những người gây quỹ, những nhà hoạt động, những cây bút bênh vực và hàng chục triệu lá phiếu. Trumpism là sản phẩm của Donald Trump. Nhưng Trumpism cũng là sản phẩm của những người đã chấp nhận Donald Trump.

Sự thật ấy có thể gây khó chịu cho nhiều người. Nhưng sự thật chính trị thường có tính cách đơn giản như vậy. Không có hiện tượng nào ở tầm vóc lớn mà chỉ do một người tạo ra. Và cũng không có sai lầm nào đủ lớn mà không có sự góp phần của rất nhiều người khác.

Tuy nhiên, lịch sử không đứng yên. Mọi thời đại chính trị dù mạnh yếu thế nào rồi cũng đến lúc phải sang trang.

Nước Mỹ hôm nay dường như đang bước vào một thời điểm như thế. Một phần vì quy luật quyền lực. Nhiệm kỳ thứ hai của bất kỳ vị tổng thống nào cũng là lúc những người kế vị bắt đầu xuất hiện. Khi một thời đại còn chưa kết thúc, cuộc tranh giành ảnh hưởng cho thời đại kế tiếp thường đã âm thầm khởi sự. Các chính khách có tham vọng bước vào Tòa Bạch Ốc bắt đầu hoạt động nhiều hơn, lên tiếng nhiều hơn, xuất hiện nhiều hơn. Bề ngoài họ vận động cho đảng mình; thực chất họ cũng đang vận động cho chính họ.

Nhưng còn một yếu tố khác mà không ai có thể thương lượng được.

Đó là thời gian.

Thời gian vốn công bằng một cách lạnh lùng. Nó không cần biết người ấy đang nắm bao nhiêu quyền lực. Nó không bận tâm người ấy có bao nhiêu kẻ trung thành. Nó chỉ âm thầm làm công việc của mình. Donald Trump hôm nay không còn là Donald Trump của mười năm trước. Điều đó không cần đối thủ chính trị nói ra. Ai quan sát cũng có thể tự nhận thấy.

Chính vì vậy mà trong nội bộ Đảng Cộng Hòa, câu hỏi về thời kỳ hậu Trump đã bắt đầu được đặt ra. Điều đáng chú ý không phải là chuyện ấy xảy ra. Điều đáng chú ý là nó xảy ra sớm hơn nhiều người tưởng.

Mới cách đây không lâu, bất đồng công khai với Donald Trump gần như đồng nghĩa với việc tự khóa cánh cửa tương lai chính trị của mình. Marjorie Taylor Greene, Thomas Massie và những người từng bước ra khỏi hàng ngũ đều đã hiểu cái giá của việc ấy.

Nhưng đó là chuyện của hôm qua.

Đến cuối tháng Chín năm nay, ít nhất 17 dân cử Cộng Hòa đương nhiệm hoặc ứng cử viên trong những cuộc tranh cử Quốc Hội và thống đốc đã công khai kêu gọi chấm dứt chiến tranh Iran hoặc tìm cách giới hạn quyền tiến hành chiến tranh của Tổng Thống. Một năm trước, một sự phản kháng tập thể như vậy gần như không thể tưởng tượng.

Những dấu hiệu khác cũng xuất hiện ở những nơi không liên quan trực tiếp đến chiến tranh.

Tại Florida, Byron Donalds, người từng đặt sự hậu thuẫn của Trump ở vị trí nổi bật trên trang vận động tranh cử thống đốc, đã sửa lại trang mạng của mình. Những lời nhắc đến Trump biến mất. Tấm hình chụp với Trump cũng không còn. Khẩu hiệu thực hiện “chương trình nghị sự của Trump” được thay bằng những vấn đề gần với cử tri hơn như giá sinh hoạt và bảo hiểm.

Byron Donalds vẫn nói ông hãnh diện được Trump ủng hộ. Chính vì vậy, sự thay đổi càng đáng chú ý. Ông không đoạn tuyệt với Trump. Ông chỉ không để Trump đứng ngay giữa sân khấu.

Tại Kansas, Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Roger Marshall, lâu nay là người ủng hộ chính sách di trú cứng rắn, đã công khai phê bình cách ICE thi hành các cuộc bố ráp tại tiểu bang mình. Ông trách rằng giới công lực địa phương không được báo trước, và các cuộc bố ráp đã gây xáo trộn lớn cho cộng đồng và thương nghiệp.

Tại Florida, Dân Biểu Cộng Hòa María Elvira Salazar còn đi xa hơn. Trong một quảng cáo vận động, bà nhìn thẳng vào ống kính và nói với Tổng Thống Trump rằng một số biện pháp thi hành luật di trú của ông đã “đi quá xa”.  Bà cảnh cáo rằng những cử tri gốc Hispanic từng giúp ông trở lại Tòa Bạch Ốc năm 2024 nay cảm thấy bị phản bội.

Không một trường hợp riêng lẻ nào đủ để chứng minh một thời đại đã kết thúc. Trong chính trị, lòng trung thành thường có một dụng cụ đo rất chính xác: khoảng cách với quyền lực. Khi quyền lực đang lên, người ta tranh nhau đứng gần. Khi xuống, khoảng cách bỗng trở thành một tài sản.

Nhưng nếu giải thích hiện tượng ấy bằng tuổi tác của Donald Trump hay bằng những cuộc thăm dò dư luận đang thay đổi thì vẫn chưa đủ.

Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ khác.

Nhiều người trong Đảng Cộng Hòa không phải không biết.

Sai lầm của họ không nằm ở chỗ bị đánh lừa. Trái lại, phần đông hiểu rất rõ con người và phẩm cách Donald Trump. Nếu không hiểu, người ta còn có thể viện dẫn sự lầm lẫn. Đằng này, nhiều người nhìn thấy vấn đề từ rất sớm nhưng vẫn chấp nhận vì tin rằng quyền lợi thu được sẽ lớn hơn hậu quả phải gánh chịu.

Nói cách khác, đây không phải là thất bại của nhận thức mà là thất bại của sự phán đoán.

Họ thấy những nguy cơ nhưng nghĩ rằng mình có thể kiểm soát được chúng. Họ thấy những biểu hiện bất ổn nhưng tin rằng đó là cái giá phải trả để đạt được những mục tiêu khác - những vị thẩm phán theo khuynh hướng bảo thủ, những chính sách giảm thuế, những chiến thắng bầu cử hay đơn giản là sự tồn tại của chính họ trong nội bộ đảng.

Họ cho rằng có thể nhận lấy cái lợi mà không phải trả cái giá.

Đó là một lối tính toán rất quen thuộc trong chính trị. Người ta thường tự nhủ cứ vượt qua cây cầu trước mặt rồi hãy tính bước tiếp theo. Điều người ta quên là chính trị cũng như mọi chuyện khác ở đời, không có bữa ăn nào hoàn toàn miễn phí. Một chính đảng có thể tạm thời thắng cử nhờ hy sinh những nguyên tắc từng tạo nên thanh thế của mình. Điều họ quên là đến một lúc nào đó, chính thắng lợi ấy sẽ trở thành món nợ phải thanh toán.

Khoảnh khắc đó dường như đang đến.

Đối với những người đang chuẩn bị cho cuộc đua tổng thống năm 2028, câu hỏi khó nhất có lẽ không phải là họ sẽ làm gì cho nước Mỹ trong tương lai, mà là họ đã làm gì trong những năm vừa qua.

Khi nhìn thấy những điều mà hôm nay họ gọi là sai lầm, lúc đó họ đã nói gì?

Khi nhận ra những nguy cơ mà ngày nay họ thừa nhận là có thật, lúc đó họ đã hành động ra sao?

Khi phải chọn giữa nguyên tắc và quyền lợi chính trị, họ đã chọn điều gì?

Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi lại thắng. Quyền lực mất đi có thể giành lại. Nhưng khi một chính đảng tự miễn cho mình khỏi những mực thước đạo đức, trách nhiệm và phẩm cách từng làm nên cốt cách, niềm kiêu hãnh và kim chỉ nam của chính mình, cái mất đi khó lấy lại.

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

Món nợ lớn nhất mà thời đại Trump để lại cho Đảng Cộng Hòa, có lẽ, chính là cái giá của sự đổi chác ấy.
 
Nina HB Lê

Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.